Quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam - Luận án Tiến sĩ Luật học
Luận án tiến sĩ luật học nghiên cứu quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo vệ quyền lợi.
Luan An
Luận án tiến sỹ luật học
Năm xuất bản
Số trang
186
Thời gian đọc
28 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự hiện nay
- Số trang:
- 186 trang
- Trường:
- Học viện Khoa học Xã hội
- Chuyên ngành:
- Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
- Tác giả:
- Đinh Thị Mai
- Năm:
- 2014
Tóm tắt nội dung luận án
I. Quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự hiện nay
Địa vị pháp lý của người bị hại trong tố tụng hình sự giữ vai trò trọng tâm trong toàn bộ tiến trình giải quyết vụ án. Pháp luật hình sự Việt Nam luôn đề cao việc tôn trọng, bảo vệ quyền con người và quyền công dân. Bảo đảm quyền lợi hợp pháp của nạn nhân thể hiện bản chất nhân văn sâu sắc của nền tư pháp hiện đại. Các quy định tố tụng phân định rõ ràng quyền hạn của người bị hại cùng trách nhiệm tương ứng của cơ quan có thẩm quyền. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án phải bảo đảm đầy đủ các điều kiện cần thiết để nạn nhân thực hiện quyền lợi từ giai đoạn tiếp nhận tố giác, khởi tố, điều tra, truy tố cho đến khi kết thúc phiên tòa xét xử sơ thẩm và phúc thẩm.
1.1. Khái niệm và vị trí pháp lý của người bị hại theo luật định
Căn cứ quy định tại Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, người bị hại trong tố tụng hình sự được xác định là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản hoặc là cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa gây ra. Nạn nhân tham gia tố tụng với tư cách chủ thể mang quyền trực tiếp để bảo vệ lợi ích hợp pháp của bản thân. Việc xác định đúng tư cách bị hại có ý nghĩa quyết định đến tính chuẩn xác, khách quan của toàn bộ quá trình điều tra và xử lý vụ án. Cơ quan tiến hành tố tụng có nghĩa vụ giải thích rõ quyền và nghĩa vụ cho bị hại ngay từ lần đầu tiên lấy lời khai hoặc khi tống đạt các văn bản tố tụng.
1.2. Hệ thống các nhóm quyền cơ bản theo Điều 62 tố tụng hình sự
Hệ thống quyền của nạn nhân theo Điều 62 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 được xây dựng khoa học và toàn diện theo từng giai đoạn tố tụng. Nhóm quyền về thông tin gồm nhận thông báo kết quả giải quyết nguồn tin tội phạm, kết luận điều tra và quyết định truy tố. Nhóm quyền tham gia tố tụng bao gồm quyền đưa ra lời khai, tham gia phiên tòa và trực tiếp tranh luận để làm rõ sự thật. Nhóm quyền tự bảo vệ bao gồm quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, cử người đại diện hoặc nhờ luật sư trợ giúp. Nhóm quyền về khắc phục hậu quả gồm quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại, kháng cáo bản án và đề nghị cơ quan chức năng áp dụng các biện pháp bảo vệ khẩn cấp.
II. Quyền khởi tố và rút yêu cầu khởi tố của người bị hại
Chế định khởi tố theo yêu cầu của bị hại là quy định tiến bộ nhằm tôn trọng ý chí và quyền tự quyết của người bị thiệt hại. Quy định này chỉ áp dụng đối với một số nhóm tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm xâm phạm danh dự, nhân phẩm và sức khỏe con người. Pháp luật trao cho nạn nhân quyền lựa chọn yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự người vi phạm hoặc tự hòa giải nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội mang tính riêng tư. Đây là điểm cân bằng giữa sự can thiệp của cơ quan tư pháp nhà nước và quyền tự do ý chí của cá nhân trong đời sống xã hội.
2.1. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại đúng luật
Thủ tục khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của bị hại chỉ được phép tiến hành khi có đơn yêu cầu chính thức từ người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp. Căn cứ khoản 1 Điều 155 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, danh mục tội phạm khởi tố theo yêu cầu gồm các tội cố ý gây thương tích, làm nhục người khác hoặc xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp ở mức độ ít nghiêm trọng. Cơ quan điều tra tuyệt đối không được tự ý ra quyết định khởi tố nếu thiếu yêu cầu hợp lệ bằng văn bản. Quy định này bảo vệ tối đa bí mật đời tư, danh dự, tình cảm gia đình và lợi ích trực tiếp của chính người bị hại.
2.2. Quyền rút yêu cầu khởi tố Điều 155 và hệ quả pháp lý
Thực hiện quyền rút yêu cầu khởi tố Điều 155, người đã yêu cầu khởi tố có toàn quyền rút lại yêu cầu bất kỳ thời điểm nào trước ngày mở phiên tòa hoặc trước khi Hội đồng xét xử tuyên án sơ thẩm. Khi nạn nhân tự nguyện rút đơn, cơ quan có thẩm quyền bắt buộc phải ra quyết định đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án và chấm dứt mọi hoạt động tố tụng hình sự liên quan. Trường hợp phát hiện việc rút yêu cầu là do bị đe dọa, cưỡng bức, mua chuộc hoặc trái với ý chí tự nguyện, cơ quan tố tụng vẫn tiếp tục giải quyết vụ án theo trình tự chung. Người đã tự nguyện rút yêu cầu sẽ không có quyền yêu cầu khởi tố lại.
III. Quyền đưa tài liệu và yêu cầu thay đổi người tố tụng
Công tác chứng minh và giải quyết vụ án hình sự đòi hỏi sự tương tác liên tục giữa cơ quan tiến hành tố tụng và người bị hại. Nạn nhân là người nắm rõ diễn biến thực tế của hành vi phạm tội và các thiệt hại phát sinh. Pháp luật tạo cơ chế thuận lợi để nạn nhân tham gia cung cấp thông tin, làm sáng tỏ sự thật khách quan. Đồng thời, pháp luật trao công cụ pháp lý quan trọng nhằm kiểm soát tính khách quan, trung thực và vô tư của những người trực tiếp thực thi pháp luật. Cơ chế kiểm soát này giúp phòng ngừa tối đa các nguy cơ sai phạm, tiêu cực hoặc xâm phạm quyền con người.
3.1. Thực hiện quyền đưa ra chứng cứ tài liệu trong vụ án
Người bị hại chủ động thực hiện quyền đưa ra chứng cứ tài liệu để chứng minh sự thật khách quan và xác định mức độ tổn thất thực tế. Các chứng cứ tài liệu hợp pháp bao gồm hồ sơ bệnh án, hóa đơn viện phí, biên lai bồi thường, hình ảnh, video ghi hình hiện trường cùng các đồ vật có liên quan đến hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra có nghĩa vụ tiếp nhận, lập biên bản giao nhận chi tiết và đánh giá tính hợp pháp, xác thực của từng tài liệu. Việc bổ sung chứng cứ kịp thời giúp cơ quan công an định khung hình phạt chính xác và ngăn ngừa nguy cơ bỏ lọt hành vi vi phạm.
3.2. Quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng vô tư
Nhằm bảo đảm nguyên tắc vô tư và công bằng trong xét xử, nạn nhân có quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng khi phát hiện có dấu hiệu thiên vị, mâu thuẫn lợi ích hoặc thiếu khách quan. Các chức danh có thể bị yêu cầu thay đổi gồm Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án và Người giám định. Đơn đề nghị thay đổi phải trình bày rõ ràng lý do, bằng chứng cụ thể. Thủ trưởng cơ quan tố tụng có trách nhiệm xem xét, giải quyết và trả lời bằng văn bản trong thời hạn luật định.
IV. Quyền yêu cầu bồi thường và áp dụng biện pháp bảo vệ
Việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản và khắc phục thiệt hại kinh tế cho nạn nhân là mục tiêu trọng tâm hàng đầu của hoạt động tố tụng hình sự. Hành vi phạm tội thường để lại những di chứng nặng nề, lâu dài đối với đời sống thể xác và tinh thần của người bị hại. Pháp luật hình sự thiết lập khuôn khổ pháp lý vững chắc buộc người phạm tội phải bồi hoàn thỏa đáng mọi tổn thất. Song song với đó, cơ chế an ninh bảo vệ nạn nhân trước các nguy cơ đe dọa, trả thù từ phía đối tượng phạm tội được quy định chặt chẽ, bảo đảm môi trường tố tụng an toàn, nghiêm minh.
4.1. Cơ chế thực thi quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại
Người bị hại có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất, chi phí điều trị phục hồi sức khỏe, thu nhập thực tế bị mất và khoản tiền bù đắp tổn thất tinh thần do tội phạm gây ra. Mức yêu cầu bồi hoàn được xác định căn cứ theo các quy định của Bộ luật Dân sự và chứng từ thiệt hại thực tế phát sinh. Tòa án nhân dân có trách nhiệm xem xét, giải quyết đồng thời phần dân sự cùng với phần hình sự trong bản án sơ thẩm. Cơ quan điều tra có thể thực hiện biện pháp kê biên tài sản hoặc phong tỏa tài khoản của bị can để bảo đảm thi hành nghĩa vụ bồi thường sau này.
4.2. Quyền đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ tính mạng
Trong quá trình tham gia tố tụng, nếu bị đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, danh dự hoặc tài sản, nạn nhân có quyền đề nghị áp dụng biện pháp bảo vệ khẩn cấp theo quy định pháp luật. Cơ quan công an có thẩm quyền triển khai ngay các phương án bảo vệ như bố trí lực lượng canh gác, giữ bí mật thông tin nơi cư trú, di chuyển chỗ ở tạm thời hoặc cấm người phạm tội tiếp cận nạn nhân. Trình tự đề nghị bảo vệ được thực hiện nhanh chóng, kịp thời nhằm ngăn chặn triệt để mọi hành vi trả thù, khủng bố tinh thần, giúp người bị hại an tâm hợp tác điều tra.
V. Quyền kháng cáo bản án và nhờ người bảo vệ quyền lợi
Giai đoạn xét xử và thi hành bản án quyết định trực tiếp đến quyền lợi sau cùng và công lý cho người bị hại. Sự đồng hành của luật sư hoặc người bảo vệ quyền lợi giúp nạn nhân nắm vững các quy định pháp luật phức tạp, từ đó đưa ra yêu cầu chính xác. Sau khi Tòa án tuyên án, người bị hại vẫn giữ quyền năng can thiệp pháp lý thông qua thủ tục phúc thẩm nhằm khắc phục các sai sót của cấp xét xử sơ thẩm. Cơ chế bảo đảm này giúp thiết lập sự cân bằng quyền lực tố tụng và ngăn ngừa việc áp dụng sai quy định pháp luật.
5.1. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại
Người bị hại có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ luật sư, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại tham gia tố tụng ngay từ thời điểm khởi tố vụ án. Người bảo vệ quyền lợi có quyền có mặt trong các buổi lấy lời khai, tham gia hoạt động đối chất, nhận các văn bản tố tụng, nghiên cứu hồ sơ vụ án và trực tiếp tham gia tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm. Sự hỗ trợ từ luật sư chuyên nghiệp giúp nạn nhân thực hiện trọn vẹn các quyền tố tụng, tránh tình trạng bị ép buộc lời khai hoặc bỏ sót các khoản yêu cầu bồi thường chính đáng.
5.2. Thủ tục và quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm
Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án, nạn nhân thực hiện quyền kháng cáo bản án hình sự hoặc các quyết định tố tụng liên quan theo trình tự luật định. Người bị hại có quyền kháng cáo một phần hoặc toàn bộ bản án về phần hình phạt, mức bồi thường thiệt hại, tội danh hoặc kháng cáo yêu cầu tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Thời hạn nộp đơn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hoặc ngày nhận được bản án hợp lệ đối với trường hợp xử vắng mặt. Tòa án cấp phúc thẩm có trách nhiệm thụ lý, xem xét lại toàn bộ nội dung bị kháng cáo.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (186 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộVIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐINH THỊ MAI QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ HẠI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM LUẬN ÁN TIẾN SỸ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2014 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI ĐINH THỊ MAI QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ HẠI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự Mã số : 62.04 LUẬN ÁN TIẾN SỸ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: GS. VÕ KHÁNH VINH HÀ NỘI - 2014 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu nêu trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN Đinh Thị Mai DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT ANĐT An ninh điều tra BLHS Bộ luật Hình sự BLTTHS Bộ luật Tố tụng hình sự CQĐT Cơ quan điều tra CSĐT Cảnh sát điều tra ĐTV Điều tra viên KSV Kiểm sát viên NBH người bị hại QH Quốc hội TAND Tòa án nhân dân TANDTC Tòa án nhân dân tối cao THTT tiến hành tố tụng TTHS tố tụng hình sự TP. Thành phố UBTVQH Uỷ ban thường vụ Quốc hội UNDP Chương trình phát triển Liên hợp quốc VAHS VAHS VKS Viện kiểm sát VKSNDTC Viện Kiểm sát nhân dân tối cao XHCN Xã hội chủ nghĩa DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU, TÌNH HUỐNG (CASE STUDY) Trang SƠ ĐỒ Sơ đồ 1: Mối quan hệ giữa CQ THTT (chủ thể có nghĩa vụ) và NBH (Chủ thể mang quyền)…. 56 Sơ đồ 2: Cơ chế quốc tế bảo đảm quyền của NBH.58 Sơ đồ 3: Cơ chế Châu Âu bảo đảm quyền của NBH.59 Sơ đồ 4: Cơ chế Asean bảo đảm quyền của NBH.60 BẢNG Bảng 1: Kết quả khảo sát về thực trạng thay đổi tư cách của NBH trong quá trình tố tụng. Kết quả khảo sát về nguyên nhân không trình báo, tố giác tội phạm.94 Bảng 3: Số VAHS được khởi tố theo yêu cầu của NBH đã xét xử trên tổng số VAHS sơ thẩm đã đưa ra xét xử tại TAND tỉnh Hải Dương.95 Bảng 4: Số VAHS được khởi tố theo yêu cầu của NBH đã xét xử trên tổng số VAHS sơ thẩm đã đưa ra xét xử tại TAND huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương.95 Bảng 5: Số VAHS được khởi tố theo yêu cầu của NBH đã xét xử trên tổng số VAHS sơ thẩm đã đưa ra xét xử tại TAND TP.
Hải Dương, tỉnh Hải Dương.95 Bảng 6: Kết quả khảo sát về thực hiện quyền tố giác/ trình báo tội phạm.xiv, Phụ lục 2 Bảng 7: Kết quả khảo sát về thực hiện quyền có người bảo vệ quyền lợi cho NBH…xiv, Phụ lục 2 Bảng 8: Kết quả khảo sát về thực hiện quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe…….xiv Phụ lục 2 Bảng 9: Kết quả khảo sát về thực hiện quyền đưa ra tài liệu, yêu cầu.xiv, Phụ lục 2 Bảng 10: Kết quả khảo sát về thực hiện quyền được thông báo kết quả điều tra.xv, Phụ lục 2 Bảng 11: Kết quả khảo sát về thực hiện quyền đề nghị thay đổi người THTT.xv, Phụ lục 2 Bảng 12: Kết quả khảo sát về thực hiện quyền đề nghị mức bồi thường & các biện pháp bảo đảm bồi thường.xv, Phụ lục 2 Bảng 13: Kết quả khảo sát: số tiền yêu cầu bồi thường/ số tiền thực tế được bồi thường .xv, Phụ lục 2 Bảng 14: Kết quả khảo sát về thực hiện quyền tham gia phiên tòa (các VAHS) …….xvi, Phụ lục 2 Bảng 15: Kết quả khảo sát về thực hiện quyền tham gia phiên tòa (phân loại VAHS) ….xvi, Phụ lục 2 Bảng 16: Kết quả khảo sát về thực hiện quyền tranh luận, trình bày ý kiến tại phiên tòa….xvi, Phụ lục 2 Bảng 17: Kết quả khảo sát về thực hiện quyền được giao bản án.xvii, Phụ lục 2 Bảng 18: Kết quả khảo sát về thực hiện quyền khiếu nại QĐ, hành vi tố tụng………xvii, Phụ lục 2 Bảng 19: Kết quả khảo sát về thực hiện quyền kháng cáo phần hình phạt.xvii, Phụ lục 2 Bảng 20: Kết quả khảo sát về thực hiện quyền kháng cáo phần bồi thường.xviii, Phụ lục 2 Bảng 21: Kết quả quả khảo sát về thực hiện quyền rút yêu cầu khởi tố.xviii, Phụ lục 2 Bảng 22: Kết quả khảo sát về thực hiện quyền trình bày lời buộc tội.xviii, Phụ lục 2 __________________________________ MỤC LỤC MỞ ĐẦU. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU. Tình hình nghiên cứu trên thế giới. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam.
Đánh giá tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận án. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu.26 Kết luận chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ HẠI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ. Lý luận chung về người bị hại.1 Khái niệm người bị hại.
Đặc điểm của người bị hại. Phân loại người bị hại. Phân biệt khái niệm người bị hại với một số khái niệm liên quan. Lý luận chung về quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự.
Khái niệm quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự. Chủ thể của quyền. Nghĩa vụ thực thi quyền. Cơ chế bảo đảm quyền.
Lịch sử hình thành và xu hướng phát triển về quyền của người bị hại. Trong hệ thống tư pháp hình sự thế giới. Trong hệ thống tư pháp hình sự Việt Nam. Các quyền của người bị hại và phân loại quyền của người bị hại trong TTHS Việt Nam.
Tiếp cận theo trình tự tham gia tố tụng. Tiếp cận dựa trên quyền.75 Kết luận chương 2. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ HẠI TRONG TTHS VIỆT NAM. Quyền được công nhận là người bị hại.
Quyền tố giác, quyền yêu cầu và rút yêu cầu khởi tố. Quyền được thông tin. Quyền được tham gia tố tụng. Quyền được bảo vệ.
Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại. Quyền khiếu nại, quyền kháng cáo, quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng. Thực hiện nghĩa vụ của người bị hại.118 Kết luận chương 3. NGUYÊN NHÂN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ HẠI TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ.
Nhận định nguyên nhân. Nhận thức về quyền của người bị hại chưa đầy đủ. Hệ thống pháp luật về người bị hại chưa hoàn thiện. Cơ chế bảo đảm quyền của người bị hại chưa hiệu quả.
Đề xuất giải pháp.1 Nâng cao nhận thức về quyền của người bị hại. Hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hình sự. Hoàn thiện các cơ chế bảo đảm quyền của người bị hại.144 Kết luận chương 4.148 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. Dữ liệu hồ sơ VAHS phục vụ khảo sát thực trạng thực hiện quyền của NBH.
Kết quả khảo sát thực trạng thực hiện quyền của NBH………………………. xiii Phụ lục 3. So sánh quyền của NBH (nói chung) với quyền của nạn nhân tội mua bán người. xix 2 3 MỞ ĐẦU 1.
Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu Quyền con người là một trong những vấn đề có tính chất vĩnh cửu của sự phát triển văn hóa xã hội của loài người. Nghiên cứu về quyền con người vì thế cũng thu hút được một lượng lớn các học giả, các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Ở Việt Nam hiện nay, nhu cầu nghiên cứu về quyền con người nói chung, quyền con người trong tư pháp hình sự (TPHS) nói riêng đang là một nhu cầu tự thân và mang tính tất yếu khi Đảng và Nhà nước đang từng bước thực hiện mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền, trong đó quyền con người, quyền công dân luôn được tôn trọng. Người bị hại (NBH) và người bị buộc tội là hai chủ thể chính và quan trọng nhất của quan hệ pháp luật tố tụng hình sự (TTHS).
NBH là người đã bị tội phạm gây thiệt hại, là chủ thể cần sự quan tâm đặc biệt từ phía Nhà nước giúp họ đòi lại công lý, sự công bằng cũng như bảo đảm quyền năng tố tụng của mình trong việc tham gia vào tiến trình giải quyết đúng đắn VAHS. Tuy nhiên, pháp luật hình sự, TTHS Việt Nam và cả hệ thống tư pháp hình sự của hầu hết các nước trên thế giới lại phản ánh một thực tế: đang có sự khập khiễng, mất cân đối lớn giữa địa vị pháp lý của NBH (một trong hai chủ thể chính trong TTHS) với sự quan tâm ghi nhận và bảo vệ quyền của NBH, xét trên cả 3 bình diện: lập pháp, thi hành, áp dụng pháp luật TTHS và phong trào nghiên cứu về NBH, quyền của NBH. Trên thế giới, từ năm 1776, quyền của người bị buộc tội đã được hiến định trong Bản tuyên ngôn nhân quyền Mỹ (The Bill of Rights) năm 1776 [260]. Tuy nhiên mãi đến hơn 200 năm sau, năm 1980, lần đầu tiên trên thế giới, tại Mỹ, quyền của NBH mới được giới nghiên cứu quan tâm nghiên cứu [238, tr.
Năm 1982, Tổng thống Mỹ bấy giờ là Ronald Reagan đã đề xuất bổ sung quyền của NBH trong Chương thứ 6 của Hiến pháp Hoa Kỳ đánh dấu bước ngoặt ghi nhận quyền của NBH như một quyền hiến định. Đến năm 1985, phong trào bảo vệ quyền của NBH đã có sức lan tỏa khắp Châu Mỹ, Châu Âu, Australia và tới cả Châu Á với đại diện điển hình là Nhật Bản. Mới đây, vào năm 2010, Châu Âu đã triển khai Chương trình “Đẩy mạnh công tác nghiên cứu và áp dụng về các qui định về quyền của người bị hại” (2010 – 2015) đã được triển khai. Ngày 04/10/2012, Ủy ban Châu Âu đã bỏ phiếu thông qua một đạo luật mới với tên gọi “Chỉ thị của Ủy ban Châu Âu về bảo đảm các quyền tối thiểu của nạn nhân của tội phạm, MEMO/12/659” [231].
4 Tuy vậy, các mốc lịch sử nêu trên về quyền của người bị hại trong tư pháp hình sự mới chỉ phản ánh được một thực tế là phong trào nghiên cứu và thúc đẩy quyền của NBH trên thế giới chỉ mới được khởi động với lịch sử gần 30 năm trở lại đây. Rõ ràng quyền của NBH trong TTHS chưa được quan tâm nghiên cứu xứng tầm. Phong trào nghiên cứu về NBH và quyền của NBH đang là một chủ đề “lạnh”, dễ bị lãng quên ngay trong thời đại mà cuộc đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền hiện đại đã trải qua lịch sử gần 250 năm. Ở Việt Nam, lý luận về người bị hại và quyền của người bị hại vẫn còn là một vấn đề mới và chưa phát triển.
Mặc dù chúng ta không phủ nhận các thành quả về xây dựng lý luận về bảo vệ quyền con người cũng như thực tiễn bảo đảm quyền con người (trong đó có quyền của NBH) của Đảng và Nhà nước ta.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Đinh Thị Mai (2014). Quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam [Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học Xã hội]. LuanAn.net. https://luanan.net/luat-hoc/quyen-cua-nguoi-bi-hai-trong-to-tung-hinh-su-viet-nam
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án tiến sĩ luật học nghiên cứu quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam, đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật và bảo vệ quyền lợi.
Luận án "Quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội. Năm bảo vệ: 2014.
Luận án "Quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam" thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự. Danh mục: Luật Học.
Luận án "Quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam" có bao nhiêu trang?
Luận án "Quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam" có 186 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Quyền của người bị hại trong tố tụng hình sự Việt Nam" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.