Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo ngoại giao văn hóa từ năm 2006 đến năm 2016 - Luận án tiến sĩ

Đảng CSVN: 10 năm ngoại giao văn hóa (2006-2016). Khám phá vai trò, chiến lược và thành tựu quan trọng.

Tác giả

Luan An

Số trang

276

Thời gian đọc

42 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt nội dung

I. ĐCSVN Lãnh Đạo Ngoại Giao Văn Hóa Tổng Quan Quan Trọng

Ngoại giao văn hóa khẳng định tầm quan trọng trong hội nhập quốc tế. Hoạt động này giúp quốc gia giới thiệu bản sắc riêng. Đồng thời, nó tăng cường hiểu biết lẫn nhau. Văn hóa được sử dụng như một "quyền lực mềm" để bảo vệ giá trị. Nó nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước nhận thức rõ vai trò văn hóa. Văn hóa là nền tảng tinh thần, mục tiêu, động lực phát triển kinh tế - xã hội. Văn hóa cũng là yếu tố then chốt tạo lập, duy trì, phát triển quan hệ đối ngoại. Mục tiêu hướng tới là hòa bình, ổn định, thúc đẩy giao lưu, học hỏi. Vai trò lãnh đạo của ĐCSVN trong văn hóa đối ngoại được nhấn mạnh. Ngoại giao văn hóa trở thành nội dung đặc biệt trong chiến lược đối ngoại toàn diện của Việt Nam. Hoạt động này sử dụng văn hóa làm đối tượng và phương tiện đạt mục tiêu đối ngoại. Nó tạo hình ảnh tốt đẹp, quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới và ngôn ngữ quốc gia. Đây là sự đổi mới tư duy đối ngoại của Đảng và Nhà nước, coi trọng nội dung văn hóa trong hoạt động ngoại giao. Hợp tác quốc tế về văn hóa là nhiệm vụ trọng tâm. Nó giúp tiếp thu tinh hoa nhân loại, làm phong phú giá trị truyền thống. Qua đó, một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc được xây dựng.

1.1. Vai trò then chốt của văn hóa trong hội nhập quốc tế.

Văn hóa giữ vị trí trung tâm trong quá trình hội nhập. Nó là cầu nối để các dân tộc hiểu nhau. Hoạt động giao lưu văn hóa giúp xây dựng hình ảnh đất nước. Các quốc gia phát triển niềm tin, củng cố quan hệ hợp tác. Hội nhập quốc tế về văn hóa mang lại nhiều lợi ích. Nó tạo nền tảng vững chắc cho hợp tác đa lĩnh vực.

1.2. Ngoại giao văn hóa Sức mạnh mềm quốc gia Việt Nam.

Ngoại giao văn hóa là công cụ hiệu quả. Nó giúp Việt Nam thể hiện "sức mạnh mềm". Sức mạnh này không dựa vào quân sự hay kinh tế. Nó đến từ sự hấp dẫn của văn hóa, giá trị dân tộc. Sức mạnh mềm Việt Nam 2006-2016 được phát huy. Hoạt động ngoại giao văn hóa góp phần tăng cường ảnh hưởng.

1.3. Định hình chính sách Tư duy đổi mới của Đảng.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã có nhiều chủ trương về văn hóa. Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998) là một điển hình. Nó định hướng xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Chủ trương này là đường lối đối ngoại văn hóa của Đảng. Nó thể hiện sự đổi mới trong nhận thức về văn hóa. Đảng coi văn hóa là yếu tố chiến lược trong phát triển.

II. Chiến Lược Ngoại Giao Văn Hóa Đảng Giai Đoạn 2006 2010

Giai đoạn 2006-2010 chứng kiến nhiều chuyển biến trong chính sách đối ngoại. Đảng Cộng sản Việt Nam đã cụ thể hóa chiến lược ngoại giao văn hóa giai đoạn 2006-2016. Các chủ trương được xây dựng dựa trên nền tảng vững chắc. Mục tiêu là phát huy tối đa giá trị văn hóa. Từ đó, phục vụ cho sự phát triển bền vững của đất nước. Đây là một phần quan trọng của chính sách ngoại giao văn hóa Việt Nam.

2.1. Cơ sở hoạch định chủ trương ngoại giao văn hóa 2006 2010.

Việc hoạch định chủ trương dựa trên nhiều yếu tố. Tình hình thế giới có nhiều thay đổi. Yêu cầu phát triển đất nước cũng đặt ra. Nhận thức sâu sắc về văn hóa quốc gia được củng cố. Các bài học kinh nghiệm từ các giai đoạn trước cũng được nghiên cứu. Đây là nền tảng vững chắc cho đường lối đối ngoại văn hóa của Đảng.

2.2. Chủ trương Đảng về ngoại giao văn hóa 2006 2010.

Chủ trương tập trung vào việc quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới. Nó nhấn mạnh giao lưu, hợp tác quốc tế. Mục tiêu là tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Đồng thời, bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc. Các hoạt động ngoại giao văn hóa được đẩy mạnh. Chính sách này góp phần định hình hình ảnh quốc gia.

2.3. Quá trình chỉ đạo thực hiện đường lối đối ngoại văn hóa.

Đảng đã có sự chỉ đạo sát sao. Các bộ, ngành liên quan đã phối hợp chặt chẽ. Nhiều hoạt động cụ thể được triển khai. Từ các lễ hội văn hóa đến các chương trình trao đổi. Mục tiêu là biến chủ trương thành hành động. Công tác đối ngoại văn hóa của Việt Nam được thực hiện bài bản.

III. Đường Lối Đối Ngoại Văn Hóa Đảng Từ 2011 Đến 2016

Giai đoạn 2011-2016, đường lối đối ngoại văn hóa của Đảng tiếp tục phát triển. Việt Nam đối mặt với những thách thức và cơ hội mới. Tình hình quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp. Việc hội nhập sâu rộng hơn đòi hỏi sự thích ứng. Chính sách ngoại giao văn hóa Việt Nam được điều chỉnh. Mục tiêu là tăng cường hiệu quả. Nó phục vụ tốt hơn cho lợi ích quốc gia.

3.1. Nhân tố mới tác động đến chủ trương ngoại giao văn hóa.

Sự phát triển của công nghệ thông tin là một nhân tố quan trọng. Toàn cầu hóa tiếp tục diễn ra mạnh mẽ. Các mối quan hệ quốc tế ngày càng đa dạng. Những yếu tố này ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách. Đảng xem xét các yếu tố này để điều chỉnh chiến lược ngoại giao văn hóa giai đoạn 2006-2016.

3.2. Chủ trương Đảng về ngoại giao văn hóa giai đoạn 2011 2016.

Chủ trương tập trung vào nâng cao chất lượng. Phát huy tối đa hiệu quả của các hoạt động. Đẩy mạnh giao lưu văn hóa quốc tế của Việt Nam. Chú trọng hợp tác đa phương và song phương. Tăng cường giới thiệu văn hóa Việt Nam một cách sâu sắc. Khai thác thế mạnh của ngoại giao nhân dân.

3.3. Tổ chức triển khai công tác đối ngoại văn hóa hiệu quả.

Việc triển khai được thực hiện đồng bộ. Các hoạt động được phối hợp chặt chẽ hơn. Sử dụng đa dạng các kênh và phương thức. Từ ngoại giao chính thức đến các hoạt động văn hóa cộng đồng. Công tác đối ngoại văn hóa của Việt Nam đạt được nhiều kết quả. Nó góp phần vào việc xây dựng hình ảnh quốc gia.

IV. Tác Động Sức Mạnh Mềm Việt Nam Qua Ngoại Giao Văn Hóa

Ngoại giao văn hóa mang lại những tác động tích cực. Nó góp phần kiến tạo sức mạnh mềm Việt Nam 2006-2016. Sức mạnh này giúp tăng cường ảnh hưởng quốc gia. Nó xây dựng hình ảnh đất nước thân thiện, hòa bình. Ngoại giao văn hóa là cầu nối giữa Việt Nam và thế giới. Nó thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau. Các hoạt động được triển khai rộng khắp.

4.1. Quảng bá bản sắc hình ảnh đất nước Việt Nam.

Các chương trình văn hóa được tổ chức ở nước ngoài. Lễ hội, triển lãm, biểu diễn nghệ thuật. Ngôn ngữ Việt Nam được giới thiệu. Di sản văn hóa được UNESCO công nhận. Những hoạt động này quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới. Chúng tạo dựng một hình ảnh đẹp về đất nước, con người.

4.2. Nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.

Thông qua văn hóa, Việt Nam khẳng định vị thế. Đất nước trở thành thành viên tích cực. Tham gia nhiều tổ chức quốc tế. Giao lưu văn hóa giúp Việt Nam thể hiện trách nhiệm. Nó góp phần vào hòa bình, hợp tác khu vực. Hội nhập quốc tế về văn hóa mang lại lợi ích lớn.

4.3. Phát triển quan hệ hợp tác đa phương song phương.

Giao lưu văn hóa tạo nền tảng tin cậy. Các mối quan hệ được củng cố. Hợp tác trên các lĩnh vực khác được mở rộng. Kinh tế, chính trị, giáo dục đều hưởng lợi. Giao lưu văn hóa quốc tế của Việt Nam là kênh hiệu quả. Nó xây dựng cầu nối bền vững với các quốc gia.

V. Công Tác Đối Ngoại Văn Hóa Nhận Xét Kinh Nghiệm

Giai đoạn 2006-2016, công tác đối ngoại văn hóa của Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu. Bên cạnh đó, vẫn còn những hạn chế cần được khắc phục. Việc đánh giá khách quan giúp rút ra bài học kinh nghiệm. Điều này quan trọng cho việc định hướng tương lai. Nó góp phần hoàn thiện chính sách ngoại giao văn hóa Việt Nam.

5.1. Những nhận xét về quá trình lãnh đạo thực hiện.

Đảng đã thể hiện vai trò lãnh đạo của ĐCSVN trong văn hóa đối ngoại. Các chủ trương, đường lối được ban hành kịp thời. Sự chỉ đạo đã giúp định hướng hoạt động. Tuy nhiên, việc phối hợp đôi khi còn chưa đồng bộ. Nguồn lực cho ngoại giao văn hóa cần được tối ưu hóa.

5.2. Kinh nghiệm rút ra từ ngoại giao văn hóa Việt Nam.

Cần phát huy sức mạnh tổng hợp. Kết hợp giữa ngoại giao nhà nước và ngoại giao nhân dân. Chú trọng đầu tư chiều sâu cho nội dung văn hóa. Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Đảng cộng sản việt nam lãnh đạo ngoại giao văn hóa từ năm 2006 đến năm 2016

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (276 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH DƯƠNG THỊ MAI HOA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO NGOẠI GIAO VĂN HÓA TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2016 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM HÀ NỘI - 2025 HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH DƯƠNG THỊ MAI HOA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM LÃNH ĐẠO NGOẠI GIAO VĂN HÓA TỪ NĂM 2006 ĐẾN NĂM 2016 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH: LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM Mã số: 9229015 Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐẶNG KIM OANH HÀ NỘI - 2025 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các tài liệu, số liệu, trích dẫn trong luận án là trung thực, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Hà Nội, ngày 20 tháng 03 năm 2025 Tác giả Dương Thị Mai Hoa MỤC LỤC MỞ ĐẦU.

1 Chương 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI. Những công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án. Khái quát kết quả nghiên cứu của những công trình khoa học đã công bố và những vấn đề luận án tập trung nghiên cứu. 27 Chương 2 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐỐI VỚI NGOẠI GIAO VĂN HÓA (2006-2010) .Một số khái niệm những yếu tố tác động đến hoạch định chủ trương của đảng về ngoại giao văn hóa.

Những cơ sở để đảng hoạch định chủ trương về ngoại giao văn hóa. Chủ trương của Đảng cộng sản Việt Nam về ngoại giao văn hóa (2006-2010). Quá trình chỉ đạo thực hiện. 62 Chương 3 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO CỦA ĐẢNG VỀ NGOẠI GIAO VĂN HÓA (2011 - 2016).

Những nhân tố mới tác động đến hoạch định chủ trương của đảng về ngoại giao văn hóa. Chủ trương của đảng cộng sản Việt Nam về ngoại giao văn hóa (2011-2016). Quá trình chỉ đạo thực hiện. 117 Chương 4 NHẬN XÉT VÀ KINH NGHIỆM.

Một số nhận xét. Một số kinh nghiệm. 191 DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN. 196 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.

220 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT Viết tắt Tên đầy đủ Dịch ra tiếng Việt ASEAN Association of Southeast Hiệp hội các quốc gia Đông Asian Nations Nam Á EU European Union Liên minh Châu Âu NVNONN Người Việt Nam ở nước ngoài UNESCO The United Nations Tổ chức Giáo dục, Khoa học Educational, Scientific and và Văn hoá của Liên Hợp Cultural Organization Quốc 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Thực tế cho thấy, ngày nay trong quá trình hội nhập quốc tế, ngoại giao văn hóa giữ vai trò ngày càng quan trọng. Nhờ ngoại giao văn hóa, các quốc gia giới thiệu bản sắc của mình đến các nước trên thế giới, đồng thời qua đó cũng nắm được những điểm yếu, mạnh của nhau, từ đó đạt được mục tiêu đề ra trong chính sách phát triển của đất nước mình. Nhiều nước sử dụng văn hóa trong ngoại giao như “quyền lực mềm” nhằm bảo vệ những giá trị văn hóa cũng như góp phần quan trọng nâng cao năng lực, vị thế của quốc gia đó trên trường quốc tế.

Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã xác định, một mặt, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu cũng vừa là động lực để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển; mặt khác, nhận thức ngày càng rõ vai trò, vị trí của văn hóa trong việc tạo lập, duy trì và phát triển quan hệ đối ngoại, nhằm đạt được các mục tiêu quan trọng của quốc gia là hòa bình, ổn định, thúc đẩy sự giao lưu học hỏi, hiểu biết cũng như chia sẻ lẫn nhau giữa các dân tộc. Ngoại giao về văn hóa đã trở thành một nội dung đặc biệt trong chiến lược đối ngoại cũng như ngoại giao toàn diện của Việt Nam, ngoại giao văn hóa “liên quan đến việc sử dụng văn hóa như là đối tượng và phương tiện nhằm đạt được những mục tiêu cơ bản của chính sách đối ngoại của quốc gia; tạo hình ảnh tốt đẹp của đất nước, quảng bá văn hóa và ngôn ngữ quốc gia ở nước ngoài” [97, tr. Đây là một biểu hiện đổi mới trong tư duy đối ngoại của Đảng và Nhà nước, chính là coi trọng nội dung văn hóa trong hoạt động ngoại giao. Trong đó, hoạt động hợp tác quốc tế về văn hóa ngày càng được chú trọng phát triển: Việc mở rộng nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về văn hóa là nhiệm vụ trọng tâm, trong chiến lược phát triển của Việt Nam.

Hợp tác và giao lưu quốc 2 tế về văn hóa giúp đạt các mục tiêu mà chính sách văn hóa đặt ra, đó là tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, làm phong phú và sâu sắc thêm những giá trị văn hóa truyền thống của đất nước, góp phần xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Không những thế, hợp tác về văn hóa còn là nền tảng để mở rộng quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực khác [29]. Từ những hoạt động giao lưu văn hóa, các quốc gia, dân tộc trên thế giới hiểu biết rõ hơn về văn hóa cũng như đất nước, con người Việt Nam, từng bước xây dựng hình ảnh, niềm tin đối với Việt Nam, đưa quan hệ, hợp tác giữa Việt Nam với các nước ngày càng được củng cố, phát triển hơn trong quá trình hội nhập quốc tế. Trong quá trình lãnh đạo xây dựng, phát triển văn hóa, đặc biệt thời kỳ đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã có nhiều chủ trương về văn hóa, ngoại giao văn hóa, đáng chú ý là Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII (1998) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” [57].

Đây được coi là chiến lược văn hóa của Đảng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Hội nghị lần thứ 25 của ngành Ngoại giao với chủ đề “Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại trong giai đoạn mới, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Ðại hội toàn quốc lần thứ X của Ðảng” (2006) đã thống nhất và đi vào triển khai đồng bộ chính sách ngoại giao dựa trên 3 trụ cột: Ngoại giao chính trị, Ngoại giao kinh tế và Ngoại giao văn hóa. Nhận thức rõ tầm quan trọng của ngoại giao văn hóa, sau Hội nghị ngoại giao lần thứ 25, đồng thời với việc đẩy mạnh ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế lên tầm cao mới, Bộ Ngoại giao cũng triển khai đồng loạt nhiều biện pháp đưa ngoại giao văn hóa thực sự trở thành một trong ba trụ cột của ngành Ngoại giao Việt Nam. Ngoại giao văn hóa bắt đầu được sử dụng như một công cụ, phương tiện quan trọng, cần thiết trong thực hiện đường lối đối ngoại “thêm bạn, bớt thù”, “đa phương hóa” các mối quan hệ quốc tế của Việt Nam.

Ngoại giao về 3 văn hóa lúc này được xác định là một nội dung quan trọng gắn chặt với ngoại giao về chính trị cũng như ngoại giao về kinh tế để phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm phong phú cũng như sâu sắc hơn nền văn hóa Việt Nam. Cùng với ngoại giao về chính trị và ngoại giao kinh tế, thì ngoại giao văn hóa đã tích cực quảng bá hình ảnh của đất nước cũng như con người Việt Nam ra thế giới. Bên cạnh đó, các hoạt động quảng bá nhằm khơi dậy, phát triển lòng yêu quê hương, đất nước và tự hào dân tộc của nhân dân Việt Nam; từ đó, khuyến khích việc giữ gìn, bảo tồn cũng như phát huy các giá trị văn hóa và truyền thống của dân tộc Việt Nam. Đây thực sự là một kênh thông tin hiệu quả góp phần vào thành công chung trong các hoạt động đối ngoại, từng bước nâng cao uy tín cũng như vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Tuy nhiên, trên thực tế, nếu như ngoại giao chính trị cũng như ngoại giao về kinh tế luôn được nhắc đến với nhiều thành tựu lớn góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, thì ngoại giao về văn hóa là một lĩnh vực mới mẻ và chưa nhận được sự quan tâm đúng mức. Ngoại giao văn hóa vẫn là một nội dung mới cần được tiếp tục nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn nữa chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam trong việc mở rộng quan hệ ngoại giao văn hóa, góp phần định hướng việc thực thi chính sách ngoại giao văn hóa của Đảng, nhằm làm cho ngoại giao văn hóa đủ khả năng trở thành một động lực của công cuộc phát triển, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Chính vì vậy nghiên cứu sinh lựa chọn nghiên cứu đề tài: “Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo ngoại giao văn hóa từ năm 2006 đến năm 2016” làm đề tài luận án tiến sĩ lịch sử, ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.

Mục đích nghiên cứu Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về ngoại giao văn hóa từ năm 2006 đến năm 2016; đúc kết một số kinh nghiệm có giá trị tham khảo. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được những mục đích trên, luận án có các nhiệm vụ sau: - Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án - Phân tích làm rõ các yếu tố tác động đến sự lãnh đạo của Đảng về ngoại giao văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 2006 đến năm 2016. - Hệ thống hóa, phân tích làm rõ chủ trương và sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về ngoại giao văn hóa qua hai giai đoạn 2006-2010 và 2011-2016 và nêu một số hoạt động tiêu biểu thực hiện chủ trương này trong thực tiễn. - Nhận xét và đúc kết kinh nghiệm từ quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo ngoại giao văn hóa từ năm 2006 đến năm 2016 và đúc kết một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu - Quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam; quá trình chỉ đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam liên quan đến ngoại giao văn hóa từ năm 2006 đến năm 2016. - Các chủ thể thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam liên quan đến ngoại giao văn hóa từ năm 2006 đến năm 2016.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo ngoại giao văn hóa (2006-2016)" nghiên cứu về vấn đề gì?

Đảng CSVN: 10 năm ngoại giao văn hóa (2006-2016). Khám phá vai trò, chiến lược và thành tựu quan trọng.

Luận án "Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo ngoại giao văn hóa (2006-2016)" có bao nhiêu trang?

Luận án "Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo ngoại giao văn hóa (2006-2016)" có 276 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo ngoại giao văn hóa (2006-2016)" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter