Ngữ nghĩa và kết hợp nhóm từ nói về ăn trong tiếng Việt
Luận án tiến sĩ phân tích nhóm từ ngữ liên quan đến ăn trong tiếng Việt. Khám phá ngữ nghĩa, cấu trúc ngữ pháp, hàm ý và ứng dụng thực tiễn.
Luan An
Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản
Số trang
115
Thời gian đọc
18 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
40 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Cơ sở lý luận về trường từ vựng chỉ hoạt động ăn
- Số trang:
- 115 trang
- Trường:
- Học viện Khoa học Xã hội
- Chuyên ngành:
- Ngôn ngữ học
- Tác giả:
- Khương Thị Lan Phương
- Năm:
- 2020
Tóm tắt nội dung luận án
I. Cơ sở lý luận về trường từ vựng chỉ hoạt động ăn
Trường từ vựng chỉ hoạt động ăn là một bộ phận cốt lõi trong hệ thống từ vựng tiếng Việt. Ngữ nghĩa học tiếng Việt phân tích nhóm từ này dựa trên mối quan hệ đồng nghĩa, đối lập và phân cấp nghĩa. Vốn từ vựng biến đổi liên tục theo dòng chảy xã hội. Hoạt động ăn không đơn thuần duy trì sự sống. Hoạt động này phản ánh tập quán, tư duy và bản sắc cộng đồng. Lý thuyết từ vựng - ngữ nghĩa xác lập cách tiếp cận từ diện mạo cấu tạo đến giá trị biểu đạt. Việc hệ thống hóa nhóm từ nói về ăn giúp làm sáng tỏ bức tranh ngôn ngữ toàn diện. Hệ thống ngữ nghĩa học tiếng Việt cung cấp công cụ phân tích sự chuyển dịch ngữ nghĩa. Nhóm từ này vận động linh hoạt qua các thời kỳ lịch sử. Ngôn ngữ ghi nhận sự phát triển của nhận thức thông qua hành vi ăn uống thường nhật.
1.1. Khái niệm và hệ thống ngữ nghĩa học tiếng Việt
Ngữ nghĩa học tiếng Việt tập trung làm rõ bản chất và cấu trúc nghĩa của từ. Nghĩa của từ luôn vận động, không cố định. Sự phát triển nghĩa bắt nguồn từ nhu cầu định danh hiện thực mới. Các nhà nghiên cứu từ vựng tiếng Việt khẳng định từ biến đổi theo hai hướng chính: mở rộng nghĩa và thu hẹp nghĩa. Bản chất của sự biến đổi nghĩa là sự phản ánh nhận thức xã hội vào ngôn ngữ. Cơ chế liên tưởng đóng vai trò then chốt trong quá trình này. Nghĩa biểu vật và nghĩa biểu niệm kết hợp tạo nên trường nghĩa đa dạng. Việc phân tích từ ngữ theo các cấp độ trường nghĩa mang lại cái nhìn khoa học. Hệ thống ngữ nghĩa phản ánh chiều sâu tư duy văn hóa của người Việt.
1.2. Phân loại cấu trúc trường từ vựng chỉ hoạt động ăn
Trường từ vựng chỉ hoạt động ăn quy tụ các từ có chung nét nghĩa bản thể là tiếp nhận thức ăn. Cấu trúc trường nghĩa bao gồm từ trung tâm và các từ ngoại vi. Từ "ăn" giữ vị trí trung tâm với tính phổ quát cao nhất. Các nhánh phụ bao gồm từ chỉ cách thức, phương tiện, thái độ và đối tượng tiếp nhận. Trường nghĩa ẩm thực tiếng Việt sở hữu dung lượng từ vựng phong phú. Sự phân nhánh này thể hiện khả năng biểu đạt tinh tế của tiếng Việt. Mỗi đơn vị từ vựng đảm nhận một chức năng ngữ nghĩa riêng biệt trong văn cảnh. Cấu trúc trường nghĩa giúp phân định rõ ràng ranh giới ngữ nghĩa giữa các từ đồng nghĩa và từ gần nghĩa.
