Luận án tiến sĩ: Nghiên cứu ngữ âm tiếng Ta Ôi trên tư liệu xã A Roàng, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế
Luận án nghiên cứu ngữ âm tiếng Ta Ôi qua tư liệu xã A Roàng, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế. Phân tích đặc điểm ngôn ngữ học.
Số trang
169
Thời gian đọc
26 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Tổng quan ngữ âm tiếng Ta Ôi thuộc ngữ tộc Cơ Tu
- Số trang:
- 169 trang
- Trường:
- Học viện Khoa học Xã hội
- Chuyên ngành:
- Ngôn ngữ học
- Tác giả:
- Trương Thị Hồng Gái
Tóm tắt nội dung luận án
I. Tổng quan ngữ âm tiếng Ta Ôi thuộc ngữ tộc Cơ Tu
Tiếng Ta Ôi là ngôn ngữ thuộc ngữ tộc Cơ Tu, nhánh Môn-Khmer trong ngữ hệ Nam Á. Ngôn ngữ này phân bố tập trung tại huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế và vùng phụ cận tỉnh Quảng Trị. Về mặt loại hình học ngôn ngữ, tiếng Ta Ôi thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập. Tiếng mẹ đẻ này giữ vai trò then chốt trong đời sống sinh hoạt, văn hóa và tư duy của cộng đồng. Việc nghiên cứu ngữ âm tiếng Ta Ôi mang lại giá trị khoa học sâu sắc. Đề tài cung cấp cơ sở phân loại thành phần dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Công trình ghi âm tư liệu thực địa theo bảng phiên âm quốc tế IPA chuẩn xác. Qua đó, nghiên cứu làm sáng tỏ bức tranh phân bố ngôn ngữ học khu vực miền Trung.
1.1. Vị trí phân loại của tiếng Ta Ôi trong ngữ hệ Nam Á
Tiếng Ta Ôi giữ vị trí quan trọng trong nhánh Môn-Khmer của ngữ hệ Nam Á. Tiếng nói này có quan hệ cội nguồn gần gũi với tiếng Bru-Vân Kiều và tiếng Cơ Tu. Người Ta Ôi tại A Lưới gồm các nhóm địa phương như Ta Ôi, Pa Cô và Pa Hy. Cư dân sinh sống tập trung đông nhất tại xã A Ngo và xã A Roàng. Ngôn ngữ phản ánh lịch sử di cư và giao thoa văn hóa lâu đời. Phân loại chuẩn xác ngôn ngữ Ta Ôi giúp bảo tồn các giá trị phi vật thể quý báu. Nguồn tư liệu thực nghiệm góp phần khẳng định tính đa dạng ngôn ngữ dân tộc thiểu số tại Việt Nam.
1.2. Tính cấp thiết trong bảo tồn ngôn ngữ tại A Lưới
Quá trình hội nhập hiện đại tạo sức ép lớn lên tiếng nói của các dân tộc bản địa. Tiếng Ta Ôi đối mặt với nguy cơ mai một trong thế hệ trẻ tại Thừa Thiên Huế. Việc miêu tả và số hóa ngữ âm tiếng Ta Ôi đáp ứng yêu cầu cấp thiết về chính sách văn hóa. Công tác điều tra điền dã thu thập dữ liệu âm thanh tại xã A Roàng và các thôn bản lân cận. Nghiên cứu xác lập cơ sở dữ liệu âm thanh cho việc giảng dạy và lưu trữ. Hoạt động này tạo nền tảng vững chắc cho công cuộc bảo tồn ngôn ngữ bền vững.
II. Cấu trúc âm tiết và tiền âm tiết trong tiếng Ta Ôi
Nghiên cứu từ âm vị học làm rõ cấu trúc âm tiết và tiền âm tiết của tiếng Ta Ôi. Đơn vị từ âm vị học có cấu tạo chặt chẽ từ một đến hai âm tiết. Ngôn ngữ thể hiện rõ mô hình âm tiết đôi không cân đối điển hình của nhánh Môn-Khmer. Cấu trúc bao gồm tiền âm tiết mang tính bổ trợ và âm tiết chính mang trọng âm. Độ dài trường độ giữa các dạng âm tiết thể hiện rõ qua thiết bị phân tích sóng âm. Âm tiết chính luôn chứa đầy đủ các thành tố ngữ âm học cơ bản. Sự phân biệt này tạo nên diện mạo âm vị học đặc thù cho ngôn ngữ Ta Ôi.
2.1. Đặc trưng các loại âm tiết trong tiếng Ta Ôi
Tiếng Ta Ôi sở hữu hai dạng âm tiết chính gồm âm tiết mở và âm tiết khép. Âm tiết mở kết thúc bằng nguyên âm đơn hoặc nguyên âm đôi dài. Âm tiết khép kết thúc bằng các phụ âm cuối tắc, vang hoặc bán nguyên âm. Trọng âm từ luôn rơi vào âm tiết chính ở vị trí cuối cùng. Cường độ âm thanh và sóng phổ đồ phản ánh sự tương phản rõ rệt giữa các dạng âm tiết. Trường độ âm tiết chính kéo dài hơn hẳn so với các thành tố đi trước. Mô hình âm vị học này quyết định nhịp điệu phát âm tự nhiên của người bản ngữ.
2.2. Vai trò của tiền âm tiết trong cấu trúc từ vựng
Tiền âm tiết trong tiếng Ta Ôi là thành phần đi trước âm tiết chính. Tiền âm tiết thường có cấu trúc giản lược dạng CV hoặc C. Nguyên âm trong tiền âm tiết thường bị nhược hóa thành nguyên âm ngắn trung hòa. Thành tố này không mang trọng âm độc lập trong chuỗi lời nói. Tiền âm tiết đảm nhận chức năng ngữ pháp và phái sinh từ vựng cổ xưa. Hiện tượng này lưu giữ dấu vết hình thái học của ngữ tộc Cơ Tu nguyên thủy. Phân tích ngữ âm thực nghiệm giúp nhận diện chính xác các biến thể tiền âm tiết trong giao tiếp.
III. Đặc trưng hệ thống âm vị tiếng Ta Ôi tại A Lưới Huế
Khảo sát hệ thống âm vị tiếng Ta Ôi tại huyện A Lưới mang lại bức tranh toàn diện về ngữ âm học. Hệ thống gồm các chùm âm vị phụ âm đầu, nguyên âm và phụ âm cuối phong phú. Các âm vị được xác lập dựa trên phương pháp đối lập âm vị học và phân tích ngữ cảnh. Bảng phiên mã âm học quốc tế IPA ghi nhận đầy đủ các biến thể ngữ âm thực tế. Mối quan hệ kết hợp giữa các âm vị tuân thủ những quy luật ngữ âm nghiêm ngặt. Nghiên cứu thực nghiệm sóng âm và phổ đồ kiểm chứng độ chính xác của các âm vị xác lập.
3.1. Phương pháp nghiên cứu và quy ước phiên âm quốc tế
Nghiên cứu sử dụng bảng mẫu tự ngữ âm quốc tế IPA làm công cụ ghi âm chuẩn. Ký hiệu ngoặc vuông [ ] dùng để biểu thị giá trị ngữ âm học thực tế. Ký hiệu gạch chéo / / xác định tư cách âm vị học trừu tượng của đơn vị âm. Ký hiệu hai chấm (: ) dẫn giải nghĩa từ tương đương trong tiếng Việt. Nguồn ngữ liệu điền dã được thu thập trực tiếp từ các cộng tác viên bản ngữ Ta Ôi. Phương pháp thực nghiệm ngữ âm học phân tích phổ tần số và cường độ âm thanh. Quy trình này bảo đảm tính khách quan và độ tin cậy khoa học cao cho đề tài.
3.2. Cơ sở lý thuyết và phân tích phổ đồ thực nghiệm
Lý thuyết âm vị học hiện đại kết hợp chặt chẽ với phương pháp phân tích âm học thực nghiệm. Các thông số vật lý của sóng âm cung cấp bằng chứng khách quan về trường độ và cao độ. Hình ảnh phổ đồ từ âm vị học dạng đơn và dạng đôi thể hiện ranh giới âm tiết rõ ràng. Dữ liệu phổ âm xác nhận sự tương tác giữa phụ âm đi trước và nguyên âm đi sau. Phân tích quang phổ giúp phân biệt các âm đối lập khó nhận biết bằng thính giác thuần túy. Cơ sở thực nghiệm này củng cố tính xác thực cho toàn bộ miêu tả âm vị học.
IV. Miêu tả phụ âm đầu tiếng Ta Ôi và quy tắc kết hợp
Hệ thống phụ âm đầu tiếng Ta Ôi đa dạng về vị trí cấu âm và phương thức phát âm. Vị trí cấu âm trải rộng từ âm môi, âm đầu lưỡi, âm mặt lưỡi đến âm gốc lưỡi và âm thanh hầu. Phương thức cấu âm bao gồm âm tắc vô thanh, âm tắc hữu thanh, âm xát và âm vang. Ngôn ngữ có các phụ âm đầu đơn và các tổ hợp phụ âm phức hợp đặc trưng. Khả năng kết hợp giữa phụ âm đầu với nguyên âm tuân thủ quy tắc chặt chẽ. Khảo sát thực địa ghi nhận đầy đủ bảng danh sách phụ âm đầu phục vụ miêu tả ngôn ngữ học.
4.1. Hệ thống phụ âm đầu đơn trong tiếng Ta Ôi
Phụ âm đầu đơn trong tiếng Ta Ôi gồm các âm tắc như /p, t, c, k, ʔ/ và các âm hữu thanh /b, d/. Các phụ âm xát bao gồm /s, h/ cùng hệ thống phụ âm vang mũi /m, n, ɲ, ŋ/. Phụ âm bên /l/ và âm rung /r/ xuất hiện với tần suất cao ở đầu từ. Mỗi âm vị đảm nhận chức năng phân biệt nghĩa từ vựng rõ rệt. Phụ âm tắc thanh hầu /ʔ/ đóng vai trò mở đầu các âm tiết không có phụ âm khác. Sự phân bố đều đặn của các phụ âm đơn tạo nên thế cân bằng cấu âm trong tiếng Ta Ôi.
4.2. Tổ hợp phụ âm đầu và khả năng phân bố ngữ âm
Tổ hợp phụ âm đầu tiếng Ta Ôi thường có dạng phụ âm tắc kết hợp với âm rung /r/ hoặc âm bên /l/. Các cụm phụ âm phổ biến bao gồm /pr, tr, kr, pl, kl, bl/. Tổ hợp phụ âm chỉ xuất hiện ở vị trí đầu âm tiết chính trong từ vựng. Sự xuất hiện của tổ hợp phụ âm phản ánh tính cổ xưa của ngữ tộc Cơ Tu. Khả năng kết hợp giữa tổ hợp phụ âm với hệ thống nguyên âm có những giới hạn cấu âm nhất định. Hiện tượng đồng hóa và dị hóa âm thanh diễn ra linh hoạt trong cấu trúc chuỗi lời nói.
V. Khảo cứu hệ thống nguyên âm và âm cuối tiếng Ta Ôi
Khảo cứu hệ thống nguyên âm và âm cuối tiếng Ta Ôi phản ánh tính phong phú của ngữ âm học bản địa. Hệ thống nguyên âm gồm nguyên âm đơn, nguyên âm đôi cùng sự phân biệt trường độ dài ngắn. Vị trí nguyên âm chia thành hàng trước, hàng giữa và hàng sau tương ứng ba độ mở miệng. Phụ âm cuối bao gồm các âm tắc vô thanh, âm mũi và các bán nguyên âm. Mối liên kết giữa nguyên âm và phụ âm cuối tạo nên cấu trúc vần hoàn chỉnh. Khả năng phân bố âm vị khẳng định tính quy củ trong cấu trúc âm vị học Ta Ôi.
5.1. Hệ thống nguyên âm đơn và nguyên âm đôi
Tiếng Ta Ôi sở hữu hệ thống nguyên âm đơn đầy đủ với các cấp độ mở từ hẹp đến rộng. Nguyên âm hàng trước gồm /i, e, ɛ/, hàng giữa gồm /ɨ, ə, a/, hàng sau gồm /u, o, ɔ/. Điểm nổi bật là sự đối lập trường độ trường - đoản giữa các nguyên âm ngắn và nguyên âm dài. Các nguyên âm đôi như /iə, ɨə, uə/ xuất hiện phổ biến trong các âm tiết mở và khép. Sự khu biệt nguyên âm tạo ra hàng loạt cặp từ đối lập mang nghĩa khác nhau. Đặc trưng nguyên âm phản ánh sự bảo lưu các nét ngữ âm cổ của nhánh Môn-Khmer.
5.2. Hệ thống phụ âm cuối và quy tắc khép âm tiết
Hệ thống phụ âm cuối trong tiếng Ta Ôi bao gồm các âm tắc /p, t, c, k, ʔ/ và âm xát /h/. Các âm vang mũi cuối gồm /m, n, ɲ, ŋ/ cùng các bán nguyên âm /w, j/. Phụ âm cuối tắc không bật hơi, làm nhiệm vụ khép âm tiết dứt khoát. Âm cuối thanh hầu /ʔ/ và âm xát /h/ tạo nên âm sắc đặc thù khi kết thúc từ. Phụ âm cuối kết hợp chọn lọc với nguyên âm dài hoặc ngắn đi trước. Khả năng kết hợp này tạo nên hệ thống vần phong phú và chặt chẽ cho ngôn ngữ Ta Ôi.
VI. Hiện tượng âm vực và register trong tiếng Môn Khmer
Hiện tượng âm vực và register trong tiếng Môn-Khmer là đặc trưng ngữ âm nổi bật của ngữ hệ Nam Á. Tiếng Ta Ôi phản ánh rõ sự phân hóa âm vực qua phẩm chất giọng và cao độ âm thanh. Hệ thống register gồm âm vực căng (clear voice/modal voice) và âm vực chùng (breathy voice). Âm vực tác động trực tiếp lên độ nâng của lưỡi và phẩm chất của nguyên âm đi kèm. Sự tương phản âm vực thay thế cho sự thiếu vắng của hệ thống thanh điệu hoàn chỉnh. Phân tích thực nghiệm âm học cung cấp bằng chứng rõ ràng về cơ chế phát sinh âm vực Ta Ôi.
6.1. Cơ chế hoạt động của register trong tiếng Ta Ôi
Cơ chế register trong tiếng Ta Ôi vận hành dựa trên hoạt động của thanh đới và khoang miệng. Âm vực một thể hiện qua giọng vang, thanh đới căng và âm hưởng sáng rõ nét. Âm vực hai thể hiện qua giọng thở, thanh đới chùng và âm hưởng trầm đục. Hiện tượng âm vực gắn liền với nguồn gốc vô thanh hoặc hữu thanh của phụ âm đầu cổ xưa. Sự khác biệt âm vực làm thay đổi phẩm chất của các nguyên âm trong âm tiết chính. Hiện tượng này chứng minh tiến trình biến đổi âm vị học tự nhiên của ngữ tộc Cơ Tu.
6.2. Mối liên hệ giữa âm vực và tiến trình thanh điệu hóa
Tiếng Ta Ôi là ngôn ngữ không có thanh điệu chuẩn nhưng đang trong quá trình chuyển hóa âm vực. Hiện tượng âm vực đóng vai trò giai đoạn trung gian dẫn tới tiến trình thanh điệu hóa (tonogenesis). Sự biến đổi cao độ kèm theo phẩm chất giọng tạo tiền đề cho sự xuất hiện âm điệu tương lai. Nghiên cứu đối chiếu với các ngôn ngữ khác trong nhánh Môn-Khmer làm rõ quy luật này. Dữ liệu ngữ âm tiếng Ta Ôi tại A Lưới cung cấp cứ liệu quý báu cho loại hình học ngôn ngữ. Công trình mở ra hướng tiếp cận mới trong nghiên cứu âm học lịch sử Nam Á.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (169 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộLỜI CẢM ƠN Tác giả luận văn xin chân thành cảm ơn Thầy Phan Lương Hùng – người đã trực tiếp hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn. Xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong Khoa Ngôn ngữ học, Học viện Khoa học xã hội Việt Nam đã giảng dạy cho tác giả luận văn. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến quỹ tài trợ Faro AS của Na Uy. Đặc biệt, xin cảm ơn vợ chồng Per và Guri, những người rất tốt bụng và tử tế đã thành lập ra quỹ học bổng và tài trợ cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này.
Xin cảm ơn Ban lãnh đạo Viện Ngôn ngữ học, PGS.TS Nguyễn Hữu Hoành chủ nhiệm đề tài cấp Nhà nước “Nghiên cứu xác định thành phần ngôn ngữ các dân tộc thiểu số trong mối quan hệ với vấn đề xác định thành phần dân tộc”, tập thể phòng Nghiên cứu Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đã hỗ trợ cho tôi học tập và thực hiện luận văn. Nhân đây, tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới cán bộ và nhân dân xã A Roàng, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế, đặc biệt là các cộng tác viên người Tà Ôi đã giúp tôi sưu tập tư liệu cho luận văn này. Do hạn chế về thời gian và vốn kiến thức nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự góp ý, nhận xét của các thầy cô và đồng nghiệp, để luận văn hoàn thiện hơn.
Người thực hiện Trương Thị Hồng Gái MỤC LỤC MỞ ĐẦU. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TẾ. Tổng quan tình hình nghiên cứu về tiếng Ta Ôi. Cơ sở lí thuyết và thực tế của đề tài .TỪ ÂM VỊ HỌC VÀ ÂM TIẾT TRONG TIẾNG TA ÔI.
Đặc điểm chung về cấu trúc từ âm vị học tiếng Ta Ôi. Các loại âm tiết trong tiếng Ta Ôi. HỆ THỐNG ÂM VỊ TIẾNG TÀ ÔI. Hệ thống âm đầu tiếng Tà Ôi.
Hệ thống nguyên âm trong tiếng Tà Ôi. Hệ thống phụ âm cuối trong tiếng Tà Ôi. Khả năng kết hợp giữa các âm vị trong tiếng Tà Ôi. 66 TÀI LIỆU THAM KHẢO.
73 DANH MỤC BẢNG, HÌNH Bảng 1.1:Bảng thống kê về số thôn và số hộ nghèo, cận nghèo trên địa bàn xã .2: Bảng thống kê về số thôn và thành phần các dân tộc thiểu số trên địa bàn xã .3: So sánh giá trị trường độ hai dạng từ âm vị học. Bảng danh sách các phụ âm đầu tiếng Tà Ôi .3: Bảng nguyên âm với phụ âm đầu đơn .4:Bảng kết hợp nguyên âm với tổ hợp phụ âm đầu .5: Bảng kết hợp nguyên âm với phụ âm cuối và tổ hợp phụ âm cuối .1: Sóng âm, phổ đồ của từ âm vị học dạng1 trong từ [hit] (gió) .2: Sóng âm, phổ và cường độ từ âm vị học dạng 2 trong từ. 35 QUY ƯỚC TRONG VIỆC TRÌNH BÀY 1. Luận văn sử dụng cách phiên âm quốc tế IPA (The International Phonetic Alphabet) để ghi tiếng Ta Ôi 2.
Kí hiệu “ngoặc vuông” [ ] chỉ nội dung bên trong ngoặc có giá trị ngữ âm học 3. Kí hiệu “gạch chéo” / / chỉ nội dung bên trong gạch có giá trị âm vị học 4. Kí hiệu “hai chấm” (: ) chỉ sau dấu này là nghĩa tương ứng trong tiếng Việt MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là quốc gia đa ngôn ngữ đa dân tộc với dân tộc Kinh chiếm đa số và 53 dân tộc thiểu số.
Mỗi dân tộc (ethnic) có thể bao gồm nhiều nhóm tộc người (nhóm địa phương) khác nhau với các đặc điểm về văn hóa vật thể, cũng như văn hóa phi vật thể (phong tục tập quán, văn hóa dân gian. Ngôn ngữ là phương tiện của hoạt động tư duy, giao tiếp, là thành tố quan trọng của văn hóa và cũng là một tiêu chí cơ bản để xác định thành phần dân tộc. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Ta Ôi có dân số 43.886 người, sinh sống tại 39 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố ở Việt Nam. Người Ta Ôi cư trú tập trung tại các tỉnh Thừa Thiên Huế, đặc biệt là huyện A Lưới (29.558 người, chiếm 67,35%), Quảng Trị (13.961 người, chiếm 31,81%).
Theo các tài liệu dân tộc học, người Tà Ôi có ba nhóm địa phương là Ta Ôi, Pa Cô và Pa Hy. Tuy nhiên theo tình hình thực tế ghi nhận được thì ba cộng đồng người này tự nhận mình là những nhóm tộc người khác nhau. Người Ta Ôi hiện đang cư trú chủ yếu ở Thừa Thiên Huế, huyện A Lưới với 866 hộ và 3576 khẩu. Tỉ lệ số hộ và khẩu của người Ta Ôi ở A Ngo chiếm số lượng đông nhất với 703 hộ và 3062 khẩu.
Theo các nhà nghiên cứu, tiếng Ta Ôi thuộc nhánh Cơ tu - Bru (Katuic), chi Mon - Khmer của ngữ hệ Nam Á, có quan hệ rất gần với tiếng nói của các dân tộc Bru- Vân Kiều và Cơ tu [1]. Về mặt loại hình, tiếng Ta Ôi là một ngôn ngữ đơn lập. Tiếng Ta Ôi là tiếng mẹ đẻ, là ngôn ngữ thứ nhất của người Ta Ôi. Đối với mỗi người Ta Ôi thì đây là công cụ giao tiếp và là công cụ tư duy quan trọng nhất.
Không những thế, tiếng Ta Ôi cùng với nền văn hóa truyền thống giàu bản sắc dân tộc của dân tộc này đã góp phần làm phong phú và đa dạng hơn nữa cho vườn hoa nhiều màu sắc trong nền văn 1 hóa chung của đất nước. Làm thế nào để bảo tồn và phát triển ngôn ngữ này, trong xu hướng mai một ngôn ngữ của nhiều dân tộc thiểu số hiện nay ở Việt Nam? Vấn đề dân tộc và ngôn ngữ các dân tộc thiểu số luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm từ rất sớm, bởi vì nó liên quan đến việc hoạch định các chính sách về chính trị, kinh tế, xã hội, đặc biệt là vấn đề bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa của đồng bào các dân tộc nhằm phát triển bền vững đất nước trong công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập với thế giới. Tuy nhiên, để có thể đưa ra những chính sách hợp lý, hiệu quả thì việc nghiên cứu văn hóa, ngôn ngữ là một việc làm tất yếu và phải đi trước một bước. Tuy nhiên, tùy từng ngôn ngữ mà phải có những hướng tiếp cận và mục tiêu nghiên cứu khác nhau.
Điều này có thể nói rằng: Việc nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc …có tầm quan trọng riêng về mặt khoa học cũng như về mặt chính trị, văn hóa và xã hội. Hiện nay đang có một số nhu cầu nảy sinh trong thực tế, chủ yếu thuộc các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, truyền thông. Đó là: nhu cầu của người dân thuộc các cộng đồng nói tiếng Ta Ôi trong việc học tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt, đặc biệt là học sinh các cộng đồng này khi học tiếng Việt và học bằng tiếng Việt; nhu cầu của cán bộ chiến sĩ công tác ở vùng các cộng đồng nói tiếng Ta Ôi trong việc tra cứu để nắm được và sử dụng được tiếng của đồng bào trong thực tế công tác (theo tinh thần Chỉ thị 38/2004/CT-TTg); nhu cầu sử dụng tiếng Ta Ôi trong thông tin tuyên truyền, văn nghệ; nhu cầu bảo tồn tiếng nói chữ viết của cộng đồng Ta Ôi, cùng việc sưu tầm, biên dịch các áng văn nghệ dân gian (truyện cổ, dân ca, sử thi, thành ngữ tục ngữ, luật tục.) bằng tiếng nói và chữ viết Tà Ôi như bảo tồn những nét bản sắc trong văn hóa truyền thống của dân tộc này, trước sự tiếp biến văn hóa ồ ạt và xu 2 hướng toàn cầu hóa hiện nay. Các nhu cầu trên có thể được đáp ứng một phần nhờ những nghiên cứu nhiều mặt, trong đó có ngữ âm Ta Ôi.
Trong số các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, tiếng Ta Ôi được quan tâm từ lâu, song xung quanh nó vẫn còn nhiều vấn đề bỏ ngỏ. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về tiếng Ta Ôi gắn liền với những tên tuổi: Richard Watson và Cubuat (1969) Nguyễn Văn Lợi (1985), Đoàn Văn Phúc (2002)., nhưng cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu riêng biệt và sâu sắc về ngữ âm tiếng Ta Ôi ở địa bàn xã A Roàng, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế. Do đó đây có thể coi là một đề tài mới, có ý nghĩa về mặt lí luận nghiên cứu khoa học cũng như mặt thực tiễn. Tình hình nghiên cứu lien quan đến đề tài Số lượng các công trình nghiên cứu về tiếng Ta Ôi được các nhà nghiên cứu ngoài nước tiến hành còn rất hạn chế.
Các nhà nghiên cứu nước ngoài đến với tiếng Ta Ôi chủ yếu là của Viện Ngôn ngữ học Mùa hè Mỹ (The Summer Institute of Linguistics (SIL). Chữ của những người Pa Cô - Ta Ôi đã được tổ chức SIL (The Summer Institute of Linguistics - Viện Ngữ học mùa hè) chế tác ra vào khoảng những năm 60 của thế kỉ XX. Bên cạnh đó, cũng đã có một số công trình nghiên cứu về tiếng Pa Cô - Ta Ôi ở bình diện ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp. Mối quan tâm của các nhà nghiên cứu ngoài nước chủ yếu dành cho tiếng Pa Cô.
Các nhà ngôn ngữ học Việt Nam mới nghiên cứu tiếng Ta Ôi trong mấy chục năm gần đây (đặc biệt sau năm 1975). Ngoài ra, còn có một số công trình, về tiếng Bru - Vân Kiều, Cơ tu., các ngôn ngữ có liên quan và rất gần với tiếng Ta Ôi, của các tác giả Vương Hữu Lễ, Tạ Văn Thông, Hoàng Văn Ma, Nguyễn Văn Lợi, Nguyễn Hữu Hoành. Nhìn lại các công trình nghiên cứu về tiếng Pa Cô - Ta Ôi hoặc có liên quan đến tiếng Tà Ôi, ta có thể đưa ra một số nhận xét như sau: 3 - Các nhà khoa học nước ngoài tập trung chú ý chủ yếu vào tiếng Pa Cô (Pakóh). Tiếng Ta Ôi ít được nghiên cứu.
Mặt phương ngữ hầu như chưa ai nói đến. Các nhà khoa học Việt Nam thường sử dụng tên gọi chung của dân tộc Ta Ôi (Ta-ôih) để gọi cả tiếng Pa Cô và Ta Ôi. - Các tác giả đi trước đã có một số nghiên cứu cơ bản về tiếng Pa Cô - Ta Ôi. Có một số nghiên cứu mang tính ứng dụng: sách hướng dẫn giảng dạy, sách học tiếng, từ điển đối dịch.
Mặt từ vựng – ngữ nghĩa đã được chú ý và có nhiều kết quả.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Trương Thị Hồng Gái (n.d.). Luận án ngôn ngữ học ngữ âm tiếng Ta Ôi tại A Lưới, Thừa Thiên Huế [Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội Việt Nam]. LuanAn.net. https://luanan.net/ngon-ngu-hoc/luan-an-tien-si-ngon-ngu-hoc-ngu-am-tieng-ta-oi-tai-a-luoi-thua-thien-hue
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Luận án ngôn ngữ học ngữ âm tiếng Ta Ôi tại A Lưới, Thừa Thiên Huế" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án nghiên cứu ngữ âm tiếng Ta Ôi qua tư liệu xã A Roàng, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế. Phân tích đặc điểm ngôn ngữ học.
Luận án "Luận án ngôn ngữ học ngữ âm tiếng Ta Ôi tại A Lưới, Thừa Thiên Huế" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội Việt Nam.
Luận án "Luận án ngôn ngữ học ngữ âm tiếng Ta Ôi tại A Lưới, Thừa Thiên Huế" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Luận án ngôn ngữ học ngữ âm tiếng Ta Ôi tại A Lưới, Thừa Thiên Huế" thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học. Danh mục: Ngôn Ngữ Học.
Luận án "Luận án ngôn ngữ học ngữ âm tiếng Ta Ôi tại A Lưới, Thừa Thiên Huế" có bao nhiêu trang?
Luận án "Luận án ngôn ngữ học ngữ âm tiếng Ta Ôi tại A Lưới, Thừa Thiên Huế" có 169 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Luận án ngôn ngữ học ngữ âm tiếng Ta Ôi tại A Lưới, Thừa Thiên Huế" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.