Luận án xây dựng mô hình canh tác thích hợp trên đất phèn nhiễm mặn Hậu Giang

Luận án tiến sĩ nghiên cứu mô hình canh tác trên đất phèn nhiễm mặn tại Hậu Giang. Đề xuất giải pháp cải thiện sản xuất nông nghiệp bền vững.

Chuyên ngành
Khoa học Đất
Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án tiến sĩ

Năm xuất bản

Số trang

179

Thời gian đọc

27 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Thực trạng đất phèn mặn Hậu Giang và biến đổi khí hậu
Số trang:
179 trang
Trường:
Trường Đại học Cần Thơ
Chuyên ngành:
Khoa học Đất
Tác giả:
Năm:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Thực trạng đất phèn mặn Hậu Giang và biến đổi khí hậu

Biến đổi khí hậu gây tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp. Hiện tượng nước biển dâng và khô hạn kéo dài diễn biến phức tạp. Khu vực đất phèn mặn Hậu Giang đối mặt nguy cơ suy giảm chất lượng đất nghiêm trọng. Mùa khô kéo dài làm nồng độ mặn tăng cao trong các hệ thống sông ngòi. Nguồn nước ngọt từ thượng nguồn suy giảm mạnh khiến việc tưới tiêu khó khăn. Đất sản xuất bị thu hẹp diện tích canh tác truyền thống do phèn mặn bốc lên. Các địa bàn như xã Lương Nghĩa, Vĩnh Viễn A và Hỏa Tiến chịu áp lực nặng nề. Nồng độ muối trong nước kênh rạch vượt ngưỡng an toàn cho cây lúa sinh trưởng. Tầng đất phèn tiềm tàng xuất hiện nông ở độ sâu từ 0 đến 50 cm. Đất rất dễ bị xì phèn khi gặp điều kiện khô hạn gay gắt. Canh tác chuyên lúa gặp nhiều rủi ro và suy giảm năng suất rõ rệt. Việc đánh giá hiện trạng đất đai là yêu cầu cấp thiết để tái cơ cấu sản xuất.

1.1. Diễn biến xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long

Hiện tượng xâm nhập mặn vùng đồng bằng sông Cửu Long ngày càng gay gắt. Mặn xâm nhập sâu vào nội đồng theo các đợt triều cường lớn trong năm. Thời gian nhiễm mặn kéo dài từ tháng hai đến cuối tháng tư hàng năm. Độ dẫn điện EC của nước kênh trong mùa khô dao động ở mức rất cao. Giá trị EC đo được đạt từ 5,6 đến 16,0 mS/cm tại nhiều điểm khảo sát. Đỉnh mặn xuất hiện tập trung vào giai đoạn cuối mùa khô hạn. Khu vực huyện Long Mỹ và thành phố Vị Thanh chịu ảnh hưởng trực tiếp. Nước mặn tràn qua hệ thống kênh chính vào sâu trong kênh nội đồng. Cường độ mặn thay đổi thất thường theo từng chu kỳ mùa vụ. Nguồn nước ngọt phục vụ tưới tiêu lúa vụ ba trở nên khan hiếm. Hoạt động lấy nước canh tác gặp nhiều trở ngại lớn. Sản xuất nông nghiệp cần thích ứng với quy luật mặn hàng năm.

1.2. Đặc điểm hóa lý của tầng đất phèn tại địa phương

Đất phèn tại vùng nghiên cứu có đặc tính lý hóa biến động phức tạp. Tầng phèn xuất hiện chủ yếu ở độ sâu nông từ 0 đến 50 cm. Đất có phản ứng chua mạnh và giải phóng nhiều độc chất nhôm và sắt. Tỷ lệ bazo bão hòa natri (ESP) dao động trong khoảng từ 0,1 đến 14,4%. Kết quả phân tích cho thấy đất chưa xảy ra hiện tượng sodic hóa. Khả năng giữ nước và dưỡng chất của đất bị suy giảm do độc chất phèn. Mùa khô làm nứt nẻ mặt ruộng và đẩy nhanh quá trình mao dẫn phèn lên tầng mặt. Tích lũy muối trong đất vẫn ở mức tương đối thấp so với nước mặt. Cây trồng đối mặt với tác động bất lợi kép từ độ chua và độ mặn. Cần thiết lập chế độ giữ ẩm hợp lý để ngăn ngừa hiện tượng xì phèn. Đánh giá tính chất đất giúp xây dựng quy trình canh tác phù hợp.

