Luận án tiến sĩ quyền sử dụng đất nông nghiệp - Nghiên cứu của Nguyễn Thành Luân, Trường Đại học Luật Hà Nội
Luận án tiến sĩ nghiên cứu quyền sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam, phân tích lý luận và thực tiễn pháp luật.
Luan An
Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản
Số trang
209
Thời gian đọc
32 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Lý luận về quyền sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
- Số trang:
- 209 trang
- Trường:
- Trường Đại học Luật Hà Nội
- Chuyên ngành:
- Luật Kinh tế
- Tác giả:
- Nguyễn Thành Luân
- Năm:
- 2020
Tóm tắt nội dung luận án
I. Lý luận về quyền sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam
Quyền sử dụng đất nông nghiệp là một chế định pháp lý trung tâm trong hệ thống pháp luật đất đai Việt Nam. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Người sử dụng đất được Nhà nước trao quyền sử dụng thông qua giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền. Quyền này mang đầy đủ tính chất của một quyền tài sản đặc thù. Người dân có quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ đất canh tác. Pháp luật bảo đảm quyền năng tài sản của chủ thể qua các giao dịch dân sự. Tuy nhiên, quyền sử dụng đất nông nghiệp luôn chịu sự quản lý chặt chẽ từ Nhà nước nhằm bảo vệ quỹ đất an ninh lương thực. Các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ này vừa mang tính kinh tế, vừa bảo đảm mục tiêu an sinh xã hội bền vững.
1.1. Bản chất pháp lý của quyền sử dụng đất nông nghiệp
Quyền sử dụng đất nông nghiệp phản ánh quan hệ phân phối và sử dụng nguồn lực tài nguyên đặc biệt. Về bản chất, đây là quyền phái sinh từ quyền sở hữu toàn dân. Nhà nước nắm quyền định đoạt tối cao đối với toàn bộ quỹ đất quốc gia. Người sử dụng đất nắm giữ quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt trong phạm vi luật định. Quyền này có tính chất hàng hóa nhưng bị giới hạn bởi mục đích canh tác. Các quyền năng cơ bản gồm chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, tặng cho và thế chấp. Bản chất pháp lý của quyền sử dụng đất ngày càng tiệm cận quyền tài sản đầy đủ. Sự chuyển dịch này thúc đẩy nông nghiệp phát triển theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
1.2. Quá trình phát triển chế định đất đai qua các thời kỳ
Chế định quyền sử dụng đất nông nghiệp trải qua nhiều giai đoạn chuyển biến quan trọng. Giai đoạn trước đổi mới áp dụng cơ chế quản lý tập trung qua hợp tác xã. Chỉ thị 100 và Nghị quyết 10 tạo bước ngoặt khi trao quyền tự chủ canh tác cho hộ nông dân. Luật Đất đai 1993 lần đầu tiên ghi nhận năm quyền cơ bản của người sử dụng đất. Các kỳ sửa đổi Luật Đất đai năm 2003 và 2013 tiếp tục mở rộng quyền năng thị trường cho chủ thể. Hệ thống pháp luật từng bước tháo gỡ các rào cản hành chính đối với đất canh tác. Đến nay, khung pháp lý mới nhất theo Luật Đất đai 2024 đã hoàn thiện cơ chế, bảo vệ tối đa quyền lợi chính đáng của nông dân và nhà đầu tư.
II. Chế độ pháp lý về quyền sử dụng đất nông nghiệp hiện nay
Chế độ pháp lý đất nông nghiệp quy định khung trật tự quản lý và khai thác đất đai trên cả nước. Nhà nước thực hiện phân loại đất, lập quy hoạch và phân bổ chỉ tiêu canh tác cho từng địa phương. Đất nông nghiệp được chia thành nhiều nhóm cụ thể như đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng và đất nuôi trồng thủy sản. Mỗi loại đất chịu sự điều chỉnh của các quy chuẩn kỹ thuật và pháp lý riêng biệt. Chế độ pháp lý này duy trì sự ổn định của môi trường sinh thái và bảo vệ diện tích đất lúa trọng điểm. Việc thực thi nghiêm ngặt các quy định pháp luật giúp hạn chế tình trạng suy thoái tài nguyên, đồng thời nâng cao hiệu quả kinh tế trên mỗi đơn vị diện tích.
2.1. Quy định về hạn mức giao đất nông nghiệp và thời hạn
Quy định về hạn mức giao đất nông nghiệp và thời hạn sử dụng đất nông nghiệp đóng vai trò then chốt trong điều tiết tư liệu sản xuất. Pháp luật giới hạn diện tích đất giao không thu tiền để bảo đảm công bằng xã hội cho cư dân nông thôn. Thời hạn giao đất cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp hiện nay là 50 năm. Khi hết thời hạn, người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng mà không phải làm thủ tục gia hạn nếu có nhu cầu. Quy định thời hạn dài giúp người nông dân an tâm đầu tư cải tạo đất và phát triển cây lâu năm. Luật Đất đai 2024 tiếp tục duy trì tính ổn định này, tạo niềm tin vững chắc cho sản xuất nông nghiệp quy mô lớn.
2.2. Quy định chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp
Chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp là một nội dung pháp lý phức tạp và đòi hỏi kiểm soát chặt chẽ. Việc chuyển đổi từ đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất cấp huyện đã được phê duyệt. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện thẩm định nhu cầu và khả năng tài chính của chủ đầu tư trước khi cho phép chuyển mục đích. Người chuyển mục đích phải nộp tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê đất theo quy định. Đặc biệt, đất trồng lúa nước được bảo vệ nghiêm ngặt bằng cơ chế kiểm soát riêng nhằm bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Các hành vi tự ý chuyển mục đích trái phép đều bị xử lý vi phạm hành chính hoặc thu hồi đất.
III. Thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp và chuyển nhượng
Thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp là bộ phận cấu thành quan trọng của thị trường bất động sản Việt Nam. Thị trường này vận hành thông qua các giao dịch chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Sự phát triển lành mạnh của thị trường giúp phân bổ đất đai đến những chủ thể có năng lực sản xuất tốt nhất. Tuy nhiên, thị trường đất nông nghiệp vẫn còn bộc lộ một số hạn chế như thông tin chưa minh bạch và chi phí giao dịch còn cao. Nhiều giao dịch thực tế vẫn diễn ra theo hình thức phi chính thức. Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường là yêu cầu cấp thiết nhằm bảo vệ quyền tài sản của nông dân và thúc đẩy dòng vốn đầu tư vào nông nghiệp.
3.1. Điều kiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp
Chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp đòi hỏi đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định. Thửa đất chuyển nhượng phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có tranh chấp và không bị kê biên để thi hành án. Thửa đất cũng phải còn trong thời hạn sử dụng. Trước đây, pháp luật giới hạn đối tượng nhận chuyển nhượng đất trồng lúa chỉ bao gồm hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp. Quy định mới trong Luật Đất đai 2024 đã tháo gỡ rào cản này. Tổ chức kinh tế và cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp hiện được phép nhận chuyển nhượng đất trồng lúa khi đáp ứng phương án sử dụng đất được phê duyệt. Thay đổi này tạo động lực lớn cho thu hút đầu tư.
3.2. Thu hồi đất nông nghiệp bồi thường tái định cư thỏa đáng
Chính sách thu hồi đất nông nghiệp bồi thường tái định cư ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của hàng triệu nông dân. Nhà nước chỉ thực hiện thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng. Luật Đất đai 2024 bãi bỏ khung giá đất cũ và quy định việc định giá đất bồi thường theo nguyên tắc thị trường. Người bị thu hồi đất được bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng, bằng tiền hoặc bằng đất khác mục đích. Đi kèm với bồi thường là các chính sách hỗ trợ ổn định đời sống, đào tạo nghề và chuyển đổi việc làm. Cơ chế bồi thường thỏa đáng giúp giảm thiểu khiếu kiện và đẩy nhanh tiến độ các dự án phát triển hạ tầng.