II. Đặc trưng ngữ nghĩa và nghĩa chuyển của từ ăn tiếng Việt
Từ "ăn" là động từ đa nghĩa bậc nhất trong hệ thống ngôn ngữ tiếng Việt. Nghĩa gốc của từ chỉ hành vi đưa thức ăn vào cơ thể để nuôi sống sinh mệnh. Từ nét nghĩa gốc này, nghĩa chuyển của từ ăn trong tiếng Việt phát triển mạnh mẽ qua nhiều lĩnh vực. Từ "ăn" có thể kết hợp với danh từ, tính từ và động từ khác tạo nên hàng loạt kết cấu ngữ nghĩa mới. Quá trình chuyển nghĩa diễn ra nhờ sự liên tưởng tương đồng và tương cận. Từ "ăn" xuất hiện trong hoạt động kinh tế, kỹ thuật, thẩm mỹ và đời sống xã hội. Khả năng kết hợp rộng rãi khẳng định vị thế trung tâm của từ này trong hệ thống từ loại.
2.1. Nghĩa gốc và phạm trù kết hợp của từ ăn
Nghĩa gốc của từ "ăn" gắn liền với chức năng sinh học căn bản. Cấu trúc ngữ nghĩa gốc gồm chủ thể là sinh vật, hành động đưa vật phẩm qua miệng và mục đích nuôi dưỡng cơ thể. Khả năng kết hợp của từ "ăn" rất linh hoạt. Từ "ăn" kết hợp với các danh từ chỉ món ăn như "ăn cơm", "ăn phở", "ăn cháo". Từ này còn kết hợp với danh từ chỉ thời gian như "ăn sáng", "ăn trưa", "ăn tối". Phạm trù kết hợp mở rộng sang không gian như "ăn quán", "ăn hàng". Cấu trúc ngữ pháp này phản ánh thói quen tổ chức đời sống vật chất của cộng đồng cư dân nông nghiệp lúa nước.
2.2. Hiện tượng ẩn dụ hoán dụ từ ăn trong ngữ cảnh
Hiện tượng ẩn dụ hoán dụ từ ăn tạo nên vô số lớp nghĩa bóng phong phú. Cơ chế ẩn dụ chuyển nghĩa từ tiếp nhận thức ăn sang tiếp nhận thông tin hoặc giá trị vật chất khác. Ví dụ điển hình gồm "ăn ảnh", "ăn điểm", "ăn tiền", "ăn hối lộ". Cơ chế hoán dụ mở rộng nghĩa dựa trên quan hệ tiếp cận hoặc bộ phận và toàn thể. Ví dụ thể hiện qua các cụm từ "ăn cưới", "ăn Tết", "ăn giỗ". Nghĩa chuyển của từ ăn trong tiếng Việt phản ánh cách tư duy cụ thể hóa những khái niệm trừu tượng. Tiếng Việt sử dụng hành vi ăn uống làm hệ quy chiếu cho nhiều hoạt động xã hội phức tạp.
III. Khảo sát nhóm từ đồng nghĩa với từ ăn trong tiếng Việt
Nhóm từ đồng nghĩa với từ ăn trong tiếng Việt có số lượng lớn và phân hóa tinh vi. Các từ đồng nghĩa cùng chia sẻ nét nghĩa cơ bản nhưng khác biệt về cách thức, mức độ và phương tiện thực hiện. Sự tồn tại của nhóm từ này làm giàu vốn từ vựng dân tộc. Người nói lựa chọn từ ngữ phù hợp tùy theo đặc điểm của thức ăn và hành vi người ăn. Từ đồng nghĩa không thay thế cho nhau một cách tùy tiện. Mỗi từ định hình một sắc thái nghĩa và không gian biểu đạt riêng. Nghiên cứu nhóm từ đồng nghĩa giúp người học nắm bắt chuẩn xác quy tắc dùng từ trong văn cảnh cụ thể.
3.1. Các từ chỉ phương thức ăn nhai nuốt gặm nhấm ngốn
Nhóm từ chỉ phương thức ăn (nhai, nuốt, gặm, nhấm, ngốn) phân định rõ hành động vật lý của cơ quan phát âm và khoang miệng. "Nhai" chỉ động tác dùng răng nghiền nát thức ăn trước khi đưa xuống dạ dày. "Nuốt" mô tả quá trình đẩy thức ăn qua thực quản. "Gặm" đặc tả thao tác dùng răng cửa cắn từng mẩu nhỏ từ vật cứng như xương hoặc bắp ngô. "Nhấm" thể hiện cách ăn từng chút một chậm rãi để thử vị hoặc nhâm nhi. "Ngốn" biểu thị tốc độ ăn nhanh, nuốt vội từng miếng lớn với dung lượng nhiều. Sự phân hóa này phản ánh năng lực quan sát chi tiết của người Việt đối với từng cử chỉ ăn uống.
3.2. Mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ đồng nghĩa
Mối quan hệ ngữ nghĩa giữa các từ đồng nghĩa với từ ăn được thiết lập dựa trên nét nghĩa khu biệt. Tiêu chí phân biệt bao gồm tốc độ ăn, lượng thức ăn, mức độ tác động và cảm xúc của người nói. Các từ như "húp", "xì xụp" gắn liền với thức ăn dạng lỏng. Các từ "mút", "liếm" chỉ thao tác dùng lưỡi hoặc môi. Sự tương đồng về nghĩa chung tạo ra tính hệ thống, trong khi nét nghĩa riêng tạo ra tính linh hoạt. Khả năng thay thế lẫn nhau giữa các từ đồng nghĩa luôn bị ràng buộc bởi ngữ cảnh giao tiếp và đối tượng tham gia. Việc dùng từ chính xác tạo nên hiệu quả giao tiếp tối ưu.
IV. Sắc thái biểu cảm từ ngữ chỉ ăn uống trong giao tiếp
Sắc thái biểu cảm từ ngữ chỉ ăn uống phân tầng rõ rệt theo thang bậc xã hội và thái độ cảm xúc. Tiếng Việt sở hữu hệ thống từ vựng phong phú thể hiện từ mức độ tôn kính, trang trọng đến suồng sã, miệt thị. Yếu tố văn hóa ứng xử quy định chặt chẽ việc lựa chọn từ ngữ trong bữa ăn. Thái độ của người nói bộc lộ trực tiếp qua cách gọi tên hành động ăn. Việc sử dụng đúng sắc thái biểu cảm biểu thị trình độ văn hóa và chuẩn mực ứng xử. Nhóm từ này đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì trật tự giao tiếp và thiết lập quan hệ liên cá nhân bền vững.
4.1. Từ ngữ chỉ thái độ tôn kính lịch sự trong ẩm thực
Nhóm từ ngữ chỉ thái độ tôn kính lịch sự (xơi, dùng bữa, thưởng thức, thụ lộc) thường xuất hiện trong ngữ cảnh trang trọng hoặc giao tiếp với người trên. "Xơi" là từ lịch sự dùng để mời mọc hoặc nói về người lớn tuổi. "Dùng bữa" mang sắc thái trang nhã, thường dùng trong văn phong ngoại giao và gia đình quyền quý. "Thưởng thức" nâng tầm hành vi ăn uống thành sự cảm nhận nghệ thuật và giá trị tinh tế của món ăn. "Thụ lộc" mang sắc thái tôn nghiêm, gắn với nghi lễ tôn giáo hoặc hưởng lộc thần linh, tổ tiên. Các từ này thể hiện sự kính trọng, lễ phép và chuẩn mực gia phong truyền thống.
4.2. Từ mang sắc thái thô tục miệt thị khi ăn uống
Nhóm từ mang sắc thái thô tục miệt thị (đớp, hốc, tọng, xơi tái) bộc lộ sự khinh ghét, châm biếm hoặc tức giận của người nói. "Đớp" so sánh hành vi ăn của con người với động vật hoang dã. "Hốc" nhấn mạnh việc ăn quá nhiều, tham lam và thiếu văn minh. "Tọng" miêu tả hành động nhồi nhét thức ăn vào miệng một cách thô bạo. "Xơi tái" biểu thị sự hung hãn, tiêu diệt hoặc nuốt chửng đối tượng không thương tiếc. Nhóm từ này thường xuất hiện trong ngôn ngữ khẩu ngữ bình dân, các cuộc tranh cãi hoặc văn chương hiện thực phê phán nhằm khắc họa nhân vật phản diện.
V. Giá trị văn hóa trong trường nghĩa ẩm thực tiếng Việt
Trường nghĩa ẩm thực tiếng Việt là tấm gương phản chiếu sâu sắc đời sống tinh thần và triết lý sống của dân tộc. Ẩm thực không đơn giản là việc ăn uống hàng ngày. Bữa cơm gia đình là không gian trao truyền đạo lý, gắn kết tình cảm và rèn luyện nhân cách. Thành ngữ, tục ngữ về chuyện ăn uống chiếm tỷ lệ vượt trội trong kho tàng văn gian. Các câu nói như "Ăn trông nồi, ngồi trông hướng" hay "Học ăn, học nói, học gói, học mở" nhấn mạnh tầm quan trọng của phép tắc ứng xử. Ngôn ngữ ẩm thực định hình cốt cách và chuẩn mực đạo đức của con người Việt Nam qua nhiều thế hệ.
5.1. Triết lý nhân sinh qua trường nghĩa ẩm thực tiếng Việt
Triết lý nhân sinh thể hiện rõ qua cách người Việt nhìn nhận về cái ăn trong đời sống. Cái ăn gắn liền với sự sinh tồn, lao động và trách nhiệm xã hội. Các câu tục ngữ "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây" hay "Ăn lấy chắc, mặc lấy bền" đúc kết bài học về lòng biết ơn và tính thực tế. Bữa ăn trở thành biểu tượng của sự no ấm, hòa thuận và tình nghĩa láng giềng. Trường nghĩa ẩm thực mở rộng thành thước đo phẩm giá và tư cách con người. Ngôn ngữ ghi lại những chiêm nghiệm sâu sắc về cách sống và đạo lý làm người thông qua những điều bình dị nhất.
5.2. Chuẩn mực hành vi và nghệ thuật giao tiếp bữa cơm
Chuẩn mực hành vi trong bữa ăn thể hiện trình độ văn hóa của mỗi cá nhân. Nghệ thuật giao tiếp bàn ăn đòi hỏi sự ý tứ, nhường nhịn và tôn trọng lẫn nhau. Hành động mời cơm trước khi ăn là nét đẹp truyền thống mang đậm tính nhân văn. Ngôn ngữ chỉ cách ăn uống phản ánh sự tinh tế trong việc quan sát và đánh giá con người. Cách ăn nói, cử chỉ gắp thức ăn đều phải tuân theo trật tự tôn ti trật tự gia đình. Việc gìn giữ nét đẹp văn hóa ẩm thực thông qua ngôn từ giúp bảo tồn bản sắc dân tộc trong thời kỳ hội nhập.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (115 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộVIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI KHƯƠNG THỊ LAN PHƯƠNG NHÓM TỪ, NGỮ NÓI VỀ “ĂN” TRONG TIẾNG VIỆT LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC HÀ NỘI, 2020 luan an VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI KHƯƠNG THỊ LAN PHƯƠNG NHÓM TỪ, NGỮ NÓI VỀ “ĂN” TRONG TIẾNG VIỆT Chuyên ngành: Ngôn ngữ học Mã số: 8 22 90 20 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : TS. NGUYỄN THỊ BÍCH HẠNH HÀ NỘI, 2020 luan an LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, không sao chép của ai. Các kết quả khảo sát và nghiên cứu đã nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. TÁC GIẢ LUẬN VĂN Khương Thị Lan Phương luan an LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.
Nguyễn Thị Bích Hạnh, đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này. Tôi xin chân thành cảm ơn các Thầy Cô giáo trong Khoa Ngôn ngữ học, Học viện Khoa học Xã hội đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường. Hà nội, ngày 13 tháng 6 năm 2020 Tác giả luận văn Khương Thị Lan Phương luan an MỤC LỤC MỞ ĐẦU. Khái niệm từ và những khái niệm liên quan.
Nghĩa của từ và hiện tượng đồng nghĩa. Sự phát triển nghĩa của từ. Hiện tượng chuyển nghĩa của từ. NGỮ NGHĨA CỦA TỪ “ĂN” VÀ KHẢ NĂNG KẾT HỢP CỦA NÓ TRONG TIẾNG VIỆT………………………………………………….
Ngữ nghĩa của từ “ăn” trong tiếng Việt. Khả năng kết hợp của từ “ăn” trong tiếng Việt. NGỮ NGHĨA VÀ KHẢ NĂNG KẾT HỢP CỦA NHÓM TỪ ĐỒNG NGHĨA VỚI TỪ “ĂN” TRONG TIẾNG VIỆT. Nhóm từ đồng nghĩa với từ “ăn” trong tiếng Việt.
Khả năng kết của những từ đồng nghĩa với từ “ăn” trong tiếng Việt…….75 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN…………………………………………………………….79 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .78 luan an MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong quan niệm của người Việt Nam, gia đình là tế bào của xã hội, và cuộc sống sinh hoạt luôn gắn liền với bữa cơm gia đình – nơi ẩn chứa nhiều đạo lý, thể hiện tình cảm, yêu thương gắn kết giữa các thành viên, là linh hồn của hạnh phúc, và cũng là nơi truyền đạt những tư tưởng, truyền thống, những đạo lý từ thế hệ này qua thế hệ khác. Từ những phép cư xử tưởng chừng đơn giản thông qua cách ăn uống: Ăn trông nồi, ngồi trông hướng đến quan niệm về cái ăn, cái mặc: Ăn lấy chắc, mặc lấy bền; Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp… ông bà ta muốn trao gửi đến thế hệ con cháu những thông điệp đầy chất nhân văn, một trong những điều đầu tiên, cơ bản nhất mà mỗi người đều cần phải học đó là “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Như vậy, “ăn” không còn đơn giản chỉ là câu chuyện của việc duy trì sự sống, mà còn ẩn chứa trong đó những bài học về nhân cách, là quan niệm về nhân sinh, về cuộc sống và các đạo lý, các cách hành xử trong xã hội của con người.
Có thể nói hoạt động ăn của con người không chỉ là hoạt động mang tính sinh học để duy trì sự sống mà còn mang tính văn hóa, gắn với mỗi cộng đồng với những thói quen, tập tục. Thông qua thói quen ăn uống, chúng ta có thể hiểu được phần nào đặc điểm tâm lý dân tộc, tập quán cũng như cách ứng xử của con người với môi trường. Bởi vậy, cùng với sự thay đổi và phát triển không ngừng của xã hội, thì vốn từ vựng trong tiếng Việt nói chung và vốn từ vựng liên quan đến từ “ăn” nói riêng cũng không ngừng tăng lên, hoạt động “ăn” của con người dần vượt lên những giá trị duy trì sự sống, vươn tới tầm nghệ thuật. Điều đó được phản ánh khá sinh động trong ngôn ngữ.
1 luan an Với những lý do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài : Nhóm từ, ngữ nói về “ăn” trong tiếng Việt. Với mong muốn thông qua sự nỗ lực tìm hiểu, nghiên cứu sự phát triển của nhóm từ, ngữ nói về “ăn” cùng với quá trình phát triển của dân tộc, cũng như sự phát triển của nhóm từ này trong các mặt khác nhau của cuộc sống dưới góc độ ngôn ngữ học. Thông qua đó có thể góp một phần nhỏ vào nghiên cứu sự phát triển của từ vựng tiếng Việt nói chung, và của nhóm từ liên quan đến từ “ăn” nói riêng. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2.
Tình hình nghiên cứu về nghĩa và sự phát triển ngữ nghĩa của từ ở Việt Nam Việc nghiên cứu về nghĩa và sự phát triển nghĩa của từ trong tiếng Việt, là một trong những lĩnh vực được khá nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu. Bởi từ vựng là một bộ phận được coi là không ổn định nhất trong hệ thống ngôn ngữ, kết cấu nghĩa của từ luôn luôn vận động và phát triển, sự biến đổi nghĩa là một sự thực hiển nhiên và không ngừng thay đổi cùng với sự phát triển của xã hội. Ở Việt Nam các công trình nghiên cứu về ngữ nghĩa học, được thể hiện trong một số công trình nghiên cứu về từ vựng học, từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt của các tác giả như Nguyễn Văn Tu, trong cuốn “Từ vựng học tiếng Việt hiện đại” [40] đã đưa ra được nhiều quan điểm lý thuyết về sự biến đổi nghĩa. Ông đã trình bày về bản chất và nguyên nhân của biến đổi nghĩa, phân loại biến đổi nghĩa.
Còn tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng sự thay đổi nghĩa của từ trong tiếng Việt do nguyên nhân đơn giản là nhằm đáp ứng nhu cầu tạo thêm từ mới của xã hội.[4] Bên cạnh đó, một số tác giả như Lê Quang Thiêm đã dành nhiều sự quan tâm đến biến đổi ý nghĩa của các yếu tố từ vựng. Trong ấn bản chuyên khảo về lịch sử từ vựng (2003), tác giả đã dành một số trang để 2 luan an khảo sát, nghiên cứu sự phát triển nghĩa qua con đường đa nghĩa hóa trong tiếng Việt hiện đại (1858-1930). Đặc biệt, trong cuốn “Sự phát triển nghĩa từ vựng tiếng Việt từ 1945 đến 2005” [35]. Đây là công trình Việt ngữ học nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống và sâu sắc nhất về sự phát triển nghĩa của từ vựng tiếng Việt trên quan điểm đồng đại, vận dụng phương pháp lịch sử so sánh, phân tích cấu trúc – hệ thống… Trên cơ sở đó có thể xác lập được các tầng nghĩa, kiểu nghĩa để từ đó tìm hiểu sự biến đổi, phát triển nghĩa từ vựng qua các mốc thời gian gắn liền với các sự kiện lịch sử và những thăng trầm của đất nước.
Tác giả Nguyễn Đức Tồn trong “Đặc trưng văn hóa - dân tộc của ngôn ngữ và tư duy” [38] đã trình bày về đặc điểm của quá trình chuyển nghĩa của trường từ vựng chỉ động vật, thực vật, bộ phận cơ thể người (so sánh giữa tiếng Việt và tiếng Nga). Tác giả đã phân tích và thống kê lượng nghĩa chuyển, các phương thức chuyển nghĩa từ đó rút ra những nhận định về quá trình chuyển nghĩa của các trường từ vựng này. Tác giả Phạm Văn Lam (2007) trong “Bước đầu khảo sát sự phát triển ngữ nghĩa của một số nhóm từ vựng trong tiếng Việt từ năm 1945 đến nay” [22] đã khảo sát sự phát triển ngữ nghĩa của một số nhóm từ vựng danh từ thường được sử dụng trong lĩnh vực khoa học xã hội – nhân văn từ năm 1945 đến nay. Nghiên cứu cho thấy, sự mở rộng và phát triển nghĩa của các nhóm từ gắn liền với sự phát triển xã hội cũng như tiến trình lịch sử của dân tộc qua quãng thời gian có nhiều biến động và phát triển quan trọng.
Trên cơ sở khảo sát sự phát triển nghĩa theo hướng trí tuệ hóa và biểu trưng hóa, từ đó tác giả chỉ ra các xu hướng, con đường phát triển nghĩa của tiếng Việt, phân tích và lý giải các con đường phát triển ấy. Theo hướng nghiên cứu sự phát triển ngữ nghĩa của từ, từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận, Lý Toàn Thắng trong “Ngôn ngữ học tri nhận nhìn 3 luan an từ lý thuyết đại cương đến thực tiễn tiếng Việt” [31] đã áp dụng những khái niệm cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận vào thực tiễn tiếng Việt, đưa ra những luận giải và các kết luận rất có giá trị đối với sự phát triển ngữ nghĩa của từ trong tiếng Việt. Tác giả Nguyễn Văn Hiệp trong bài viết “Ngữ nghĩa của từ “Ra”, “Vào” trong tiếng Việt nhìn từ góc độ nghiệm thân”[17] đã dùng lí thuyết nghiệm thân để lí giải con đường chuyển nghĩa của từ “ra”, “vào” trong tiếng Việt. Hay tác giả Nguyễn Thị Hiền (2018) trong “Sự phát triển ngữ nghĩa của nhóm từ chỉ bộ phận cơ thể người dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận” [15] đã dùng cách tiếp cận của ngôn ngữ học tri nhận để làm rõ hiện tượng phát triển ngữ nghĩa.
Đặc biệt là thông qua hai phương thức chuyển nghĩa ẩn dụ và hoán dụ. Tác giả đã nghiên cứu hiện tượng chuyển nghĩa của từ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận để từ đó tìm ra các giá trị văn hóa và tư duy đặc thù của dân tộc thông qua việc sử dụng ngôn ngữ. Thông qua các công trình của một số tác giả trên cho thấy, việc nghiên cứu sự phát triển nghĩa trong tiếng Việt nói chung, trong thời gian gần đây đã dành được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Đặc biệt là các công trình nghiên cứu sự phát triển ngữ nghĩa của từ, từ góc độ ngôn ngữ học tri nhận với những cấu trúc ẩn dụ ý niệm trong ngôn ngữ, đa dạng về nghĩa cũng như cách sử dụng, đã tạo nên những nét mới trong nghiên cứu sự phát triển nghĩa của từ trong tiếng Việt.
Tình hình nghiên cứu sự phát triển nghĩa của nhóm từ, ngữ nói về “ăn” trong tiếng Việt Trong tiếng Việt, việc nghiên cứu về nhóm từ, ngữ nói về “ăn”, khởi điểm là Hoàng Tuệ trong bài viết “Câu chuyện tiếp tục về nghĩa của những từ đơn tiết” [43]. Trong bài viết này, tác giả đã phân tích tính đa nghĩa của 4 luan an từ “ăn”, đồng thời chỉ ra gần 40 nghĩa của từ này. Trên cơ sở từ nghĩa gốc của từ “ăn” đã làm nảy sinh bốn dòng nghĩa phái sinh như sau: 1. Dòng nghĩa tiếp thụ 2.
Dòng nghĩa hưởng thụ 3. Dòng nghĩa hài hòa 4.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Khương Thị Lan Phương (2020). Phân tích nhóm từ, ngữ nói về ăn trong tiếng Việt [Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học Xã hội]. LuanAn.net. https://luanan.net/ngon-ngu-hoc/ngon-ngu-hoc-viet-nam/ngu-nghia-nhom-tu-an-trong-tieng-viet
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Phân tích nhóm từ, ngữ nói về ăn trong tiếng Việt" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án tiến sĩ phân tích nhóm từ ngữ liên quan đến ăn trong tiếng Việt. Khám phá ngữ nghĩa, cấu trúc ngữ pháp, hàm ý và ứng dụng thực tiễn.
Luận án "Phân tích nhóm từ, ngữ nói về ăn trong tiếng Việt" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội. Năm bảo vệ: 2020.
Luận án "Phân tích nhóm từ, ngữ nói về ăn trong tiếng Việt" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Phân tích nhóm từ, ngữ nói về ăn trong tiếng Việt" thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học. Danh mục: Ngôn Ngữ Học Việt Nam.
Luận án "Phân tích nhóm từ, ngữ nói về ăn trong tiếng Việt" có bao nhiêu trang?
Luận án "Phân tích nhóm từ, ngữ nói về ăn trong tiếng Việt" có 115 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Phân tích nhóm từ, ngữ nói về ăn trong tiếng Việt" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.