II. Kỹ thuật cải tạo đất phèn mặn phục vụ sản xuất vụ mùa

Áp dụng kỹ thuật cải tạo đất phèn mặn giúp ổn định năng suất cây trồng. Quy trình xử lý đất đòi hỏi sự đồng bộ giữa hệ thống thủy lợi và thổ nhưỡng. Cần kiểm soát chặt chẽ nguồn nước kênh trước khi đưa vào đồng ruộng. Bón vôi nông nghiệp là bước đệm quan trọng để nâng cao độ pH của đất. Liều lượng vôi cần căn cứ chính xác vào mức độ chua của từng loại đất. Cày xới đất đúng kỹ thuật hạn chế việc đưa tầng phèn sâu lên bề mặt. Giữ ẩm bề mặt ruộng giúp ngăn chặn hiện tượng oxy hóa tầng sinh phèn. Việc bổ sung phân hữu cơ hoai mục tăng cường hệ vi sinh vật có ích. Đất cải tạo tốt tạo môi trường thuận lợi cho bộ rễ cây hấp thu dinh dưỡng. Hiệu quả thau chua rửa mặn phụ thuộc lớn vào hệ thống mương rãnh tiêu thoát.

2.1. Biện pháp rửa mặn hạ phèn trong nông nghiệp hiện đại

Biện pháp rửa mặn hạ phèn trong nông nghiệp mang lại hiệu quả bền vững. Nông dân tận dụng nguồn nước ngọt đầu mùa mưa để tiêu rửa đất ruộng. Hệ thống cống đập ngăn mặn được vận hành linh hoạt theo con nước lớn ròng. Kênh mương nội đồng được nạo vét thông thoáng nhằm tiêu thoát nước nhanh. Nước ngọt đưa vào ruộng giúp hòa tan lượng muối tích tụ và độc chất phèn. Nước chua mặn sau đó được tháo ra ngoài theo hệ thống rãnh tiêu nội đồng. Quá trình rửa đất diễn ra liên tục qua nhiều đợt tháo và xả nước định kỳ. Độ chua của đất giảm rõ rệt sau các chu kỳ tiêu thoát nước hiệu quả. Bề mặt đất được giải phóng khỏi các ion độc hại như nhôm tự do và sắt. Cây trồng sinh trưởng thuận lợi hơn trên nền đất đã được làm sạch phèn mặn.

2.2. Bổ sung dinh dưỡng đạm và lân hữu dụng cho đất phèn

Đất phèn thường cố định lân và gây thiếu hụt nguồn đạm hữu dụng nghiêm trọng. Việc bổ sung lân nung chảy giúp cố định độc chất nhôm và sắt di động. Phân lân cung cấp dưỡng chất thiết yếu kích thích bộ rễ phát triển sâu. Hàm lượng lân hữu dụng trong đất gia tăng đáng kể sau các vụ xử lý. Dinh dưỡng đạm cần được bón cân đối theo từng giai đoạn phát triển của cây. Sử dụng đạm hạt vàng hoặc đạm bọc polymer giúp hạn chế thất thoát dưỡng chất. Canh tác luân canh cây họ đậu giúp cố định nguồn đạm sinh học tự nhiên. Hoạt tính vi sinh vật đất được cải thiện rõ rệt qua các mùa vụ luân canh. Nguồn đạm và lân hữu dụng hỗ trợ cây trồng chống chịu hạn mặn tốt hơn. Đất ruộng phục hồi độ màu mỡ sau các chu kỳ canh tác liên tục.

III. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng đất phèn thích ứng hạn mặn

Chủ động chuyển đổi cơ cấu cây trồng đất phèn là hướng đi chiến lược dài hạn. Mô hình chuyên canh ba vụ lúa truyền thống không còn mang lại hiệu quả cao. Hiện tượng xâm nhập mặn mùa khô gây thiếu hụt nguồn nước ngọt cho cây lúa. Nông dân chuyển đổi linh hoạt sang các loại cây trồng cạn có nhu cầu nước thấp. Mô hình luân canh giúp cắt đứt nguồn dịch hại và sâu bệnh tồn dư trong đất. Đất ruộng được phơi ải và cải thiện độ tơi xốp sau các vụ trồng hoa màu. Cấu trúc mùa vụ linh hoạt giúp giảm thiểu thiệt hại kinh tế do thiên tai. Thu nhập từ cây trồng cạn cao hơn đáng kể so với canh tác lúa vụ ba. Hiệu quả sử dụng tài nguyên đất và nguồn nước ngọt được tối ưu hóa tối đa. Quy trình chuyển đổi cần bám sát bản đồ phân vùng thích nghi đất đai.

3.1. Lựa chọn nhóm cây trồng chịu phèn mặn có hiệu quả cao

Nghiên cứu tập trung vào nhóm cây trồng chịu phèn mặn phù hợp với mùa khô. Đậu xanh, bắp nếp, dưa hấu và khoai lang cho kết quả thực nghiệm khả quan. Các giống cây này sinh trưởng tốt trên nền đất phèn nhẹ và phèn trung bình. Đậu xanh có thời gian sinh trưởng ngắn và khả năng cải tạo đất xuất sắc. Dưa hấu mang lại giá trị thương phẩm cao trong giai đoạn mùa khô hạn mặn. Bắp nếp tiêu thụ ít nước tưới và dễ dàng tiêu thụ trên thị trường địa phương. Khoai lang phát triển củ thuận lợi trên các luống đất cao ráo thoát nước tốt. Cây trồng cạn giúp tận dụng tối đa ẩm độ đất còn lại sau vụ lúa đông xuân. Khả năng chống chịu stress mặn của các giống cây đã được kiểm chứng thực tế. Cơ cấu cây màu đa dạng giúp phân tán rủi ro kinh tế cho nông hộ.

3.2. Hiệu quả kinh tế từ mô hình luân canh lúa và hoa màu

Bốn mô hình luân canh lúa và hoa màu thực nghiệm mang lại lợi nhuận vượt trội. Các công thức gồm đậu xanh - lúa - dưa hấu và bắp nếp - lúa - bắp nếp. Mô hình lúa - dưa hấu - lúa và khoai lang - lúa - bắp nếp cũng rất hiệu quả. Năng suất các loại hoa màu đạt mức tương đương các vùng chuyên canh màu. Chi phí đầu tư phân bón hóa học giảm nhờ tận dụng nguồn hữu cơ tồn dư. Tỷ suất lợi nhuận biên tăng từ 1,6 đến 4,5 lần so với độc canh lúa hai vụ. Nông dân tăng thu nhập thực tế trên cùng một đơn vị diện tích đất sản xuất. Vòng quay vốn đầu tư diễn ra nhanh chóng và ít rủi ro hơn canh tác truyền thống. Luân canh màu nâng cao giá trị gia tăng trên đất phèn nhiễm mặn địa phương. Mô hình được cộng đồng người dân đồng thuận và từng bước nhân rộng.

IV. Phát triển mô hình lúa tôm Hậu Giang gia tăng giá trị

Phát triển mô hình lúa tôm Hậu Giang tạo bước đột phá cho nông nghiệp sinh thái. Mô hình kết hợp hài hòa giữa trồng trọt và thủy sản theo chu kỳ nguồn nước. Mùa mưa tận dụng nước ngọt tự nhiên để canh tác lúa chất lượng cao. Mùa khô đón nguồn nước mặn kiểm soát để nuôi tôm càng xanh và tôm sú. Đây là phương thức canh tác thích ứng thông minh với biến đổi khí hậu. Mặt ruộng được luân phiên ngập mặn và ngập ngọt giúp làm sạch mầm bệnh. Đất ruộng được nghỉ ngơi và tái tạo độ phì nhiêu màu mỡ tự nhiên. Tôm tiêu thụ các sinh vật phù du và mùn bã hữu cơ sẵn có trên ruộng lúa. Nông dân hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật hóa học. Sản phẩm lúa gạo và tôm thương phẩm đều đạt tiêu chuẩn an toàn sinh học.

4.1. Khai thác tiềm năng nuôi trồng thủy sản nước lợ Hậu Giang

Ngành nuôi trồng thủy sản nước lợ Hậu Giang sở hữu nhiều tiềm năng bứt phá. Nguồn nước mặn xâm nhập vào mùa khô được chuyển hóa thành lợi thế kinh tế. Nông dân điều tiết nước mặn vào vuông nuôi qua hệ thống cống đập chủ động. Tôm sú và tôm càng xanh thích nghi tốt với độ mặn dao động từ 5 đến 12 mS/cm. Kỹ thuật quản lý môi trường nước ao nuôi được kiểm soát chặt chẽ hàng ngày. Việc đo độ mặn và độ kiềm của nước được thực hiện định kỳ và chính xác. Thủy sản nước lợ đem lại nguồn thu nhập cao vượt trội cho các hộ tham gia. Cơ sở hạ tầng thủy lợi từng bước được đầu tư đồng bộ phục vụ nuôi tôm. Vùng ven các trục kênh chính mở rộng diện tích thủy sản an toàn sinh học. Sản lượng tôm thương phẩm đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế địa phương.

4.2. Cơ chế tuần hoàn sinh thái giữa cây lúa và con tôm

Mối quan hệ tuần hoàn giữa lúa và tôm tạo nên hệ sinh thái nông nghiệp bền vững. Sau vụ nuôi tôm, gốc rạ lúa phân hủy tạo nguồn thức ăn tự nhiên dồi dào. Bộ rễ lúa giúp hấp thu các chất thải hữu cơ tồn dư dưới đáy ruộng nuôi. Quá trình rửa mặn trồng lúa vào mùa mưa giúp cắt đứt mầm bệnh cho vụ tôm. Môi trường đáy ruộng luôn giữ được trạng thái cân bằng sinh học lý tưởng. Nông dân giảm thiểu đáng kể chi phí xử lý đáy ao và hóa chất khử trùng. Năng suất lúa vụ mưa đạt mức cao nhờ lượng dinh dưỡng hữu cơ tích lũy. Con tôm phát triển khỏe mạnh, ít dịch bệnh và đạt tỷ lệ sống rất cao. Mô hình khép kín giúp bảo vệ tài nguyên đất và nguồn nước mặt lâu dài. Hiệu quả kinh tế kép nâng cao rõ rệt đời sống của người sản xuất.

V. Đa dạng mô hình nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu

Xây dựng mô hình nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu là giải pháp then chốt. Địa phương cần tích hợp đa dạng phương thức canh tác linh hoạt và đồng bộ. Bản đồ thích nghi đất đai cung cấp cơ sở khoa học để bố trí cây trồng hợp lý. Phân vùng sản xuất giúp phát huy tối đa lợi thế của từng tiểu vùng sinh thái. Khu vực nhiễm phèn nặng ưu tiên phát triển các loại cây ăn trái chịu phèn tốt. Khu vực giáp ranh mặn tập trung phát triển mô hình kinh tế nông thủy sản kết hợp. Ứng dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước giúp ứng phó tình trạng hạn hán mùa khô. Nông dân chủ động theo dõi lịch thời vụ và bản tin cảnh báo mặn kịp thời. Nông nghiệp tuần hoàn giảm phát thải khí nhà kính và tăng tính chống chịu. Hoạt động sản xuất phát triển theo hướng hiệu quả và bảo vệ môi trường.

5.1. Triển khai mô hình khóm Cầu Đúc kết hợp thủy sản ven kênh

Ứng dụng mô hình khóm Cầu Đúc kết hợp thủy sản tạo nguồn sinh kế vững chắc. Giống khóm Cầu Đúc nổi tiếng với khả năng chịu phèn và chịu hạn rất tốt. Liếp khóm được đắp cao ráo giúp cách ly bộ rễ khỏi tầng phèn ngập nước sâu. Hệ thống mương vườn khóm được tận dụng để nuôi cá nước ngọt hoặc tôm càng. Thủy sản tận dụng tốt nguồn thức ăn tự nhiên dưới bóng râm của mương liếp. Nông dân sử dụng nguồn nước mương tưới giữ ẩm cho cây khóm vào mùa khô. Mô hình mang lại nguồn thu nhập kép đều đặn quanh năm cho các nông hộ. Trái khóm Cầu Đúc đạt chất lượng thơm ngọt đặc trưng và có giá bán ổn định. Diện tích trồng khóm xen canh thủy sản ngày càng được mở rộng bền vững. Cảnh quan nông nghiệp sinh thái mở ra cơ hội phát triển du lịch miệt vườn.

5.2. Giải pháp liên kết chuỗi giá trị và quy hoạch bền vững

Quy hoạch vùng sản xuất gắn liền với liên kết chuỗi giá trị nông nghiệp. Hợp tác xã đóng vai trò cầu nối cung ứng vật tư và tiêu thụ sản phẩm cho xã viên. Doanh nghiệp bao tiêu hỗ trợ kỹ thuật và cam kết thu mua nông sản ổn định. Xây dựng chỉ dẫn địa lý cho nông sản vùng đất phèn mặn nâng cao giá trị. Hệ thống giao thông nội đồng và kho lạnh sau thu hoạch được đầu tư hoàn thiện. Đào tạo chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật giúp nâng cao năng lực nông dân. Cơ quan chuyên môn tăng cường giám sát môi trường và cảnh báo thiên tai sớm. Công trình đê bao khép kín được gia cố bảo vệ an toàn các vùng trọng điểm. Sự liên kết chuỗi tạo nền tảng vững chắc cho nông nghiệp thích ứng hiệu quả. Kinh tế nông thôn Hậu Giang phát triển theo hướng hiện đại và bền vững.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sĩ xây dựng mô hình canh tác phù hợp trên đất phèn nhiễm mặn trường hợp nghiên cứu tại xã lương nghĩa vĩnh viễn a và hỏa tiến của tỉnh hậu giang

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (179 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ LÊ HỒNG VIỆT XÂY DỰNG MÔ HÌNH CANH TÁC THÍCH HỢP TRÊN ĐẤT PHÈN NHIỄM MẶN: Trường hợp nghiên cứu tại xã Lương Nghĩa, Vĩnh Viễn A và Hỏa Tiến của tỉnh Hậu Giang LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH KHOA HỌC ĐẤT MÃ NGÀNH: 62 62 01 03 CÁN BỘ HƯỚNG DẪN PGs. CHÂU MINH KHÔI 2019 luan an TÓM LƯỢC Biến đổi khí hậu đang là thách thức lớn, có tác động trực tiếp đến đời sống kinh tế, xã hội và môi trường toàn cầu, trong đó Đồng bằng sông Cửu Long được dự báo sẽ chịu tác động rất lớn do sự gia tăng nhiệt độ, thay đổi về phân bố lượng mưa, hạn hán và nước biển dâng. Trong những năm tiếp theo, dự báo khô hạn sẽ đến sớm hơn kết hợp với nguồn nước sông Cửu Long ngày càng cạn kiệt sẽ dẫn đến sự xâm nhập mặn ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn, làm biến đổi các đặc tính hóa, lý, sinh học đất theo chiều hướng xấu đi. Tương tự các tỉnh ven biển khác ở Đồng bằng sông Cửu Long, sản xuất nông nghiệp tại tỉnh Hậu Giang đang chịu tác động của xâm nhập mặn, do đó cần thiết phải có các giải pháp thay đổi cơ cấu cây trồng và quản lý đất phù hợp giúp giảm rủi ro và ổn định thu nhập nông hộ.

Đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu xác định được hiện trạng xâm nhập mặn, các giải pháp hiệu quả để cải tạo đất lúa bị xâm nhiễm mặn, đánh giá đất đai và đề xuất các kiểu sử dụng đất phù hợp để từ đó xây dựng các mô hình canh tác thích ứng và cho hiệu quả cao trong điều kiện xâm nhiễm mặn tại tỉnh Hậu Giang. Nghiên cứu đánh giá hiện trạng xâm nhập mặn nước và đất sản xuất nông nghiệp được thực hiện tại huyện Long Mỹ và thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang. Mẫu đất và nước được thu tại 45 vị trí phân bố đều trên địa bàn ba xã Lương Nghĩa, Vĩnh Viễn A và Hỏa Tiến, là các khu vực chịu ảnh hưởng của xâm nhập mặn. Mẫu nước được thu từ các kênh chính và kênh nội đồng vào các thời điểm triều cường (2 lần/tháng) trong mùa khô, từ tháng 02 đến cuối tháng 4, liên tiếp trong hai năm 2012 và 2013.

Mẫu đất được thu ở độ sâu từ 0 đến 20 cm từ các ruộng canh tác lúa hoặc rau màu gần vị trí thu mẫu nước. Mẫu đất được thu vào hai thời điểm: giữa mùa khô (đầu tháng 3) và đầu mùa mưa (tháng 5) trong cùng năm khảo sát mẫu nước. Kết quả ghi nhận độ mặn (EC) nước kênh trong khu vực đê bao < 2 mS/cm vào đầu mùa khô và tăng cao vào cuối mùa khô với độ mặn được ghi nhận cao nhất đạt từ 5,6 – 7,5 mS/cm trên địa bàn 03 xã. Có sự biến động về độ mặn của nước kênh giữa các năm, trong đó độ mặn nước kênh tại 03 xã năm 2013 cao hơn năm 2012.

Vào cuối mùa khô năm 2013, EC nước kênh cao nhất đạt 16,0 mS/cm tại xã Lương Nghĩa, 12,0 mS/cm tại xã Vĩnh Viễn A và xã Hoả Tiến. Kết quả khảo sát cũng ghi nhận tích sự lũy mặn trong đất thấp. Đất tại đa số các vị trí thu mẫu có phần trăm baze bão hòa (ESP) dao động trong khoảng 0,1 đến 14,4%, cho thấy đất chưa bị “sodic hóa”. Nghiên cứu đánh giá thích nghi đất đai được thực hiện tại địa bàn ba xã trên nhằm đánh giá tiềm năng thích nghi đất đai đối với các mô hình canh tác trong điều kiện ảnh hưởng của phèn, mặn vào mùa khô.

i luan an Nghiên cứu đã khảo sát điều kiện tự nhiên và thu mẫu đất, nước cho việc phân tích các chỉ tiêu liên quan phèn và mặn. Kết quả cho thấy, đất phèn trong vùng nghiên cứu chủ yếu xuất hiện ở tầng nông (0 - 50 cm); xâm nhiễm mặn của nước thay đổi tùy năm với độ mặn và thời gian mặn khác nhau, thời gian mặn dài nhất là 3 tháng. Kết quả đánh giá đất đai về mặt tự nhiên theo quy trình của FAO (1976) cho thấy khu vực nghiên cứu chia thành 7 vùng thích nghi và hầu hết thích nghi từ trung bình đến thấp do tác động của nước bị nhiễm mặn và đất bị phèn hóa. Trên cơ sở đánh giá đặc tính đất, thực tế xâm nhập mặn và tính thích nghi của hệ thống canh tác lúa trên nền đất phèn bị xâm nhiễm mặn, đã xây dựng 4 mô hình canh tác thực nghiệm áp dụng luân canh cây trồng cạn trên nền đất lúa hai vụ gồm: đậu xanh – lúa – dưa hấu, bắp nếp – lúa – bắp nếp, lúa – dưa hấu – lúa và khoai lang – lúa – bắp nếp.

Hệ thống cây trồng được lựa chọn cho mỗi mô hình dựa vào đánh giá phân vùng thích nghi của các kiểu sử dụng đất. Các vụ trồng cây trồng cạn được thực hiện vào mùa khô do rủi ro thiếu nước tưới cho canh tác lúa và xâm nhập mặn. Mỗi mô hình có diện tích khoảng 1.000 m2, được thực hiện lặp lại ở 3 hộ liền kề nhau. Kết quả nghiên cứu cho thấy các loại cây trồng được lựa chọn luân canh đều có khả năng phát triển tốt trên các nhóm đất trong vùng nghiên cứu.

Các mô hình thực nghiệm lúa - màu cho thấy thích ứng với điều kiện đất đai, khí hậu tại địa bàn nghiên cứu thông qua các số liệu về năng suất và hiệu quả kinh tế cao hơn so với mô hình đối chứng (lúa – lúa). Tỷ suất lợi nhuận biên của các mô hình thực nghiệm dao động trong khoảng từ 1,6 – đến 4,5 lần so với mô hình chuyên canh lúa hai vụ. Nghiên cứu cũng thực hiện đánh giá ảnh hưởng của luân canh cây màu đến khả năng cải thiện hàm lượng đạm (N) hữu dụng, lân (P) hữu dụng trên nền đất canh tác lúa bị nhiễm phèn và chịu tác động của xâm nhập mặn tại 03 xã vùng nghiên cứu. Kết quả cho thấy hàm lượng N hữu dụng trong đất ở nghiệm thức luân canh lúa - màu có hàm lượng N hữu dụng (26,4 - 111,5 mg N/kg) cao khác biệt ý nghĩa thống kê so với nghiệm thức chuyên canh lúa (13,6 - 33,5 mg N/kg) trên địa bàn 03 xã.

Hàm lượng lân hữu dụng ở các mô hình luân canh (14,8 – 24,5 mg P/kg) trên địa bàn xã Lương Nghĩa và xã Hoả Tiến cao hơn hàm lượng lân hữu dụng ở mô hình đối chứng lúa – lúa (6,6 – 7,9 mg P/kg), nhưng trên địa bàn xã Vĩnh Viễn A không có sự khác biệt giữa hàm lượng lân hữu dụng ở mô hình lúa – màu và mô hình đối chứng lúa – lúa. Song song với nghiên cứu các mô hình canh tác thích ứng với điều kiện xâm nhập mặn, nghiên cứu các giải pháp giảm độ mặn trong đất và cải thiện ii luan an chất lượng đất trong điều kiện xâm nhiễm mặn cũng được thực hiện. Biện pháp kỹ thuật được thử nghiệm để cải tạo đất nhiễm mặn được đánh giá trong nghiên cứu này là rửa mặn kết hợp bón CaO, CaSO4. Thí nghiệm được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên gồm 5 nghiệm thức (NT) và 4 lần lặp lại gồm: NT1.

Đối chứng (không rửa mặn, không bổ sung CaO và CaSO4); NT2. Rửa mặn sau khi ngâm đất với nước 1 ngày; NT3. Rửa mặn sau khi ngâm đất với nước 2 ngày; NT4. NT3 kết hợp bổ sung CaO (tương đương 2 tấn CaCO3/ha); NT5.

NT3 kết hợp bón 2 tấn CaSO4/ha. Kết quả thí nghiệm cho thấy tăng thời gian ngâm đất từ 1 ngày lên 2 ngày không tăng hiệu quả rửa mặn. Tuy nhiên, bón CaO và CaSO4 kết hợp với rửa mặn có hiệu quả tốt. Từ khóa: cải thiện chất lượng đất, luân canh lúa - màu, mô hình canh tác, nhiễm mặn đất, nhiễm mặn nước, xâm nhập mặn, đất phèn nhiễm mặn iii luan an ABSTRACT Climate change has been a challenge affecting economics, society and environment worldwide.

The Mekong River Delta (MRD) is currently facing the adverse effects caused by climate change, which has been resulting in increased temperature, flooding, drought and sea level rise. In the years coming, it is anticipated that early drought in accordance with less river discharge from river upstream would lead to more severe saline intrusion, which negatively affect soil physical, chemical and biological properties. Hau Giang province, as other coastal provinces in the MRD, has been facing saline intrusion which has a consequence in reducing agricultural production. This demands technical solutions in terms of changing farming systems and better soil management practices to decline the risks and to sustain farming household incomes in changing environmental conditions.

This study aimed to improve the resilience of cropping systems and farming household incomes in three communes in Hau Giang province, where locates in the saline intrusion- affecting area. To this aim, the study addressed on monitoring salinity in irrigating canals, determining current presence of salinity in soil, evaluating the effective land use types, testing effective soil management practices and highly profitable cropping systems focusing on rotation of rice and short duration upland crops for extension recommendation. The study on salinity intruding in irrigating canals and agricultural soil was conducted in Long My district and Vi Thanh city. The samples of soil and water were collected at 45 locations evenly distributing in three communes Luong Nghia, Vinh Vien A and Hoa Tien, where were annually affected by saline intrusion.

Water samples were collected on the main irrigating canals at the highest tides (twice per months) from the beginning of February to the end of April in 2012 and 2013 dry seasons. Soil samples were collected in early March and May, at a depth of 0-20 cm on the rice fields or vegetables cultivating soils where locate near the water sampling locations. The results showed that irrigating canals had EC values lower than 2 mS/cm at the start of dry season, but increasing in the end of dry season. Water EC highly varied between 2012 and 2013, significantly higher in 2013 than in 2012.

By the end of 2013 dry season, the highest EC values of canal waters reached 16,0 mS/cm in Luong Nghia and 12,0 mS/cm in Vinh Vien A. Salinity accumulated in soils was low. Exchangeable sodium percentages (ESP) in soil of most of the locations were below 15%, indicating that soil had not been sodic. There were iv luan an no correlation between EC values of canal water and EC values of soil extracts (1:2.5 soil (w):water (v) ratio) as well as soluble Na+ contents present in soil extracts in the studied sites.

Study on suitable soil use types was conducted in the three communes, where salinity intrusion had been monitored and evaluated, with a particular aim at assessing the adaptive potential of land uses for the acidic and salt intrusion conditions in dry season. The samples of soil and water were collected for analyzing indicators of acidity and salinity.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Lê Hồng Việt (2019). Mô hình canh tác thích hợp trên đất phèn nhiễm mặn Hậu Giang [Luận án tiến sĩ, trường đại học cần thơ]. LuanAn.net. https://luanan.net/nong-hoc/trong-trot/mo-hinh-canh-tac-dat-phen-nhiem-man-hau-giang

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Mô hình canh tác thích hợp trên đất phèn nhiễm mặn Hậu Giang" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án tiến sĩ nghiên cứu mô hình canh tác trên đất phèn nhiễm mặn tại Hậu Giang. Đề xuất giải pháp cải thiện sản xuất nông nghiệp bền vững.

Luận án "Mô hình canh tác thích hợp trên đất phèn nhiễm mặn Hậu Giang" được bảo vệ tại trường nào?

Luận án này được bảo vệ tại trường đại học cần thơ. Năm bảo vệ: 2019.

Luận án "Mô hình canh tác thích hợp trên đất phèn nhiễm mặn Hậu Giang" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Mô hình canh tác thích hợp trên đất phèn nhiễm mặn Hậu Giang" thuộc chuyên ngành Khoa học đất. Danh mục: Trồng Trọt.

Luận án "Mô hình canh tác thích hợp trên đất phèn nhiễm mặn Hậu Giang" có bao nhiêu trang?

Luận án "Mô hình canh tác thích hợp trên đất phèn nhiễm mặn Hậu Giang" có 179 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Mô hình canh tác thích hợp trên đất phèn nhiễm mặn Hậu Giang" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter