Luận án Tiến sĩ: Di sản hóa ở Việt Nam - Trường hợp Đền Hát Môn, Phúc Thọ, Hà Nội

Nghiên cứu tiến sĩ về quá trình di sản hóa tại đền Hát Môn, huyện Phúc Thọ, Hà Nội. Phân tích giá trị lịch sử và giải pháp bảo tồn di tích lịch sử văn hóa.

Chuyên ngành

Văn hóa học

Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án tiến sĩ

Năm xuất bản

Số trang

218

Thời gian đọc

33 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU
1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.2. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu
2. CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH VINH DANH DI TÍCH VÀ LỄ HỘI ĐỀN HÁT MÔN
2.1. Quá trình vinh danh đền Hát Môn thành di tích Quốc gia đặc biệt
2.2. Quá trình vinh danh lễ hội đền Hát Môn thành di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
2.3. Nhà nước và cộng đồng trong quá trình vinh danh di tích và lễ hội đền Hát Môn
3. CHƯƠNG 3: QUÁ TRÌNH HẬU VINH DANH DI TÍCH VÀ LỄ HỘI ĐỀN HÁT MÔN
3.1. Sự biến đổi của di tích và lễ hội sau vinh danh
3.2. Nhà nước và cộng đồng trong quá trình hậu vinh danh di tích và lễ hội đền Hát Môn
4. CHƯƠNG 4: DI SẢN HÓA ĐỀN HÁT MÔN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ BÀN LUẬN
4.1. Các động thái chính trị - xã hội của việc vinh danh di sản
4.2. Những tác động của di sản hóa
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU TRONG LUẬN ÁN
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Di sản hóa ở việt nam nghiên cứu trường hợp đền hát môn huyện phúc thọ thành phố hà nội luận án tiến sĩ

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (218 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRẦN THỊ LAN DI SẢN HÓA Ở VIỆT NAM: TRƯỜNG HỢP ĐỀN HÁT MÔN, HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC Hà Nội - 2019 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRẦN THỊ LAN DI SẢN HÓA Ở VIỆT NAM: TRƯỜNG HỢP ĐỀN HÁT MÔN, HUYỆN PHÚC THỌ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI Ngành: Văn hóa học Mã số: 9.40 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HÓA HỌC Người hướng dẫn khoa học: 1. Lƣơng Hồng Quang 2. Hoàng Cầm Hà Nội - 2019 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận án Tiến sĩ: Di sản hóa ở Việt Nam: Trƣờng hợp đền Hát Môn, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS. Lương Hồng Quang và TS.

Các trích dẫn, số liệu và kết quả nêu trong Luận án là trung thực và có xuất xứ rõ ràng. Hà Nội, ngày tháng năm 2019 Tác giả luận án Trần Thị Lan MỤC LỤC MỞ ĐẦU .1 Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU. Tổng quan tình hình nghiên cứu. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu .50 Chƣơng 2: QUÁ TRÌNH VINH DANH DI TÍCH VÀ LỄ HỘI ĐỀN HÁT MÔN.

Quá trình vinh danh đền Hát Môn thành di tích Quốc gia đặc biệt. Quá trình vinh danh lễ hội đền Hát Môn thành di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Nhà nước và cộng đồng trong quá trình vinh danh di tích và lễ hội đền Hát Môn .76 Chƣơng 3: QUÁ TRÌNH HẬU VINH DANH DI TÍCH VÀ LỄ HỘI ĐỀN HÁT MÔN. Sự biến đổi của di tích và lễ hội sau vinh danh.

Nhà nước và cộng đồng trong quá trình hậu vinh danh di tích và lễ hội đền Hát Môn .128 Chƣơng 4: DI SẢN HÓA ĐỀN HÁT MÔN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ BÀN LUẬN. Các động thái chính trị - xã hội của việc vinh danh di sản. Những tác động của di sản hóa .158 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN .163 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .164 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN Từ viết tắt Từ viết đầy đủ BBVDT Ban Bảo vệ di tích Cb Chủ biên DSVH Di sản văn hóa NCS Nghiên cứu sinh Nxb Nhà xuất bản STT Số thứ tự tr trang UBND Ủy ban nhân dân UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc VHTTDL Văn hóa, Thể thao và Du lịch DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU TRONG LUẬN ÁN STT Tên bảng Số trang 1 Bảng 1: Các dự án trùng tu, xây mới tại di tích đền 81-82 Hát Môn từ 2000-2018 2 Bảng 2: Mô hình quản lý nhà nước đền Hát Môn 101 3 Bảng 3: Hỗ trợ kinh phí thành viên Ban Bảo vệ di 113 tích đền Hát Môn 4 Bảng 4: Sự tham gia của chính quyền và cộng đồng 122 trong tổ chức lễ hội MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong vài thập kỉ trở lại đây, di sản văn hóa (DSVH) đã trở thành một chủ đề được giới nghiên cứu khoa học, các cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng quan tâm.

Điều này cho thấy di sản thiên nhiên, di tích và thực hành văn hóa ngày càng có vai trò, chức năng và ý nghĩa quan trọng trong các lĩnh vực văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội. Ở Việt Nam, từ sau đổi mới, việc phục hồi và bảo vệ các DSVH, cả vật thể và phi vật thể đã thể hiện rõ chủ trương của nhà nước trong việc xem văn hóa là “mục tiêu và động lực cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998). Cùng với đó, nhiều DSVH đã được kiểm kê, lựa chọn và làm hồ sơ xếp hạng di sản ở các cấp khác nhau: cấp tỉnh, cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt đối với di tích; cấp quốc gia đối với các di sản DSVH văn hóa phi vật thể. Một số DSVH “tiêu biểu” đã được đưa vào danh mục do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để xây dựng hồ sơ đệ trình Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc (UNESCO) vinh danh trong các Danh sách Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, Di sản tư liệu thế giới, Kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại (Danh sách DSVH phi vật thể đại diện của nhân loại).

Theo thống kê, tính đến tháng 7-2018, Ủy ban nhân dân (UBND) các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã xếp hạng gần 10.000 di tích cấp tỉnh, thành phố; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) đã xếp hạng 3.463 di tích quốc gia; và Thủ tướng Chính phủ đã xếp hạng 95 di tích quốc gia đặc biệt; đồng thời có trên 4 vạn di tích đã được kiểm kê theo quy định của Luật DSVH; 61.669 DSVH phi vật thể của 63 tỉnh/thành phố đã được kiểm kê; trong đó có 249 DSVH phi vật thể được Bộ VHTTDL đưa vào danh mục DSVH phi vật thể quốc gia. Trong số các DSVH của Việt Nam, UNESCO đã ghi danh 08 di sản vào danh mục Di sản thế giới theo Công ước UNESCO 1972 về Bảo vệ DSVH và Thiên nhiên Thế giới; 12 DSVH phi vật thể. Ngoài ra, theo Chương trình Ký ức thế giới của UNESCO, tính đến nay, 1 Việt Nam đã có 07 di sản tư liệu được UNESCO ghi danh (gồm 03 di sản tư liệu thế giới và 04 di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương) [23, tr. Đặc biệt, việc vinh danh, xếp hạng DSVH /di sản hóa đã trở thành một trong những hoạt động quan trọng để thực tế hóa định hướng phát triển văn hóa quốc gia khi Việt Nam ban hành Luật DSVH năm 2001.

Nó được coi là một tác nhân làm thay đổi thực hành văn hóa của cộng đồng, củng cố mối quan hệ với nhà nước của các chủ thể văn hóa, gắn kết DSVH với những sáng tạo văn hóa mới, khẳng định bản sắc văn hóa thời hiện đại. Mặt khác, trong quá trình di sản hóa, việc lựa chọn các DSVH nào, phục hồi, xếp hạng nó ra sao, các mối quan hệ giữa cộng đồng, nhà nước trong quá trình đó như thế nào… là một vấn đề khá phức tạp và thể hiện nhiều quan điểm khác nhau, những động thái chính trị, những mối tương tác quyền lực của các nhóm xã hội trong bối cảnh Việt Nam đương đại. Đền Hát Môn (huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội) là một di tích cổ ở đồng bằng sông Hồng thờ Hai Bà Trưng - những nhân vật được xem là biểu tượng nói lên tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam. Việc thờ phụng Hai Bà Trưng từ hàng nghìn năm ở đây không chỉ có ý nghĩa về mặt tâm linh đối với cộng đồng địa phương mà còn có tầm quan trọng đặc biệt trong việc duy trì và nâng cao tâm thức của người Việt về cội nguồn, về lịch sử chung của quốc gia - dân tộc.

Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà trong các bài phát biểu quan trọng của nhiều nhà chính trị - ngoại giao trên thế giới khi đến Việt Nam cũng đã gợi nhắc về hình tượng Hai Bà Trưng như một biểu tượng về sự đoàn kết, khẳng định tinh thần, triết lý của cộng đồng quốc gia - dân tộc Việt Nam (bài phát biểu của cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia - tháng 5/2016; bài phát biểu tại APEC của Tổng thống Donald Trump - năm 2017; chuyến thăm đền Hai Bà Trưng của Đại tướng Robert B. Brown - Tư lệnh Bộ Tư lệnh Lục quân Thái Bình Dương Mỹ tháng 8/2018…). Nằm trong xu hướng chung về di sản hóa, di tích đền Hát Môn đã được nhà nước lựa chọn để vinh danh, xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt năm 2013, lễ hội đền Hát Môn được vinh danh là DSVH phi vật thể quốc gia năm 2016. Trong thực 2 tế, không phải bất cứ các thực hành/biểu tượng văn hóa nào cũng trở thành DSVH mà quá trình di sản hóa nói chung, di sản hóa đền Hát Môn nói riêng là một quá trình lựa chọn với sự tham gia của nhiều bên liên quan.

Và khi được ghi danh, được gán nhãn danh hiệu DSVH các cấp sẽ kéo theo nhiều vấn đề như nhà nước, chính quyền địa phương, cộng đồng, các công ty du lịch… “sử dụng” DSVH cho nhiều mục đích khác nhau. Khi nhà nước can thiệp ngày càng sâu vào quản lý DSVH sau khi được vinh danh cũng sẽ dẫn tới hệ lụy là cộng đồng có nguy cơ bị “ngoài lề hóa” đối với chính di sản mà trong quá khứ họ là người sáng tạo, nắm giữ và thực hành… Quá trình di sản hóa cũng có những tác động đến suy nghĩ, nhận thức và cách thức thực hành văn hóa truyền thống của cộng đồng có di sản; dẫn tới các động thái tương tác đa chiều trong mối quan hệ giữa cộng đồng, nhà nước và DSVH. Một quá trình chồng chéo, đan xen với nhiều bên tham gia làm cho chính bản thân DSVH bị biến đổi. Hay nói một cách khác, quá trình di sản hóa đã tạo nên một sân chơi, một diễn đàn, một công cụ để nhiều bên có thể tham gia với các động năng phức tạp, đa tầng khác nhau.

Trong thực tế hiện nay, những thảo luận đặt ra xung quanh quá trình di sản hóa, tạo dựng DSVH ở Việt Nam đang đặt ra nhiều vấn đề cấp thiết về lý luận và thực tiễn đòi hỏi cần phải đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu. Trên cơ sở đó, tác giả đã lựa chọn vấn đề: Di sản hóa ở Việt Nam: Trƣờng hợp đền Hát Môn, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội làm đề tài luận án tiến sĩ của mình, với mong muốn đóng góp một góc nhìn mới trong bức tranh nghiên cứu vốn đa dạng và phong phú về DSVH ở Việt Nam trong bối cảnh xã hội đương đại. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích nghiên cứu Luận án nghiên cứu về quá trình lựa chọn, vinh danh di tích và lễ hội đền Hát Môn trở thành DSVH để biện giải các động thái chính trị, xã hội và kinh tế của vấn đề di sản hóa ở Việt Nam cũng như các tác động của quá trình di sản hóa đối với việc bảo vệ, phát huy giá trị DSVH vật thể và phi vật thể.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Di sản hóa Đền Hát Môn: Nghiên cứu trường hợp Phúc Thọ, Hà Nội" nghiên cứu về vấn đề gì?

Nghiên cứu tiến sĩ về quá trình di sản hóa tại đền Hát Môn, huyện Phúc Thọ, Hà Nội. Phân tích giá trị lịch sử và giải pháp bảo tồn di tích lịch sử văn hóa.

Luận án "Di sản hóa Đền Hát Môn: Nghiên cứu trường hợp Phúc Thọ, Hà Nội" được bảo vệ tại trường nào?

Luận án này được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội. Năm bảo vệ: 2019.

Luận án "Di sản hóa Đền Hát Môn: Nghiên cứu trường hợp Phúc Thọ, Hà Nội" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Di sản hóa Đền Hát Môn: Nghiên cứu trường hợp Phúc Thọ, Hà Nội" thuộc chuyên ngành Văn hóa học. Danh mục: Nghiên Cứu Văn Hóa.

Luận án "Di sản hóa Đền Hát Môn: Nghiên cứu trường hợp Phúc Thọ, Hà Nội" có bao nhiêu trang?

Luận án "Di sản hóa Đền Hát Môn: Nghiên cứu trường hợp Phúc Thọ, Hà Nội" có 218 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Di sản hóa Đền Hát Môn: Nghiên cứu trường hợp Phúc Thọ, Hà Nội" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter