Luận án tiến sĩ luật học tội không chấp hành án theo luật hình sự Việt Nam

Nghiên cứu tội không chấp hành án: Phân tích nguyên nhân, hậu quả và giải pháp pháp lý hiệu quả trong thực thi án phạt tù.

Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

Năm xuất bản

Số trang

97

Thời gian đọc

15 phút

Lượt xem

1

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

40 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Khái niệm và đặc điểm của tội không chấp hành án
Số trang:
97 trang
Trường:
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành:
Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Năm:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Khái niệm và đặc điểm của tội không chấp hành án

Tội không chấp hành án là hành vi nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này xâm phạm trực tiếp đến hoạt động bình thường của cơ quan tư pháp. Bản án và quyết định của Tòa án mang tính quyền lực nhà nước bắt buộc thi hành. Mọi cơ quan, tổ chức và cá nhân phải tôn trọng phán quyết của Tòa án. Khi phán quyết có hiệu lực pháp luật, các bên liên quan có nghĩa vụ chấp hành nghiêm chỉnh. Hành vi trốn tránh nghĩa vụ làm suy giảm uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng. Việc truy cứu trách nhiệm hình sự nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật. Quy định này bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án. Hoạt động tư pháp giữ vai trò nòng cốt trong việc giữ gìn trật tự và kỷ cương xã hội.

1.1. Khái niệm cơ bản về hành vi không chấp hành án

Khái niệm tội danh xuất phát từ yêu cầu bảo vệ hiệu lực của phán quyết tư pháp. Người có nghĩa vụ phải thực hiện bản án quyết định có hiệu lực pháp luật nhưng cố ý không chấp hành án. Hành vi này xảy ra sau khi Tòa án ban hành phán quyết có hiệu lực. Người vi phạm có điều kiện thi hành thực tế nhưng từ chối thực hiện nghĩa vụ. Đương sự dùng nhiều thủ đoạn để trốn tránh hoặc chống đối cơ quan chức năng. Hành vi cản trở quá trình thi hành án dân sự cũng như hình sự. Trật tự quản lý hoạt động tư pháp bị xâm hại trực tiếp. Quyền lợi của đương sự không được bảo đảm kịp thời. Pháp luật hình sự coi đây là tội phạm độc lập nhằm răn đe các hành vi coi thường kỷ cương nhà nước.

1.2. Bản chất pháp lý và ý nghĩa của việc quy định tội danh

Bản chất của tội phạm là sự bất tuân đối với quyền lực tư pháp nhà nước. Nhà nước bảo đảm hiệu lực phán quyết của Tòa án bằng các chế tài nghiêm khắc. Mọi bản án quyết định có hiệu lực pháp luật phải được thực thi triệt để trên thực tế. Việc quy định tội danh trong luật hình sự có ý nghĩa pháp lý và xã hội to lớn. Quy định này góp phần giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật cho mọi công dân. Cơ quan thi hành án có thêm công cụ pháp lý mạnh mẽ để giải quyết việc thi hành án tồn đọng. Niềm tin của người dân vào công lý được củng cố vững chắc. Tội danh này ngăn chặn triệt để hành vi tẩu tán tài sản và chây ỳ nghĩa vụ.

II. Các yếu tố cấu thành tội không chấp hành án chi tiết

Nghiên cứu cấu thành tội không chấp hành án là điều kiện tiên quyết để định tội danh chính xác. Cấu thành tội phạm bao gồm đầy đủ bốn yếu tố bắt buộc theo luật hình sự Việt Nam. Bốn yếu tố này gồm khách thể, mặt khách quan, chủ thể và mặt chủ quan. Thiếu một trong bốn yếu tố thì không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan tố tụng phải chứng minh đầy đủ các dấu hiệu cấu thành pháp lý theo trình tự luật định. Việc đánh giá phải dựa trên hồ sơ vụ việc và chứng cứ khách quan. Người vi phạm phải có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm theo luật định. Mọi hành vi vi phạm đều phải được xem xét khách quan và toàn diện.