IV. Tích tụ tập trung và quyền sử dụng đất nông nghiệp mới
Tích tụ tập trung đất đai là xu thế tất yếu để phát triển nền nông nghiệp hiện đại, quy mô lớn. Sản xuất nông nghiệp phân tán, manh mún làm gia tăng chi phí và giảm sức cạnh tranh của nông sản Việt Nam. Quá trình tích tụ đất đai giúp ứng dụng cơ giới hóa, tự động hóa và công nghệ cao vào canh tác. Nhà nước ban hành nhiều chính sách khuyến khích liên kết sản xuất giữa nông dân và doanh nghiệp. Quyền sử dụng đất nông nghiệp đóng vai trò là nguồn vốn quan trọng để các bên cùng hợp tác kinh doanh. Việc hoàn thiện hành lang pháp lý giúp quá trình tích tụ diễn ra thuận lợi, minh bạch, đồng thời ngăn ngừa nguy cơ nông dân mất đất sản xuất.
4.1. Cơ chế pháp lý thúc đẩy tích tụ tập trung đất đai
Pháp luật hiện hành quy định nhiều hình thức linh hoạt để thực hiện tích tụ tập trung đất đai. Các chủ thể có thể dồn điền đổi thửa, thuê quyền sử dụng đất hoặc liên kết sản xuất với hộ nông dân. Doanh nghiệp và hợp tác xã có thể nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất để xây dựng cánh đồng lớn. Nhà nước đóng vai trò trung gian hỗ trợ kết nối, cung cấp thông tin quy hoạch và bảo đảm an toàn pháp lý cho các hợp đồng hợp tác. Cơ chế ủy thác quản lý đất đai thông qua ngân hàng đất nông nghiệp cũng đang được nghiên cứu triển khai. Các hình thức này vừa tập trung được đất đai cho sản xuất lớn, vừa giữ vững quyền sở hữu đất nền tảng cho người nông dân.
4.2. Mở rộng hạn mức nhận chuyển nhượng đất nông nghiệp
Mở rộng hạn mức nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp là một điểm đột phá của Luật Đất đai 2024. Luật mới nâng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp của cá nhân lên không quá 15 lần hạn mức giao đất. Quy định cũ chỉ cho phép tối đa không quá 10 lần. Việc nới rộng hạn mức này tạo điều kiện thuận lợi cho các mô hình kinh tế trang trại và nông nghiệp công nghệ cao. Các cá nhân và tổ chức có tiềm lực tài chính có thể gom mua đất hợp pháp để đầu tư chuỗi giá trị nông sản khép kín. Hạn mức mới vừa đáp ứng nhu cầu thực tiễn của nền kinh tế, vừa bảo đảm kiểm soát việc đầu cơ, tích trữ đất đai không nhằm mục đích sản xuất.
V. Giải pháp hoàn thiện quyền sử dụng đất nông nghiệp mới
Hoàn thiện pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp đòi hỏi cách tiếp cận đồng bộ và toàn diện. Hệ thống pháp luật phải xử lý hài hòa mối quan hệ giữa quản lý nhà nước và quyền tự do kinh doanh của người dân. Các chính sách mới cần tạo điều kiện thuận lợi cho thị trường quyền sử dụng đất nông nghiệp vận hành thông suốt. Đồng thời, công tác tổ chức thi hành pháp luật tại các cấp chính quyền địa phương cần được nâng cao hiệu lực. Việc cải cách thủ tục hành chính, loại bỏ các giấy phép con không cần thiết là yêu cầu cấp thiết. Một khung pháp lý tiến bộ sẽ khơi thông nguồn lực đất đai, thúc đẩy nền nông nghiệp Việt Nam phát triển nhanh và bền vững.
5.1. Hoàn thiện hệ thống đăng ký và số hóa thông tin đất đai
Xây dựng hệ thống đăng ký đất đai hiện đại là giải pháp cốt lõi để nâng cao hiệu quả quản lý. Nhà nước cần đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho toàn bộ diện tích đất nông nghiệp. Hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia cần được số hóa đồng bộ và tích hợp trên nền tảng trực tuyến. Người dân và doanh nghiệp có thể tra cứu thông tin quy hoạch, tình trạng pháp lý của thửa đất nhanh chóng và minh bạch. Việc số hóa giúp cắt giảm thời gian và chi phí thực hiện các thủ tục chuyển nhượng, thế chấp. Sự minh bạch về thông tin cũng hạn chế tối đa tiêu cực và tham nhũng trong công tác quản lý đất đai tại địa phương.
5.2. Đổi mới chính sách theo tinh thần Luật Đất đai 2024
Triển khai hiệu quả các điểm mới của Luật Đất đai 2024 là giải pháp trọng tâm trong giai đoạn hiện nay. Các cơ quan chức năng cần khẩn trương ban hành các nghị định, thông tư hướng dẫn chi tiết về đất nông nghiệp. Cần cụ thể hóa cơ chế đa mục đích sử dụng đất, cho phép kết hợp sản xuất nông nghiệp với du lịch sinh thái và dịch vụ. Chính sách tín dụng nông nghiệp cần được đổi mới để người dân dễ dàng thế chấp quyền sử dụng đất vay vốn phát triển sản xuất. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra để ngăn chặn tình trạng bỏ hoang đất nông nghiệp sau khi tích tụ. Hoàn thiện đồng bộ các giải pháp này sẽ tạo động lực bứt phá cho nông nghiệp nông thôn.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (209 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI NGUYỄN THÀNH LUÂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC Chuyên ngành : Luật Kinh tế Mã số : 9380107 Người hướng dẫn khoa học PGS.TS Dương Đăng Huệ HÀ NỘI - 2020 MỤC LỤC MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 8 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 8 1. Cơ sở lý thuyết của đề tài 33 Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT VÀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP 38 2. Lý luận về quyền sử dụng đất 38 2.
Lý luận về quyền sử dụng đất nông nghiệp 52 2. Lược sử quá trình ra đời và phát triển của chế định quyền sử dụng đất nông nghiệp 64 Chương 3: THỰC TRẠNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 71 3. Thực trạng quy định pháp luật về khách thể của quyền sử dụng đất nông nghiệp 71 3. Thực trạng quy định pháp luật về chủ thể của quyền sử dụng đất nông nghiệp 95 3.
Thực trạng quy định pháp luật về nội dung của quyền sử dụng đất nông nghiệp 118 Chương 4: ĐỊNH HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 145 4. Định hướng hoàn thiện pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp 145 4. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành quy định pháp luật về quyền sử dụng đất nông nghiệp 152 KẾT LUẬN 180 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN NỘI DUNG CỦA LUẬN ÁN 185 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 186 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Kết quả nghiên cứu, trích dẫn trong luận án này là trung thực, chính xác, có nguồn rõ ràng và đã được công bố.
Những kết luận trong luận án này là hoàn toàn mới và chưa từng được ai công bố ở bất cứ công trình khoa học nào. Tác giả luận án Nguyễn Thành Luân LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lời cám ơn chân thành, sâu sắc tới PGS.TS Dương Đăng Huệ. Đây là người Thầy, nhà khoa học đã rất tâm huyết hướng dẫn tôi học tập, nghiên cứu. Thầy đã dành nhiều thời gian để trao đổi, định hướng và khích lệ tôi hoàn thành luận án tiến sĩ này.
Tôi xin cám ơn các Thầy/Cô giáo của trường Đại học Luật Hà Nội đã tận tình dạy dỗ, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt khoảng thời gian tôi làm nghiên cứu sinh tại đây. Tôi xin cám ơn người thân trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp luôn cảm thông, động viên để tôi có nghị lực, thời gian và các nguồn lực khác trong suốt quá trình hoàn thành luận án. Tác giả luận án Nguyễn Thành Luân DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BLDS : Bộ luật Dân sự ĐNN : Đất nông nghiệp HGĐ : Hộ gia đình LĐĐ : Luật Đất đai QSDĐ : Quyền sử dụng đất SHTD : Sở hữu toàn dân UBND : Uỷ ban nhân dân 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Hiện nay, cơ cấu kinh tế của Việt Nam đang chuyển dịch theo xu hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp; tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng và ngành dịch vụ.
Theo số liệu thống kê thì năm 2018, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉ còn chiếm tỷ trọng 14,57% GDP; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 34,28%; khu vực dịch vụ chiếm 41,17% [157]. Tuy nhiên, với hơn 65% dân số sinh sống ở vùng nông thôn và lực lao động lớn đang hoạt động trong ngành (năm 2018, với 38,21% trong tổng số lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 55,12 triệu người [17]) thì Việt Nam vẫn đang là một quốc gia có nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào ngành nông nghiệp. Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22/3/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định mục tiêu: “Đến năm 2030, Việt Nam hoàn thành mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu khu vực ASEAN về công nghiệp, trong đó một số ngành công nghiệp có sức cạnh tranh quốc tế và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu”. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước sẽ không thể không dựa vào những nguồn lực từ nông nghiệp và cũng không thể không tránh khỏi việc giải quyết những vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn.
Do vậy, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã xác định rõ vấn đề này: “Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”. Để công nghiệp hoá, hiện đại hoá ngành nông nghiệp bên cạnh việc phải đầu tư về vốn, máy móc, khoa học công nghệ, nâng cao trình độ lực lượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp. thì việc khai thác hiệu quả ĐNN là một yếu tố mang tính chất quyết định.
Bởi lẽ: “Đất đai là nguồn vốn tiềm ẩn của mỗi quốc gia” [144], cụ thể hơn, ĐNN là yếu tố đầu vào không thể thiếu và cũng không thể thay thế cho sản xuất nông nghiệp mà chúng ta đã được thiên nhiên ưu ái ban tặng. Nếu đặt trong sự so sánh với Israel là một quốc gia có ngành nông nghiệp rất phát triển với đất đai chủ yếu là sa mạc khô cằn, khí hậu khắc nghiệt bắt buộc phải có vốn đầu tư rất lớn để cải tạo đất sa mạc khô cằn thành đất có thể canh tác nông nghiệp và kèm theo đó là hệ thống tưới tiêu hiện đại, thì với quỹ ĐNN tương đối lớn (hơn 27 triệu ha, chiếm hơn 2 80% diện tích đất tự nhiên của cả nước [8]), đa dạng về thổ nhưỡng và khí hậu nên thích hợp với canh tác cả cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản. thì rõ ràng chúng ta đã có ưu thế để phát triển nông nghiệp hơn rất nhiều. Vấn đề mấu chốt để phát huy ưu thế này đòi hỏi chúng ta phải có chính sách phù hợp, pháp luật về ĐNN phải được hoàn thiện để tạo cơ sở vững chắc cho các chủ thể yên tâm đầu tư vào nông nghiệp và có thể khai thác hết được những giá trị to lớn của ĐNN.
Ở nước ta, đất đai nói chung và ĐNN nói riêng thuộc SHTD do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu. Các chủ thể không có quyền sở hữu đối với ĐNN mà chỉ có QSDĐ thông qua việc Nhà nước giao đất, cho thuê đất và công nhận QSDĐ hoặc nhận chuyển QSDĐ theo quy định của pháp luật. Đây là sự khác biệt, đặc thù của Việt Nam so với nhiều quốc gia trên thế giới có chế độ sở hữu tư nhân về đất đai. QSDĐ được xác định trên quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam:“Là một loại tài sản và hàng hoá đặc biệt, nhưng không phải là quyền sở hữu, được xác định cụ thể phù hợp với từng loại đất, từng đối tượng và hình thức giao đất, cho thuê đất” [2].
Thể chế hoá quan điểm này thành các quy định pháp luật để thi hành hiệu quả trên thực tế là việc không hề đơn giản. Theo đó, cần phải dựa trên cơ sở lý thuyết khoa học pháp lý vững chắc nhằm nhận diện một cách chính xác bản chất pháp lý của QSDĐ, tạo nền móng bền chặt cho toàn bộ các quy định pháp luật được xây dựng và hoàn thiện. Chỉ có như vậy thì các quy định pháp luật về QSDĐ khi được triển khai trên thực tế mới có thể đảm bảo được quyền và lợi ích của các chủ thể trong khai thác, sử dụng đất đai trong nền kinh tế thị trường; giải quyết hài hoà về mặt lợi ích trong mối quan hệ giữa Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu với các chủ thể chỉ có QSDĐ. Nếu như thiếu đi sự vận dụng lý thuyết khoa học pháp lý, bản chất pháp lý của QSDĐ không được nhận diện một cách chính xác thì dù có sửa đổi, bổ sung nhiều lần đi nữa thì khó có thể hoàn thiện được các quy định pháp luật về QSDĐ.
Trong khoa học pháp lý, lý thuyết vật quyền chính là một thành tựu và là tinh hoa của nhân loại. Nhiều quốc gia có nền kinh tế phát triển như cộng hoà Pháp, cộng hoà Liên bang Đức, Nhật Bản, Liên bang Nga, Bang Quebec (Canada)… đã vận dụng để xây dựng pháp luật tài sản của mình với tính ổn định cao và vận hành hiệu quả tạo cơ sở vững chắc phát triển kinh tế, ổn định xã hội. SHTD về đất đai là một đặc thù của nước ta nhưng nếu có sự nghiên cứu một cách nghiêm túc, thấu đáo và vận dụng lý thuyết vật quyền xây dựng các quy định pháp luật về QSDĐ thì những yêu cầu đã nêu ở trên chắc chắn thể đảm bảo được quyền và lợi ích của các chủ thể trong khai thác, sử dụng đất đai trong nền kinh tế thị trường; giải quyết hài hoà về mặt lợi ích 3 trong mối quan hệ giữa Nhà nước với tư cách là đại diện chủ sở hữu với các chủ thể chỉ có QSDĐ. Kể từ khi ra đời cho đến nay, các quy định pháp luật về QSDĐ nói chung và QSDĐ nông nghiệp nói riêng đã được sửa đổi, bổ sung nhiều lần theo hướng mở rộng quyền cho các chủ thể, mở rộng hạn mức nhận chuyển QSDĐ nông nghiệp cho cá nhân và HGĐ, kéo dài thời hạn sử dụng ĐNN.
nhằm đáp ứng yêu cầu của thực tiễn kinh tế, xã hội của đất nước. Sự phát triển của ngành nông nghiệp nước ta trong thời gian qua như: từ chỗ phải nhập khẩu lương thực để giải quyết nhu cầu trong nước trở thành nước xuất khẩu lúa gạo hàng đầu thế giới; kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm từ nông nghiệp như cà phê, hồ tiêu, thuỷ sản đạt giá trị nhiều tỷ Đô la Mỹ (USD); sản xuất được những sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao theo quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt (GAP). là những minh chứng rõ ràng cho việc sửa đổi, bổ sung này là có đạt được hiệu quả trong thực tiễn.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Nguyễn Thành Luân (2020). Luận án tiến sĩ quyền sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội]. LuanAn.net. https://luanan.net/luat-hoc/luat-kinh-te/luan-an-tien-si-quyen-su-dung-dat-nong-nghiep-viet-nam
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Luận án tiến sĩ quyền sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án tiến sĩ nghiên cứu quyền sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam, phân tích lý luận và thực tiễn pháp luật.
Luận án "Luận án tiến sĩ quyền sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội. Năm bảo vệ: 2020.
Luận án "Luận án tiến sĩ quyền sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Luận án tiến sĩ quyền sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam" thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế. Danh mục: Luật Kinh Tế.
Luận án "Luận án tiến sĩ quyền sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam" có bao nhiêu trang?
Luận án "Luận án tiến sĩ quyền sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam" có 209 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Luận án tiến sĩ quyền sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.