Luận án tiến sĩ: Nhân tố ảnh hưởng đến động lực kinh doanh nữ chủ DNNVV Tây Bắc - Vũ Quang Hưng (2020)
"Nghiên cứu về động lực kinh doanh của nữ chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tiểu vùng Tây Bắc, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định kinh doanh."
Luan An
Luận án tiến sĩ
Số trang
212
Thời gian đọc
32 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Động lực kinh doanh nữ chủ DNNVV tiểu vùng Tây Bắc
- Số trang:
- 212 trang
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Động lực kinh doanh nữ chủ DNNVV tiểu vùng Tây Bắc
Doanh nghiệp nhỏ và vừa do nữ làm chủ đóng vai trò then chốt đối với tăng trưởng kinh tế. Tại Việt Nam, tỷ lệ phụ nữ tham gia lực lượng lao động đạt mức 72%. Nhóm doanh nghiệp do phụ nữ điều hành chiếm gần một phần tư tổng số doanh nghiệp nhỏ và vừa cả nước. Tại địa bàn vùng cao, nữ chủ DNNVV miền núi tạo sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số. Hoạt động này trực tiếp giải quyết việc làm cho lao động địa phương. Thu nhập của lao động nữ nhờ đó tăng lên rõ rệt. Động lực khởi nghiệp của phụ nữ khu vực này gắn liền với mục tiêu xóa đói giảm nghèo. Đồng thời, hoạt động sản xuất kinh doanh giúp nâng cao vị thế của phụ nữ trong gia đình và xã hội. Nghiên cứu thực tiễn tại các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu và Hòa Bình phản ánh rõ nét bức tranh kinh tế đặc thù. Bối cảnh chuyển đổi kinh tế thị trường mang lại nhiều cơ hội lẫn thách thức cho nữ doanh nhân tiểu vùng Tây Bắc.
1.1. Bối cảnh phát triển của nữ chủ DNNVV miền núi
Khu vực miền núi phía Bắc có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt. Hạ tầng giao thông và dịch vụ vận tải còn nhiều hạn chế. Mặt bằng dân trí không đồng đều giữa các nhóm dân tộc. Dù vậy, tỷ lệ thành lập cơ sở sản xuất kinh doanh của phụ nữ vẫn duy trì đà tăng trưởng. Nữ chủ DNNVV miền núi tập trung chủ yếu vào nông nghiệp, chế biến nông sản và du lịch cộng đồng. Các mô hình này tận dụng tốt nguồn tài nguyên bản địa. Tuy nhiên, quy mô vốn đầu tư ban đầu thường ở mức rất khiêm tốn. Khả năng ứng dụng công nghệ số vào sản xuất và tiếp thị còn chậm. Các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế vùng cần đi sâu vào tháo gỡ điểm nghẽn hạ tầng. Môi trường kinh doanh thông thoáng sẽ tiếp thêm sức mạnh cho các cơ sở sản xuất tại chỗ.
1.2. Vai trò kinh tế xã hội của nữ doanh nhân Tây Bắc
Nữ doanh nhân tiểu vùng Tây Bắc giữ vai trò trung tâm trong công tác an sinh xã hội địa phương. Doanh nghiệp của họ ưu tiên tuyển dụng lao động nữ, người yếu thế và đồng bào thiểu số. Mô hình kinh tế này tạo nguồn thu nhập ổn định cho hàng nghìn hộ gia đình. Tỷ lệ đóng góp vào ngân sách cấp huyện và tỉnh ngày càng gia tăng. Sự thành công của họ góp phần thay đổi tư duy làm kinh tế truyền thống. Phụ nữ vùng cao dần chuyển từ tự cung tự cấp sang sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị. Tinh thần dám nghĩ dám làm lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng. Những tấm gương làm kinh tế giỏi khẳng định năng lực quản trị độc lập của người phụ nữ hiện đại.
II. Phân tích động lực đẩy và kéo kinh doanh của phụ nữ
Lý thuyết khởi nghiệp phân định rõ hai nhóm nhân tố tác động đến hành vi kinh doanh: động lực đẩy và kéo kinh doanh. Nhóm động lực đẩy xuất phát từ áp lực mưu sinh, tình trạng thất nghiệp hoặc thu nhập gia đình không đủ sống. Phụ nữ buộc phải mở cơ sở kinh doanh để trang trải chi phí sinh hoạt thường nhật. Ngược lại, nhóm động lực kéo xuất hiện từ khát vọng tự chủ tài chính, đam mê nghề nghiệp và mong muốn khẳng định bản thân. Tại các tỉnh miền núi, hai luồng động lực này thường xuyên đan xen lẫn nhau. Giai đoạn đầu, áp lực kinh tế thúc đẩy phụ nữ khởi sự kinh doanh. Khi doanh nghiệp đi vào quỹ đạo, động lực tự khẳng định vị thế cá nhân sẽ chiếm ưu thế. Động lực khởi nghiệp của phụ nữ chuyển biến tích cực theo từng nấc thang phát triển của doanh nghiệp.
2.1. Động lực đẩy từ áp lực thu nhập và việc làm
Thực tế cho thấy nhiều phụ nữ bắt đầu kinh doanh vì thiếu cơ hội việc làm chính thức. Tình trạng thiếu đất sản xuất nông nghiệp thúc đẩy họ chuyển hướng sang buôn bán nhỏ. Chi phí sinh hoạt, tiền học phí của con cái và áp lực phụng dưỡng cha mẹ tạo gánh nặng tài chính lớn. Khởi sự kinh doanh là giải pháp cứu cánh để tạo thu nhập tức thì. Động lực đẩy này mang tính cấp thiết và bị động. Người phụ nữ sẵn sàng làm việc với cường độ cao để vượt qua nghịch cảnh. Khi áp lực tài chính giảm bớt, họ tích lũy dần kinh nghiệm buôn bán và quản lý dòng tiền. Đây là nền tảng bước đầu giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa do nữ làm chủ vượt qua giai đoạn sống còn.
2.2. Động lực kéo từ khát vọng tự chủ và tự khẳng định
Động lực kéo phản ánh mong muốn làm chủ vận mệnh kinh tế của cá nhân. Nữ giới hướng đến việc xây dựng mô hình kinh doanh độc lập để hiện thực hóa các ý tưởng sáng tạo. Họ muốn tự quản lý thời gian nhằm cân bằng giữa gia đình và sự nghiệp. Khát khao nâng cao vị thế bản thân trong cộng đồng thôi thúc họ mở rộng quy mô sản xuất. Nữ chủ doanh nghiệp tìm kiếm sự công nhận về năng lực quản trị từ đối tác và khách hàng. Tinh thần tự chủ này tạo ra sự kiên trì vượt trội khi gặp rủi ro thị trường. Khát vọng làm giàu chính đáng trở thành ngọn hải đăng định hướng chiến lược dài hạn cho doanh nghiệp.
III. Ứng dụng lý thuyết hành vi có hoạch định TPB mở rộng
Nghiên cứu ứng dụng thuyết hành vi có hoạch định TPB kết hợp cùng thuyết tự quyết trong khởi nghiệp nữ để giải thích căn nguyên hành vi điều hành. Mô hình TPB chỉ ra ba yếu tố then chốt: thái độ đối với hành vi kinh doanh, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Thái độ tích cực với thương trường củng cố niềm tin thành công của phụ nữ. Chuẩn mực chủ quan thể hiện sự ủng hộ từ gia đình, dòng họ và cộng đồng xung quanh. Nhận thức kiểm soát hành vi đo lường mức độ tự tin vào kỹ năng quản trị và nguồn lực sẵn có. Thuyết tự quyết bổ sung góc nhìn sâu sắc về nhu cầu tự chủ, năng lực cá nhân và sự gắn kết xã hội. Sự kết hợp lý thuyết này làm sáng tỏ tiến trình ra quyết định của nữ doanh nhân tiểu vùng Tây Bắc.
3.1. Thái độ và nhận thức kiểm soát hành vi kinh doanh
Thái độ cá nhân đóng vai trò tiền đề trong việc hình thành ý định khởi sự doanh nghiệp. Nữ giới có thái độ lạc quan thường nhìn nhận thử thách thị trường như cơ hội phát triển. Nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh năng lực ứng biến trước biến động giá cả và chuỗi cung ứng. Nữ doanh nhân có trình độ chuyên môn cao thể hiện sự tự tin vượt trội trong việc đàm phán hợp đồng. Họ chủ động tìm kiếm các khóa tập huấn về kế toán, quản trị nhân sự và chuyển đổi số. Niềm tin vào năng lực bản thân giúp kiểm soát tốt các rủi ro vận hành. Khi nhận thức kiểm soát hành vi ở mức cao, ý định kinh doanh nhanh chóng biến thành hành động quản trị thực tiễn.
3.2. Ảnh hưởng của chuẩn mực chủ quan và thuyết tự quyết
Chuẩn mực chủ quan tại khu vực miền núi chịu chi phối nặng nề bởi phong tục tập quán. Sự đồng thuận và hỗ trợ từ người chồng có ý nghĩa quyết định đối với quyết định kinh doanh của phụ nữ. Nếu gia đình phản đối, rào cản tâm lý sẽ làm suy giảm ý chí khởi nghiệp. Bên cạnh đó, thuyết tự quyết trong khởi nghiệp nữ nhấn mạnh nhu cầu nội tại về sự độc lập tư duy. Động lực nội tại này tạo ra sức bền tâm lý trước định kiến xã hội. Mối liên kết xã hội tích cực tạo động lực tinh thần to lớn. Mạng lưới gia đình vững chắc tiếp thêm sức mạnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa do nữ làm chủ bứt phá.
IV. Rào cản định kiến giới trong kinh doanh tại miền núi
Môi trường kinh doanh vùng cao tồn tại nhiều rào cản định kiến giới trong kinh doanh. Quan niệm gia trưởng truyền thống gắn chặt trách nhiệm nội trợ và chăm sóc con cái lên vai người phụ nữ. Gánh nặng kép này làm phân tán thời gian và năng lượng dành cho điều hành doanh nghiệp. Nữ chủ doanh nghiệp thường chịu sự hoài nghi về năng lực quản lý từ các đối tác thương mại. Họ gặp nhiều bất lợi khi tham gia các hoạt động giao thương bên ngoài địa phương. Sự thiếu hụt các dịch vụ hỗ trợ gia đình tại vùng sâu vùng xa càng làm trầm trọng thêm áp lực này. Việc nhận diện chính xác các rào cản văn hóa là cơ sở để thiết kế chính sách bình đẳng giới thực chất.
4.1. Gánh nặng kép giữa việc gia đình và quản trị doanh nghiệp
Nữ lãnh đạo doanh nghiệp tại miền núi đối diện với xung đột vai trò nghiêm trọng. Họ vừa phải điều hành hoạt động sản xuất vừa phải hoàn thành toàn bộ công việc nội trợ. Thời gian dành cho việc hoạch định chiến lược kinh doanh bị chia nhỏ. Tình trạng căng thẳng kéo dài ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe thể chất và tinh thần. Việc di chuyển xa để tìm kiếm thị trường tiêu thụ gặp nhiều trở ngại từ phía gia đình. Các chuẩn mực truyền thống khắt khe làm hạn chế phạm vi hoạt động của người phụ nữ. Để khắc phục điểm nghẽn này, sự chia sẻ trách nhiệm từ các thành viên nam giới trong gia đình giữ vai trò then chốt.
4.2. Định kiến văn hóa vùng cao đối với lãnh đạo nữ
Tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại dai dẳng trong một bộ phận cộng đồng miền núi. Nữ doanh nhân thường bị đánh giá thấp về khả năng quyết đoán và năng lực tài chính. Một số đối tác có tâm lý e ngại khi ký kết các hợp đồng kinh tế lớn với phụ nữ. Tiếng nói của nữ giới trong các hiệp hội ngành nghề chưa thực sự được coi trọng tương xứng. Rào cản định kiến giới trong kinh doanh thu hẹp cơ hội tiếp cận thông tin chính sách của họ. Thay đổi nhận thức xã hội đòi hỏi công tác truyền thông kiên trì và liên tục. Cần tôn vinh các mô hình kinh doanh tiêu biểu do phụ nữ lãnh đạo để xóa bỏ dần khoảng cách giới.
V. Nâng cao tiếp cận nguồn vốn tín dụng nữ doanh nhân
Vấn đề tiếp cận nguồn vốn tín dụng của nữ doanh nhân là nút thắt lớn nhất đối với sự tăng trưởng của doanh nghiệp nhỏ và vừa do nữ làm chủ. Phần lớn tài sản nhà đất có giá trị pháp lý đều đứng tên người chồng hoặc bố mẹ chồng. Nữ chủ doanh nghiệp thiếu tài sản thế chấp đạt chuẩn để vay vốn thương mại. Lãi suất vay ngân hàng còn cao so với tỷ suất lợi nhuận của ngành nông lâm sản địa phương. Đồng thời, mạng lưới vốn xã hội của nữ chủ doanh nghiệp chưa được khai thác đồng bộ để huy động nguồn lực thay thế. Việc hoàn thiện cơ chế bảo lãnh tín dụng vi mô là giải pháp cấp bách nhằm khơi thông dòng vốn cho vùng Tây Bắc.
5.1. Tháo gỡ nút thắt tài sản thế chấp và thủ tục vay vốn
Quy trình thẩm định tín dụng tại các ngân hàng thương mại còn rườm rà và phức tạp. Nữ chủ doanh nghiệp miền núi gặp khó khăn trong việc lập báo cáo tài chính và phương án kinh doanh chuẩn mực. Việc thiếu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên riêng cản trở cơ hội tiếp cận vốn lớn. Nhiều cơ sở đành phải vay vốn từ thị trường phi chính thức với chi phí lãi vay đắt đỏ. Các tổ chức tín dụng cần phát triển các gói vay tín chấp dựa trên dòng tiền thực tế của doanh nghiệp. Đơn giản hóa thủ tục hành chính giúp tiết kiệm thời gian và chi phí cho doanh nhân nữ. Các khóa hướng dẫn quản trị tài chính minh bạch cần được tổ chức định kỳ tại địa phương.
5.2. Phát triển mạng lưới vốn xã hội của nữ chủ doanh nghiệp
Mạng lưới vốn xã hội của nữ chủ doanh nghiệp bao gồm các mối quan hệ với đối tác, khách hàng, chính quyền và các tổ chức phụ nữ. Mạng lưới này cung cấp nguồn thông tin thị trường, kinh nghiệm quản trị và cơ hội hợp tác kinh doanh quý giá. Tham gia các hiệp hội doanh nghiệp giúp phụ nữ mở rộng liên kết tiêu thụ sản phẩm. Vốn xã hội còn là kênh huy động vốn nhàn rỗi từ bạn bè và người thân với lãi suất ưu đãi. Sự tương trợ lẫn nhau giữa các nữ chủ doanh nhân tạo nên sức mạnh cộng hưởng bền vững. Xây dựng các câu lạc bộ nữ doanh nhân tại từng huyện, tỉnh là giải pháp then chốt để củng cố nguồn vốn vô hình này.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (212 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộ1 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài ĐLKD qua việc tạo lập và duy trì DN là động lực cho phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Một nền kinh tế phát triển được là nhờ phát triển về cả số lượng và chất lượng các DN. Carree and Thurik (2003) chỉ ra rằng có mối quan hệ chặt chẽ giữa việc tạo lập DN mới với tăng trưởng kinh tế vùng và địa phương.
Những nơi có tỷ lệ thành lập và duy trì DN cao thường có tốc độ phát triển kinh tế cao. Các DN được thành lập, duy trì và phát triển ngoài việc đóng góp vào GDP của nền kinh tế còn tạo ra nhiều việc làm cho xã hội, và làm giàu cho bản thân chủ DN. Chính vì lẽ đó, chính phủ các nước phát triển cũng như đang phát triển đều dành nhiều chính sách hỗ trợ và nỗ lực để thúc đẩy việc bắt đầu và điều hành DN trong giới trẻ, đặc biệt là giới nữ khuyến khích họ không đi làm thuê mà tự tạo việc làm, gia tăng cả về số lượng và chất lượng DN cho phát triển kinh tế (Estrin và cộng sự, 2009). Trong một vài thập kỷ gần đây, phụ nữ trở thành doanh nhân và theo đuổi con đường tự chủ kinh tế đã nổi lên như một xu hướng toàn cầu.
Các nhà lãnh đạo trên toàn thế giới luôn tìm cách để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước và vấn đề này liên quan đến phụ nữ - một nửa dân số thế giới - là giải pháp giúp giải phóng tất cả tiềm năng cho từng quốc gia. Phụ nữ ngày càng trở nên quan trọng đặc biệt trong sự phát triển kinh tế xã hội ở các đang phát triển, họ chiếm tỷ lệ đáng kể trong khu vực DNNVV. Theo ước lượng của IFC (2011) có từ 31 đến 38% tổng số DNNVV trong khu vực chính thức ở các nền kinh tế mới nổi do phụ nữ làm chủ. Họ đóng góp công sức vào sự tăng trưởng và phát triển kinh tế thông qua việc tham gia vào hoạt động thành lập, duy trì và phát triển DN của họ trong khu vực DNNVV.
Một số nghiên cứu gần đây cho thấy DN do phụ nữ làm chủ có xu hướng tăng nhanh hơn về số lượng so với các DN do nam giới làm chủ và chiếm tỷ lệ ngày càng cao trong các DNNVV (IFC, 2017). Theo GEM (2012) có 6,3% phụ nữ trên thế giới trong độ tuổi lao động có tham gia các hoạt động quản lý DN, trong khi đó có 19% các DNNVV được quản lý bởi phụ nữ. Với tầm quan trọng của DNNVV do phụ nữ làm chủ, thúc đẩy sự hình thành và phát triển các DN này là xu hướng chung của tất cả các nền kinh tế trên thế giới. Doanh nhân nữ ở các nước phát triển có lợi thế hơn so với các nước đang phát triển, họ được tiếp cận với sự hỗ trợ lớn hơn từ các cố vấn là hình mẫu phụ nữ và dễ dàng tiếp cận đào tạo chính thức hơn trong quá trình quản trị: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra.
Hơn nữa, việc tiếp cận vốn không khó, chấp nhận phụ nữ là chủ DN và phụ nữ tại nơi làm việc đã cải thiện đáng kể số lượng phụ nữ tại các quốc gia 2 phát triển (Bussey and Bandura, 1999). Tuy nhiên, phụ nữ ở các nước phát triển cũng phải đối mặt với những trở ngại nhất định, đây là những xã hội dựa trên các quy tắc cũ và để thay đổi nó cần một khoảng thời gian đủ dài. Trong bối cảnh nghiên cứu ở Việt Nam là nền kinh tế đang chuyển và vận hành bởi cơ chế kinh tế thị trường chưa lâu, các nguồn hỗ trợ tài chính cho DN mới không phong phú và rất khó tiếp cận, các điều kiện về văn hóa - xã hội cũng khác biệt so với các nước phát triển và một số nước khác trong khu vực, môi trường kinh doanh và thể chế cũng như nhận thức có nét đặc trưng riêng của một nước đang phát triển, ngoài ra thay đổi tư duy từ bao cấp sang kinh tế thị trường còn khá nặng nề, thích nghi chưa cao, nhất là ở các vùng miền kém phát triển. Các nghiên cứu về động lực để bắt đầu và điều hành một DN được thực hiện ở các nền kinh tế chuyển đổi nói chung và Việt Nam nói riêng rất ít trong khi rõ ràng có sự khác biệt rất lớn về môi trường, hoàn cảnh bắt đầu kinh doanh ở các nền kinh tế chuyển đổi (Baughn và cộng sự, 2006).
Đặc biệt, vị trí xã hội của doanh nhân ở các nước phương Tây không được nhìn nhận giống như ở các nước phương Đông, nhất là đối với doanh nhân nữ. Do vậy nhân tố tác động tới động lực để bắt đầu một DN ở Việt Nam có thể có điểm khác biệt so với các nước phát triển. Bên cạnh đó, văn hóa vùng miền, điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội khác nhau giữa miền núi, vùng nông thôn và thành thị cũng có thể đem lại kết quả khác biệt. Các DN do phụ nữ làm chủ và các doanh nhân nữ ở Việt Nam cũng được công nhận là động lực phát triển kinh tế.
Ở đây, có tới 72% phụ nữ tham gia lực lượng lao động (ILO, 2013). DNNVV do phụ nữ làm chủ nói riêng cũng có tầm ảnh hưởng quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu của ADB và HAWASME (2016) cho thấy DNNVV do phụ làm chủ chiếm ¼ số DNNVV đang hoạt động ở Việt Nam, một tỷ trọng cao hơn nhiều so với các nước ở khu vực Nam Á, Trung Đông, Bắc Phi và Cận Sahara. Các DN này có đóng góp tích cực trong giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động đặc biệt là lao động nữ đóng góp tích cực cho ngân sách nhà nước, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Ở khía cạnh xã hội DNNVV do phụ nữ làm chủ đã giải quyết việc làm cho nhiều lao động nữ giúp nâng cao vị thế người phụ nữ, DNNVV do phụ nữ làm chủ thực hiện chính sách và trách nhiệm xã hội thường tốt hơn các DN khác. Tuy nhiên, việc bắt đầu và điều hành một DN đối với phụ nữ ở Việt Nam còn thấp, phần lớn phụ nữ có xu hướng làm công ăn lương và “rất ít phụ nữ mong muốn thành lập doanh nghiệp mới” nếu có nhu cầu kinh doanh thì họ thường đăng ký mô hình hộ kinh doanh (Hà Thị Thúy, 2018). Luận giải cho tình trạng chỉ thích làm thuê, không thích làm chủ ở phụ nữ, có ý kiến cho rằng, mặc dù ngày càng nhiều phụ nữ tham gia vào các hoạt động kinh 3 doanh, nhưng phụ nữ vẫn phải đối mặt với nhiều rào cản khi bắt đầu và điều hành công việc kinh doanh của mình. Ở Việt Nam không ngoại lệ, phụ nữ Việt Nam có khuynh hướng tham vấn ý kiến gia đình khi cần đưa ra những quyết định kinh doanh quan trọng và coi sự nặng nề về trách nhiệm gia đình là trở ngại lớn đối với việc bắt đầu và điều hành trong kinh doanh.
Nhìn chung, phụ nữ cảm thấy yếu tố giới làm cho việc bắt đầu và điều hành công việc kinh doanh của họ trở nên khó khăn hơn nhiều (UNIDO và VCCI, 2010). Bên cạnh đó, phần lớn nữ sinh đến tuổi trưởng thành thay vì cần năng động sáng tạo để lập nghiệp, khởi nghiệp và tự chủ về kinh tế thì phần lớn họ lại đặt mình vào thế bị động là tìm kiếm “một chỗ dựa vững chãi”, “một bờ vai đủ rộng”, một nơi để nương tựa cho cuộc sống tương lai, vì lẽ đó đã kìm hãm sự thúc đẩy việc bắt đầu và điều hành một DN hay tự làm chủ của các nữ sinh. Hơn nữa, để bắt đầu công việc kinh doanh, một DN cần rất nhiều thứ để làm, khác xa với việc làm công ăn lương, nếu làm công chỉ lo một mảng công việc cụ thể thì khi làm chủ ngoài yếu tố chuyên môn còn đòi hỏi tố chất hay kiến thức, kỹ năng quản lý, tổ chức điều hành, đối ngoại, nhất là vấn đề về vốn, cần một môi trường kinh doanh thuận lợi, vượt qua rào cản về kinh tế, xã hội và văn hóa để thành công (Bùi Duy Hoàng và Trần Thị Minh Sơn, 2018). Đặc biệt, luận giải thêm cho vấn đề nhiều phụ nữ không thích tự làm chủ tại một bối cảnh cụ thể như Tiểu vùng TB, những phụ nữ nơi đây đối mặt với nhiều rào cản hơn các vùng miền có điều kiện trong việc bắt đầu và điều hành một DN (thông qua nghiên cứu sơ bộ), họ gặp nhiều trở ngại khi hoạt động thực tế, phần lớn xuất phát từ định kiến xã hội khiến họ chưa thực sự phát huy hết tiềm năng vốn có.
Bản thân là phụ nữ họ rất khó tiếp cận nguồn vốn do thiếu thông tin, thiếu kỹ năng lập kế hoạch, thiếu tài sản thế chấp, thiếu sự ủng hộ, hậu thuẫn từ chồng và gia đình; thiếu kỹ năng, kiến thức quản lý; trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và công nghệ còn hạn chế; khó khăn trong tiếp cận nguồn nhân lực chất lượng. Những rào cản này phần lớn là do hệ quả của việc trọng nam hơn nữ trong các gia đình, nhất là các gia đình người dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, phụ nữ, nữ doanh nhân Tiểu vùng TB cũng biết cách phát huy truyền thống dân tộc, khả năng thiên bẩm của người phụ nữ là cần cù, chịu khó và sáng tạo để thúc đẩy động lực trong việc bắt đầu và điều hành một DN cho bản thân, họ luôn hướng tới mục tiêu cao nhất và tận dụng mọi nguồn lực để hoàn thành mục tiêu đó. Bên cạnh đó, họ luôn có tinh thần lạc quan về cuộc sống, công việc, nền kinh tế và họ hướng về những hình mẫu nữ doanh nhân trong cộng đồng, những người có khả năng dẫn dắt, chỉ bảo họ trên con đường lập nghiệp và thay đổi nhìn nhận từ gia 4 đình, bạn bè, đồng nghiệp, cộng đồng đối với doanh nhân nữ, nhất là người dân tộc thiểu số và cùng hòa nhập vào xã hội văn minh, hiện đại.
Tiểu vùng TB bao gồm 04 tỉnh: Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Hòa Bình, nơi phát triển DNNVV là một trong những giải pháp để tạo động lực phát triển cho cả vùng được nhiều nghiên cứu trước đây chỉ ra. Song sự phát triển của DNNVV khu vực này chưa tương xứng với tiềm năng vốn có phần lớn do những khó khăn trong điều kiện địa hình, xuất phát điểm thấp.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Động lực kinh doanh nữ chủ DNNVV tiểu vùng Tây Bắc - Luận án tiến sĩ (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/quan-tri-kinh-doanh/quan-tri-marketing/dong-luc-kinh-doanh-nu-chu-doanh-nghiep-nho-vua-tay-bac-luan-an-tien-si
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Động lực kinh doanh nữ chủ DNNVV tiểu vùng Tây Bắc - Luận án tiến sĩ" nghiên cứu về vấn đề gì?
"Nghiên cứu về động lực kinh doanh của nữ chủ doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tiểu vùng Tây Bắc, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định kinh doanh."
Luận án "Động lực kinh doanh nữ chủ DNNVV tiểu vùng Tây Bắc - Luận án tiến sĩ" có bao nhiêu trang?
Luận án "Động lực kinh doanh nữ chủ DNNVV tiểu vùng Tây Bắc - Luận án tiến sĩ" có 212 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Động lực kinh doanh nữ chủ DNNVV tiểu vùng Tây Bắc - Luận án tiến sĩ" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.