Nghiên cứu chuyển biến múa rối nước Thái Bình từ 1975 đến nay - Luận án tiến sĩ
Luận án TS: Múa rối nước Thái Bình từ 1975 đến nay. Khám phá lịch sử, kỹ thuật, vai trò văn hóa và sự phát triển của loại hình nghệ thuật truyền thống độc đáo.
Văn hóa dân gian
Luan An
Luận án Tiến sĩ Văn hóa học
Năm xuất bản
Số trang
212
Thời gian đọc
32 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Mục lục chi tiết
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (212 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộVIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI NGUYỄN VĂN ĐỊNH MÚA RỐI NƯỚC Ở THÁI BÌNH TỪ KHI ĐẤT NƯỚC THỐNG NHẤT (1975) ĐẾN NAY Chuyên ngành: VĂN HÓA DÂN GIAN Mã số: 9 22 90 41 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS NGUYỄN XUÂN NGHỊ HÀ NỘI - 2018 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi và công trình này đảm bảo các nguyên tắc đạo đức trong việc trích dẫn tài liệu. Nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Định ii MỤC LỤC MỞ ĐẦU. 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, LÝ THUYẾT VẬN DỤNG, ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU .Tổng quan tình hình nghiên cứu. Lý thuyết vận dụng.
Tổng quan về địa bàn nghiên cứu .24 Tiểu kết chƣơng 1 .39 Chương 2: MÚA RỐI NƯỚC THÁI BÌNH TRƯỚC KHI ĐẤT NƯỚC THỐNG NHẤT TRONG BỐI CẢNH MÖA RỐI NƯỚC CHÂU THỔ BẮC BỘ. Châu thổ Bắc Bộ và múa rối nƣớc. Múa rối nƣớc Thái Bình trƣớc khi đất nƣớc thống nhất (1975).57 Tiểu kết chƣơng 2 .76 Chương 3: SỰ CHUYỂN BIẾN CỦA MÖA RỐI NƯỚC THÁI BÌNH TỪ SAU KHI ĐẤT NƯỚC THỐNG NHẤT (1975) ĐẾN NAY. Múa rối nƣớc Thái Bình sau khi đất nƣớc thống nhất.
So sánh hai giai đoạn múa rối nƣớc Thái Bình từ trƣớc và sau năm 1975 .107 Tiểu kết chƣơng 3 .119 Chương 4: LÝ GIẢI VÀ BÀN LUẬN TỪ THỰC TẾ MÖA RỐI NƯỚC THÁI BÌNH NÓI RIÊNG, MÖA RỐI NƯỚC CHÂU THỔ BẮC BỘ NÓI CHUNG. Nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi, phát triển của múa rối nƣớc Thái Bình từ sau khi đất nƣớc thống nhất (1975) đến nay. Sự tồn tại đa dạng của múa rối nƣớc và tƣơng lai của múa rối nƣớc Thái Bình. Từ thực tế múa rối nƣớc Thái Bình nói riêng, múa rối nƣớc châu thổ Bắc Bộ nói chung, bàn luận về các lý thuyết vận dụng .140 Tiểu kết chƣơng 4 .146 Danh mục công trình đã công bố liên quan đến đề tài luận án.148 Tài liệu tham khảo.149 iii DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT GS Giáo sƣ NSND Nghệ sĩ nhân dân Nxb Nhà xuất bản PGS Phó giáo sƣ PV Phỏng vấn THCS Trung học Cơ sở TS Tiến sĩ TSKH Tiến sĩ khoa học tp Thành phố tr.
trang UBND Ủy ban Nhân dân xb xuất bản iv MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Múa rối nƣớc dân gian là một đặc sản của ngƣời Việt. Trƣớc Cách mạng tháng Tám năm 1945, ngƣời ta thấy nó tồn tại dƣới dạng phƣờng hội tại các tỉnh từ Nghệ An trở ra Bắc. Không phải tỉnh nào cũng có múa rối nƣớc, nghệ thuật này có mặt đáng kể ở tỉnh Hà Đông cũ, Sơn Tây cũ, ngoại thành Hà Nội, Bắc Ninh, Hải Dƣơng, Hải Phòng, đặc biệt tập trung ở hai tỉnh Thái Bình và Nam Định.
Từ lâu, những phƣờng rối nƣớc ở Thái Bình mà cụ thể là rối nƣớc làng Nguyễn (Nguyên Xá), rối nƣớc làng Đống (Đông Các) đã đƣợc khán giả trong, ngoài nƣớc biết đến, đã đƣợc giới nghiên cứu quan tâm. Cũng nhƣ nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống khác, có lúc múa rối nƣớc không có đất để phát triển, có lúc đƣợc phục hồi và sau khi đƣợc phục hồi nó luôn luôn phải thích ứng với những sự thay đổi của hoàn cảnh, của thời đại. Trong thế kỷ XX, năm 1945 và năm 1975 đánh dấu hai sự kiện cực kỳ quan trọng của đất nƣớc và dân tộc. Tháng 8/1945, dƣới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đứng lên làm cách mạng, giành lại chính quyền và thành lập chế độ mới.
Ngày 30/4/1975 là ngày đất nƣớc thống nhất. Tuy rằng, các biến cố chính trị không phải lúc nào cũng trùng khớp với những đổi thay về văn hóa nhƣng giới nghiên cứu vẫn thƣờng lấy các mốc 1945 và 1975 trong khi phân chia những giai đoạn khác nhau của một đối tƣợng khảo sát. Ngoài ra, các mốc năm 1945 và năm 1975 không chỉ phản ánh biến cố chính trị mà còn đánh dấu những thời đoạn văn hóa. Thí dụ, về mốc năm 1975, sử gia Trần Quốc Vƣợng và các cộng sự nhận xét: “Từ sau năm 1975, hai miền thống nhất, việc giao lƣu càng diễn ra mạnh mẽ hơn.
Cuối cùng, không thể không thừa nhận sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật, nhất là khoa học thông tin hiện đại, khiến việc giao lƣu văn hóa ở thời hiện đại sẽ diễn ra mạnh mẽ hơn” [140, tr. 1 Về múa rối nƣớc Thái Bình, hầu hết các tài liệu nghiên cứu mà tiêu biểu là công trình của tác giả Nguyễn Huy Hồng chủ yếu mới khảo sát từ 1975 trở về trƣớc. Ngoài ra, từ sau năm 1975 đặc biệt là từ sau năm 1986, văn hóa nghệ thuật nƣớc nhà có nhiều biến chuyển lớn, thời cơ, thuận lợi không ít và thách thức cũng không nhỏ. Trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và quốc tế hóa hiện nay, nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống nhƣ tuồng, chèo, múa rối nƣớc đều đứng trƣớc khó khăn bởi lƣợng khán giả ngày càng có xu hƣớng giảm.
Để tồn tại, những ngƣời có trách nhiệm và các nghệ nhân phải làm gì? Chính vì những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu là Múa rối nước ở Thái Bình từ khi đất nước thống nhất (1975) đến nay. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích nghiên cứu Nghiên cứu và lý giải sự chuyển biến, vận động của múa rối nƣớc Thái Bình dƣới sự tác động của bối cảnh kinh tế, chính trị và văn hóa từ sau khi đất nƣớc thống nhất đến nay. Nhiệm vụ nghiên cứu - Nhận diện múa rối nƣớc ở Thái Bình từ 1975 trở về trƣớc.
- Trình bày múa rối nƣớc ở Thái Bình qua hai phƣờng rối làng Nguyễn và làng Đống từ sau ngày đất nƣớc thống nhất đến nay. - So sánh múa rối nƣớc Thái Bình giữa hai giai đoạn trƣớc và sau ngày đất nƣớc thống nhất. - Giải thích nguyên nhân của sự biến chuyển vƣợt bậc của múa rối nƣớc Thái Bình từ sau ngày đất nƣớc thống nhất đến nay. - Bàn luận về sự tồn tại đa dạng của múa rối nƣớc, suy nghĩ về hƣớng đi của múa rối nƣớc Thái Bình.
- Nhận thức thêm đối với các lý thuyết về mối quan hệ giữa văn hóa dân gian và văn hóa bác học, về biến đổi văn hóa. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu chủ yếu của chúng tôi là múa rối nƣớc tỉnh Thái Bình từ khi thống nhất đất nƣớc đến nay. Tuy nhiên, rối nƣớc Thái Bình không tồn tại một cách chung chung mà hiện diện với tƣ cách là những phƣờng rối, gắn bó với làng quê.
Trƣớc kia Thái Bình có đến bảy phƣờng rối, song trong vòng bảy chục năm nay chỉ có hai phƣờng còn hoạt động. Bởi vậy, về thực chất chúng tôi sẽ nghiên cứu kỹ hai phƣờng rối làng Nguyễn và làng Đống từ sau năm 1975. Để có điều kiện hiểu sâu hơn đối tƣợng, chúng tôi còn dành sự quan tâm nhất định đối với rối nƣớc Thái Bình trƣớc năm 1975. Phạm vi nghiên cứu 3.
Không gian nghiên cứu Không gian nghiên cứu là những làng có phƣờng rối ở tỉnh Thái Bình, cụ thể ở đây là làng Nguyễn và làng Đống. Cả hai làng này nay đều thuộc huyện Đông Hƣng, tỉnh Thái Bình. Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ đề cập đến một số làng khác nhằm làm rõ hơn các nhận xét về hai làng nói trên. Thời gian nghiên cứu Chúng tôi chủ yếu nghiên cứu múa rối nƣớc Thái Bình từ sau khi đất nƣớc thống nhất (30/4/1975) đến nay.
Để so sánh, đối chiếu, chúng tôi cũng quan tâm đến múa rối nƣớc Thái Bình trƣớc năm 1975. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận án 4. Phương pháp luận Tên đề tài luận án có cụm từ “rối nƣớc tỉnh Thái Bình”. Nhƣng rối nƣớc tỉnh Thái Bình không tồn tại một cách chung chung mà tồn tại với tƣ cách là những phƣờng hội của một làng quê cụ thể.
Nhƣ vậy, ở đây có mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Theo ý nghĩa triết học, “phạm trù cái chung đƣợc dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính chung không chỉ có ở một số kết cấu vật chất nhất định, mà còn đƣợc lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tƣợng hay quá trình riêng lẻ khác. Phạm trù cái riêng dùng để chỉ một sự vật, 3 một hiện tƣợng, một quá trình riêng lẻ nhất định” [53, tr. Ở đây, chúng tôi xem rối nƣớc Thái Bình là cái chung và rối nƣớc làng Nguyễn, rối nƣớc làng Đống là cái riêng.
Rối nƣớc Thái Bình chỉ tồn tại trong rối nƣớc các làng quê, đƣợc thể hiện ra thông qua các phƣờng rối. Rối nƣớc làng Nguyễn hay rối nƣớc làng Đống chỉ tồn tại trong mối liên hệ dẫn tới cái chung, có nghĩa là từng phƣờng tồn tại độc lập nhƣng không phải là hoàn toàn tách biệt, cô lập với những phƣờng rối khác. Ngoài ra, khi nghiên cứu các phƣờng rối, chúng tôi luôn luôn xem chúng là một hệ thống, đặt chúng trong bối cảnh của làng và bối cảnh rộng hơn là châu thổ Bắc Bộ; nhìn chúng trong sự vận động để lý giải sự biến đổi, sự xuất hiện yếu tố mới, sự vắng bóng yếu tố cũ. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài luận án, chúng tôi sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu sau.
Trƣớc hết là phƣơng pháp tập hợp tài liệu thứ cấp. Tài liệu viết về múa rối nƣớc nói chung, múa rối nƣớc Thái Bình nói riêng không nhiều. Đó là những chuyên luận, luận án tiến sĩ, luận văn cao học và những bài đăng tải trên các tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Văn hóa dân gian. Chúng tôi đặc biệt quan tâm đến những tài liệu đánh máy, chƣa xuất bản mà tác giả không phải là những ngƣời viết chuyên nghiệp hoặc có trình độ cao.
Trong số đó, có tập đánh máy của nghệ nhân Hoàng Duy Luyến viết về rối nƣớc làng Nguyễn từ năm 2006 trở về trƣớc [81]. Thứ hai, chúng tôi thực hiện các cuộc điền dã, khảo sát, phỏng vấn tại địa phƣơng. Từ năm 2006 đến nay, chúng tôi đã về khảo sát tại làng Đống, làng Nguyễn, làng Tuộc, làng Kỳ Hội tất cả 8 đợt. Để có một cái nhìn bao quát, thời gian đầu chúng tôi thƣờng phỏng vấn nhanh trong một thời gian ngắn nhiều ngƣời dân địa phƣơng và học sinh tại hai làng Nguyễn và Đống.
Tại hai làng này không có trƣờng phổ thông trung học, nên chúng tôi thực hiện các cuộc phỏng vấn nhanh tại Trƣờng THCS Nguyên Xá và Trƣờng 4 THCS Đông Các.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Múa rối nước Thái Bình từ 1975 đến nay - Luận án TS" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án TS: Múa rối nước Thái Bình từ 1975 đến nay. Khám phá lịch sử, kỹ thuật, vai trò văn hóa và sự phát triển của loại hình nghệ thuật truyền thống độc đáo.
Luận án "Múa rối nước Thái Bình từ 1975 đến nay - Luận án TS" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội. Năm bảo vệ: 2018.
Luận án "Múa rối nước Thái Bình từ 1975 đến nay - Luận án TS" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Múa rối nước Thái Bình từ 1975 đến nay - Luận án TS" thuộc chuyên ngành Văn hóa dân gian. Danh mục: Nghiên Cứu Văn Hóa.
Luận án "Múa rối nước Thái Bình từ 1975 đến nay - Luận án TS" có bao nhiêu trang?
Luận án "Múa rối nước Thái Bình từ 1975 đến nay - Luận án TS" có 212 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Múa rối nước Thái Bình từ 1975 đến nay - Luận án TS" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.