2.1. Khách thể và chủ thể tội không chấp hành án

Khách thể tội không chấp hành án là hoạt động đúng đắn của cơ quan tư pháp và cơ quan thi hành án. Hành vi phạm tội xâm hại quyền lợi hợp pháp của người được thi hành án. Hoạt động thực thi bản án quyết định có hiệu lực pháp luật bị đình trệ nghiêm trọng. Về phương diện chủ thể, chủ thể tội không chấp hành án là chủ thể đặc biệt. Người vi phạm bắt buộc phải là người phải thi hành án theo phán quyết của Tòa án. Họ có nghĩa vụ pháp lý phải thực hiện nghĩa vụ tài sản hoặc nghĩa vụ nhân thân cụ thể. Ngoài ra, cá nhân phải đạt độ tuổi luật định từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ tại thời điểm thực hiện hành vi.

2.2. Mặt khách quan tội không chấp hành án và điều kiện cưỡng chế

Mặt khách quan tội không chấp hành án thể hiện qua hành vi không thực hiện nghĩa vụ pháp lý. Người phải thi hành án có điều kiện thực tế nhưng không chấp hành bản án. Dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành là người này đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án. Cơ quan có thẩm quyền đã ban hành quyết định cưỡng chế theo đúng trình tự pháp luật. Người vi phạm tiếp tục thực hiện hành vi tẩu tán tài sản, bỏ trốn hoặc chống đối thi hành án. Hậu quả trực tiếp là bản án không được thi hành trên thực tế. Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả là yếu tố bắt buộc. Nếu chưa áp dụng biện pháp cưỡng chế hợp pháp thì chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm.

2.3. Mặt chủ quan lỗi cố ý của người phạm tội

Mặt chủ quan lỗi cố ý là dấu hiệu bắt buộc của tội danh này. Người phạm tội nhận thức rõ nghĩa vụ thi hành án của bản thân. Họ biết rõ quyết định cưỡng chế của cơ quan thi hành án có thẩm quyền. Người phạm tội thấy trước hậu quả bản án không được thi hành nhưng vẫn mong muốn hoặc để mặc hậu quả xảy ra. Động cơ phạm tội thường xuất phát từ mục đích vụ lợi cá nhân hoặc nhằm giữ lại tài sản phi pháp. Hành vi cố ý không chấp hành án thể hiện thái độ coi thường kỷ cương pháp luật. Hành vi không thi hành do sự kiện bất khả kháng không cấu thành tội phạm. Việc chứng minh ý thức chủ quan đòi hỏi thu thập chứng cứ chứng minh điều kiện kinh tế thực tế của người vi phạm.

III. Khung hình phạt đối với tội không chấp hành án hiện nay

Khung hình phạt phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Pháp luật hình sự quy định rõ các mức phạt áp dụng cho từng trường hợp cụ thể. Hình phạt chính bao gồm phạt tù có thời hạn hoặc phạt cải tạo không giam giữ. Tòa án căn cứ vào tính chất, mức độ vi phạm và nhân thân người phạm tội để quyết định mức án phù hợp. Các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được cân nhắc thấu đáo tại phiên tòa. Mục đích xử phạt là trừng trị người phạm tội và giáo dục phòng ngừa chung. Việc áp dụng đúng khung hình phạt giúp bảo đảm tính công bằng và nghiêm minh của nền tư pháp.

3.1. Căn cứ pháp lý theo Điều 380 Bộ luật Hình sự

Điều 380 Bộ luật Hình sự quy định cụ thể chế tài đối với hành vi không chấp hành án. Người có điều kiện thi hành mà cố ý không chấp hành án sau khi bị cưỡng chế sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Khung hình phạt cơ bản quy định mức phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm. Trường hợp phạm tội có tổ chức hoặc chống lại người thi hành công vụ sẽ chịu khung hình phạt tăng nặng. Mức hình phạt cao nhất có thể lên đến 05 năm tù giam. Quy định tại Điều 380 Bộ luật Hình sự tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc khởi tố và xét xử. Chế tài nghiêm khắc buộc người phải thi hành án phải tôn trọng bản án quyết định có hiệu lực pháp luật.

3.2. Phân biệt với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp khác

Cần phân biệt tội danh này với tội trốn khỏi nơi giam giữ hoặc tội cản trở thi hành án. Tội không chấp hành án có chủ thể bắt buộc là người phải thực hiện nghĩa vụ theo bản án. Tội cản trở thi hành án có thể do bất kỳ cá nhân nào thực hiện nhằm cản trở việc thi hành công vụ. Hành vi khách quan của tội cản trở thường mang tính chất đe dọa, dùng vũ lực hoặc cản trở người thi hành công vụ. Ngược lại, hành vi không chấp hành án chủ yếu là trốn tránh, che giấu hoặc từ chối thực hiện nghĩa vụ tài sản. Việc phân định chính xác giúp định tội danh chuẩn xác trong giai đoạn tố tụng và tránh hình sự hóa quan hệ dân sự.

IV. Thực trạng xét xử của tội không chấp hành án ở nước ta

Thực trạng xét xử phản ánh hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự trong thực tiễn đời sống. Số lượng bản án dân sự và kinh doanh thương mại cần thi hành ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, số vụ án hình sự bị khởi tố về hành vi không chấp hành án còn chiếm tỷ lệ khiêm tốn. Tình trạng chây ỳ thi hành án vẫn diễn biến phức tạp tại nhiều địa phương trên cả nước. Đương sự tìm nhiều phương thức chuyển dịch tài sản nhằm trốn tránh nghĩa vụ bồi thường hoặc thanh toán. Cơ quan tiến hành tố tụng gặp nhiều trở ngại trong việc thu thập chứng cứ chứng minh. Việc đánh giá đúng thực trạng giúp tìm ra nguyên nhân và giải pháp khắc phục triệt để.

4.1. Tình hình khởi tố và xét xử tội danh trên thực tế

Số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ khởi tố tội danh này còn thấp so với thực tế vi phạm phát sinh. Nhiều vụ việc có dấu hiệu trốn tránh rõ ràng nhưng chỉ dừng lại ở mức xử lý vi phạm hành chính. Người phải thi hành án thường tẩu tán hoặc chuyển quyền sở hữu tài sản cho người thân trước khi bị cưỡng chế. Việc xác minh điều kiện thi hành án của cơ quan chức năng gặp khó khăn về thời gian và thủ tục. Viện kiểm sát và Tòa án yêu cầu chứng cứ chứng minh lỗi cố ý phải hết sức chặt chẽ. Thực trạng này dẫn đến tâm lý e ngại xử lý hình sự ở một số cơ quan có thẩm quyền, làm kéo dài thời gian thi hành án.

4.2. Vướng mắc trong việc áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án

Áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành án là điều kiện pháp lý tiên quyết để khởi tố vụ án hình sự. Tuy nhiên, quy trình tổ chức cưỡng chế trên thực tế gặp nhiều vướng mắc về thẩm quyền và thủ tục. Người phải thi hành án thường lợi dụng quyền khiếu nại để trì hoãn việc cưỡng chế. Sự phối hợp giữa chấp hành viên và lực lượng công an địa phương đôi khi chưa đồng bộ. Khái niệm về hành vi tẩu tán tài sản và điều kiện thi hành thực tế chưa được giải thích cụ thể bằng văn bản dưới luật. Những khoảng trống pháp lý này cản trở việc xử lý tội không chấp hành án một cách kịp thời và triệt để.

V. Các giải pháp xử lý tội không chấp hành án đạt hiệu quả

Nâng cao hiệu quả xử lý tội phạm đòi hỏi thực hiện đồng bộ nhiều nhóm giải pháp chiến lược. Hệ thống quy định pháp luật cần được rà soát và hoàn thiện thường xuyên. Các cơ quan tư pháp cần nâng cao năng lực chuyên môn và trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ thi hành pháp luật. Việc tăng cường cơ chế phối hợp liên ngành giúp tháo gỡ ách tắc trong công tác điều tra và truy tố. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ việc tra cứu và phong tỏa tài sản đương sự kịp thời. Công tác tuyên truyền pháp luật cần được chú trọng nhằm nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân. Xây dựng môi trường tư pháp minh bạch và nghiêm minh là mục tiêu cốt lõi.

5.1. Hoàn thiện quy định pháp luật và ban hành án lệ

Cơ quan tư pháp trung ương cần sớm ban hành thông tư liên tịch hướng dẫn chi tiết áp dụng Điều 380 Bộ luật Hình sự. Nội dung hướng dẫn cần làm rõ tiêu chí xác định hành vi có điều kiện nhưng không thi hành án. Quy trình áp dụng các biện pháp cưỡng chế thi hành án cần được chuẩn hóa đồng bộ. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên nghiên cứu và lựa chọn ban hành án lệ đối với tội danh này. Án lệ giúp thống nhất nhận thức và đường lối xét xử trên phạm vi toàn quốc. Việc hoàn thiện cơ sở pháp lý tạo hành lang minh bạch, ngăn chặn hành vi trốn tránh trách nhiệm và nâng cao hiệu lực phán quyết.

5.2. Tăng cường phối hợp liên ngành tư pháp và tuyên truyền

Mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan Thi hành án, Công an, Viện kiểm sát và Tòa án là yếu tố then chốt. Cần xây dựng quy chế phối hợp chuyển giao hồ sơ vụ việc có dấu hiệu tội phạm một cách nhanh chóng. Chấp hành viên cần được bồi dưỡng kỹ năng thu thập chứng cứ chứng minh hành vi cố ý không chấp hành án. Đồng thời, công tác tuyên truyền và phổ biến giáo dục pháp luật cần được triển khai sâu rộng trong cộng đồng. Việc công khai các bản án xét xử hình sự trên phương tiện truyền thông tạo tính răn đe xã hội cao. Mọi công dân cần hiểu rõ nghĩa vụ tuân thủ bản án quyết định có hiệu lực pháp luật.

Mục lục chi tiết luận án

Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU
1. Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN
1.1. KHÁI NIỆM VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN
1.1.1. Khái niệm Tội không chấp hành án
1.1.2. Một số đặc điểm của Tội không chấp hành án
1.2. SỰ CẦN THIẾT VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUI ĐỊNH TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.2.1. Sự cần thiết của việc qui định Tội không chấp hành án trong Luật hình sự Việt nam
1.2.2. Ý nghĩa của việc qui định Tội không chấp hành án trong luật hình sự
1.3. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY
1.3.1. Tội không chấp hành án trước khi có Bộ Luật hình sự 1985
1.3.2. Tội không chấp hành án theo quy định của Bộ luật hình sự 1985
1.3.3. Tội không chấp hành án theo Bộ luật hình sự năm 1999
2. Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN
2.1. TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1999, PHÂN BIỆT VỚI MỘT SỐ TỘI KHÁC
2.1.1. Khách thể
2.1.2. Mặt khách quan
2.1.3. Mặt chủ quan
2.1.4. Phân biệt Tội không chấp hành án với một số tội phạm khác có liên quan
2.2. HÌNH PHẠT VÀ CÁC BIỆN PHÁP TƯ PHÁP
2.2.1. Các biện pháp tư pháp
3. Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN
3.1. THỰC TRẠNG XỬ LÝ TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN
3.2. CƠ SỞ CỦA CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN
3.2.1. Hiến pháp 2013 - Cơ sở Hiến định cho việc quy định Tội không chấp hành án
3.2.2. Xuất phát từ tình hình tội xâm phạm hoạt động tư pháp nói chung và Tội không chấp hành án hiện nay ở Việt Nam
3.3. HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
3.3.1. Những định hướng chung
3.3.2. Đề xuất sửa đổi, bổ sung điều luật quy định về Tội không chấp hành án được quy định trong Bộ luật hình sự
3.4. CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN
3.4.1. Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật
3.4.2. Đẩy mạnh công tác hướng dẫn và áp dụng pháp luật
3.4.3. Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lượng của đội ngũ cán bộ thuộc các cơ quan tư pháp
3.4.4. Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan có liên quan đến việc giải quyết các vụ án
3.4.5. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với các hoạt động tư pháp, các cơ quan tư pháp và cán bộ thuộc cơ quan tư pháp
3.4.6. Xây dựng án lệ
3.4.7. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan tư pháp
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sĩ luật học tội không chấp hành án theo luật hình sự việt nam

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (97 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ THU HUYỀN Téi kh«ng chÊp hµnh ¸n theo LuËt h×nh sù ViÖt Nam Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự Mã số: 60 38 01 04 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NGỌC CHÍ HÀ NỘI - 2016 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội.

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn. Tôi xin chân thành cảm ơn! NGƢỜI CAM ĐOAN NGUYỄN THỊ THU HUYỀN MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt Danh mục các bảng MỞ ĐẦU. 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN. KHÁI NIỆM VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN.

Khái niệm Tội không chấp hành án. Một số đặc điểm của Tội không chấp hành án. SỰ CẦN THIẾT VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC QUI ĐỊNH TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM. Sự cần thiết của việc qui định Tội không chấp hành án trong Luật hình sự Việt nam.

Ý nghĩa của việc qui định Tội không chấp hành án trong luật hình sự. LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY. Tội không chấp hành án trƣớc khi có Bộ Luật hình sự 1985. Tội không chấp hành án theo quy định của Bộ luật hình sự 1985.

Tội không chấp hành án theo Bộ luật hình sự năm 1999. 25 Chương 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN. TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ 1999, PHÂN BIỆT VỚI MỘT SỐ TỘI KHÁC. Khách thể.

Mặt khách quan. Mặt chủ quan. Phân biệt Tội không chấp hành án với một số tội phạm khác có liên quan. HÌNH PHẠT VÀ CÁC BIỆN PHÁP TƢ PHÁP.

Các biện pháp tƣ pháp. 56 Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN. THỰC TRẠNG XỬ LÝ TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN. CƠ SỞ CỦA CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN.

Hiến pháp 2013 - Cơ sở Hiến định cho việc quy định Tội không chấp hành án. Xuất phát từ tình hình tội xâm phạm hoạt động tƣ pháp nói chung và Tội không chấp hành án hiện nay ở Việt Nam. HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT. Những định hƣớng chung.

Đề xuất sửa đổi, bổ sung điều luật quy định về Tội không chấp hành án đƣợc quy định trong Bộ luật hình sự. CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CỦA VIỆC ÁP DỤNG PHÁP LUẬT CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ ĐỐI VỚI TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN. Tăng cƣờng công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật. Đẩy mạnh công tác hƣớng dẫn và áp dụng pháp luật.

Kiện toàn tổ chức bộ máy, nâng cao chất lƣợng của đội ngũ cán bộ thuộc các cơ quan tƣ pháp. Tăng cƣờng sự phối hợp giữa các cơ quan có liên quan đến việc giải quyết các vụ án. Tăng cƣờng công tác kiểm tra, giám sát đối với các hoạt động tƣ pháp, các cơ quan tƣ pháp và cán bộ thuộc cơ quan tƣ pháp. Xây dựng án lệ.

Tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan tƣ pháp. 85 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 87 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BLHS: Bộ luật hình sự CTTP: Cấu thành tội phạm QHNQ: Quan hệ nhân quả TNHS: Trách nhiệm hình sự XHCN: Xã hội chủ nghĩa DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu Tên bảng Trang Bảng 2.1: Thống kê khung hình phạt tù có thời hạn Điều 304 BLHS 1999 55 Bảng 3.1: Số liệu tình hình xét xử tội phạm trên toàn quốc từ năm 2011-2015 63 Bảng 3.2: Số liệu các vụ án xâm phạm hoạt động tƣ pháp đã bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử trong 05 năm 2011 -2015 64 Bảng 3.3: Số liệu các vụ án Tội không chấp hành án đã bị khởi tố, xét xử 05 năm 2011 -2015 65 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong hệ thống các cơ quan nhà nƣớc, các cơ quan tƣ pháp giữ vị trí quan trọng đặc biệt, là công cụ đắc lực để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Hoạt động của các cơ quan tƣ pháp là điều kiện cần thiết để đảm bảo duy trì công lý nói chung cũng nhƣ để đảm bảo sự hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc khác. Với tính chất quan trọng nhƣ vậy, hoạt động của các cơ quan tƣ pháp cần thiết phải đƣợc bảo vệ bằng luật hình sự trong những trƣờng hợp nhất định. Hoạt động của các cơ quan tƣ pháp có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động chung của bộ máy nhà nƣớc, nó không chỉ góp phần bảo đảm cho hoạt động của xã hội (Nhƣ việc đấu tranh chống các loại tội phạm nhằm bảo đảm an ninh – trật tự an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nƣớc, quyền và lợi ích hợp pháp của mọi tổ chức và công dân), mà còn góp phần vào công tác đấu tranh và phòng ngừa tội phạm, giáo dục công dân ý thức tuân thủ pháp luật. Đây là lý do đòi hỏi phải có những biện pháp cần thiết cũng nhƣ các quy phạm pháp luật phù hợp bảo đảm cho hoạt động đúng đắn của các cơ quan tƣ pháp, chống lại mọi hành vi xâm hại việc thực hiện chức năng của các cơ quan này.

Điều 106 của Hiến pháp 2013 đã nêu rõ: "Bản án, quyết định của Tòa án nhân dân có hiệu lực pháp luật phải được cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan phải nghiêm chỉnh chấp hành" [37, Điều 106]. Bản án, quyết định của Tòa án đƣợc thi hành chính là lúc công lý đƣợc thực hiện trong cuộc sống. Nhiệm vụ của giai đoạn này nhằm mục đích cảm hoá tƣ tƣởng, giáo dục nhân cách, văn hóa, kỹ năng lao động nhằm mục đích làm cho ngƣời thụ án trở thành một công dân tốt cho xã hội và góp phần răn đe, ngăn ngừa chung, các phần dân sự trong bản án hình sự, hôn 1 nhân gia đình, dân sự, kinh tế. đƣợc thực hiện góp phần nâng cao nhận thức của mọi công dân, tổ chức xã hội về sự công bằng của xã hội cũng nhƣ ý thức trách nhiệm của mọi ngƣời trong việc tuân thủ pháp luật.

Việc chấp hành bản án là giai đoạn cuối cùng của quá trình giải quyết một vụ án, chấp hành bản án, quyết định của tòa án có mối quan hệ hữu cơ với giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử. Nếu việc chấp hành bản án không đƣợc thực thi thì toàn bộ hoạt động của cơ quan điều tra, truy tố, xét xử trƣớc đó cũng trở nên vô nghĩa. Nếu nhƣ một bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật không đƣợc chấp hành hoặc chấp hành không nghiêm thì trật tự kỷ cƣơng xã hội bị vi phạm, quyền lực Nhà nƣớc bị xem thƣờng. Chính vì vậy, việc bảo đảm hiệu lực của các bản án, quyết định của Tòa án là một yêu cầu khách quan trong hoạt động quản lý Nhà nƣớc.

Tội không chấp hành án đƣợc quy định trong chƣơng các tội xâm phạm hoạt động tƣ pháp (Điều 304) của Bộ luật hình sự năm 1999. Hành vi không chấp hành án là hành vi xâm hại đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan tƣ pháp. Chính vì vậy, Tội không chấp hành án đã gây những tổn hại không nhỏ đến việc thực hiện chức năng và uy tín của các cơ quan tƣ pháp. Hiện nay, tình hình tội phạm nói chung và Tội không chấp hành bản án nói riêng đang ngày càng diễn biến phức tạp.

Đặc biệt là Tội không chấp hành bản án đang có chiều hƣớng gia tăng, điều này đã gây bức xúc trong dƣ luận. Thực tiễn cho thấy nhiều tổ chức, cá nhân vì chạy theo lợi nhuận đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng về việc không chấp hành án. Những hành vi này cần bị xử lý hình sự để răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa và đấu tranh đối với tội phạm nói chung và Tội không chấp hành án nói riêng. Mặc dù đã đƣợc quy định thành một điều luật riêng (Điều 304) tại Bộ luật Hình sự năm 1999, điều này đã tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan tiến 2 hành tố tụng trong việc áp dụng pháp luật đối với loại tội phạm này, nhƣng trên thực tiễn thi hành đã chỉ ra, bên cạnh mặt tích cực còn bộc lộ những hạn chế nhƣ: a.

Qua theo dõi các địa phƣơng thì thấy rằng, rất ít các vụ việc không chấp hành án đƣợc xử lý hình sự theo quy định tại Điều 304 Bộ luật Hình sự. Trên thực tế hành vi không chấp hành án vẫn xảy ra mà chƣa bị xử lý về hình sự dẫn đến bỏ lọt tội phạm. Nhiều bản án về tội phạm này chƣa đúng với tính chất mức độ phạm tội ảnh hƣởng đến tính nghiêm minh của pháp luật, tạo ra sự mất bình đẳng trong xã hội làm mất lòng tin của nhân dân vào hệ thống pháp luật hình sự; c. Hình phạt áp dụng đối với ngƣời phạm tội chƣa phản ánh đúng với tính chất phạm tội của họ, chƣa đảm bảo chính sách xử lý nghiêm minh đối với các trƣờng hợp phạm tội có tính chất nghiêm trọng hơn, gây khó khăn cho các cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc áp dụng thống nhất quá trình xử lý vụ việc; d.

Các hành vi cấu thành Tội không chấp hành án còn quy định chƣa đầy đủ, ví dụ nhƣ: hành vi tẩu tán tài sản. Những hạn chế nêu trên đã gây ra các hậu quả xã hội nhƣ: làm giảm hiệu lực thi hành của các quyết định và bản án đã có hiệu lực của tòa án, đồng thời làm vô hiệu hóa các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Nguyễn Thị Thu Huyền (2016). Nghiên cứu tội không chấp hành án [Luận án tiến sĩ, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội]. LuanAn.net. https://luanan.net/luat-hoc/luat-hinh-su/nghien-cuu-toi-khong-chap-hanh-an-theo-luat-hinh-su-viet-nam

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Nghiên cứu tội không chấp hành án" nghiên cứu về vấn đề gì?

Nghiên cứu tội không chấp hành án: Phân tích nguyên nhân, hậu quả và giải pháp pháp lý hiệu quả trong thực thi án phạt tù.

Luận án "Nghiên cứu tội không chấp hành án" được bảo vệ tại trường nào?

Luận án này được bảo vệ tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội. Năm bảo vệ: 2016.

Luận án "Nghiên cứu tội không chấp hành án" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Nghiên cứu tội không chấp hành án" thuộc chuyên ngành Luật hình sự và Tố tụng hình sự. Danh mục: Luật Hình Sự.

Luận án "Nghiên cứu tội không chấp hành án" có bao nhiêu trang?

Luận án "Nghiên cứu tội không chấp hành án" có 97 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Nghiên cứu tội không chấp hành án" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter