Luận án tiến sĩ Luật: Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam
Luận án: Luận án tiến sĩ người đại diện của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự việt nam. Xem tóm tắt và tải về tại LuanAn.net
Luan An
Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản
Số trang
188
Thời gian đọc
29 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Khái niệm và vai trò người đại diện đương sự TTDS Việt Nam
- Số trang:
- 188 trang
- Trường:
- Trường Đại học Luật Hà Nội
- Chuyên ngành:
- Luật dân sự và tố tụng dân sự
- Tác giả:
- Bùi Thị Hà
- Năm:
- 2021
Tóm tắt nội dung luận án
I. Khái niệm và vai trò người đại diện đương sự TTDS Việt Nam
Phần này giới thiệu tổng quan về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam. Nhu cầu đại diện phát sinh từ những hạn chế về năng lực hành vi hoặc các yếu tố khách quan khác của đương sự. Vai trò của người đại diện là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trước các cơ quan tố tụng. Cơ chế này đảm bảo mọi đương sự đều có thể tham gia vào quá trình giải quyết vụ án, bất kể khả năng tự thực hiện quyền của họ. Việc nghiên cứu về người đại diện giúp hoàn thiện pháp luật, đảm bảo công lý và sự công bằng trong tố tụng dân sự.
1.1. Định nghĩa và đặc điểm người đại diện đương sự
Người đại diện đương sự là cá nhân hoặc pháp nhân thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng thay mặt đương sự. Việc này xảy ra khi đương sự không thể tự mình tham gia tố tụng. Đại diện bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trước tòa án. Đây là một cơ chế thiết yếu trong hệ thống pháp luật. Đại diện đảm bảo công bằng tố tụng. Đặc điểm của người đại diện bao gồm việc hành động vì lợi ích của đương sự. Họ tuân thủ giới hạn thẩm quyền. Hành vi pháp lý của người đại diện ràng buộc đương sự.
1.2. Vai trò thiết yếu của đại diện trong tố tụng dân sự
Đại diện đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo quyền tiếp cận công lý. Nhiều đương sự hạn chế năng lực hành vi tố tụng của đương sự. Họ có thể là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự. Hoặc đương sự gặp khó khăn về địa lý, sức khỏe, kiến thức pháp luật. Người đại diện giúp đương sự thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng. Họ tham gia phiên tòa, nộp tài liệu, đưa ra chứng cứ. Người đại diện bảo vệ quyền lợi chính đáng của đương sự. Vai trò này giúp tiến trình tố tụng diễn ra thuận lợi. Nó đảm bảo tính hợp pháp và hiệu quả của các quyết định của tòa án.
II. Phân loại đại diện đương sự Pháp luật Ủy quyền
Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam phân loại người đại diện đương sự thành hai hình thức chính: đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền. Mỗi hình thức có cơ sở pháp lý và điều kiện áp dụng riêng biệt. Việc phân loại này giúp xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của người đại diện. Nó cũng đảm bảo tính hợp pháp và chặt chẽ trong quá trình tham gia tố tụng. Quy định chung tại Điều 85 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 là nền tảng cho việc áp dụng các hình thức đại diện này, nhằm bảo vệ tốt nhất quyền lợi của đương sự.
2.1. Đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự
Đại diện theo pháp luật trong tố tụng dân sự được quy định rõ ràng. Việc này áp dụng cho đương sự không có năng lực hành vi tố tụng của đương sự đầy đủ. Ví dụ: trẻ vị thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự. Người giám hộ là một dạng đại diện theo pháp luật. Cha, mẹ đại diện cho con chưa thành niên. Người đứng đầu pháp nhân đại diện cho pháp nhân. Việc xác định người đại diện theo pháp luật dựa trên các quy định của Bộ luật Dân sự và Bộ luật Tố tụng Dân sự. Thủ tục cử người đại diện theo pháp luật thường tự động. Nó dựa trên mối quan hệ gia đình hoặc chức vụ.
2.2. Đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự
Đại diện theo ủy quyền trong tố tụng dân sự dựa trên sự tự nguyện. Đương sự có năng lực hành vi đầy đủ. Họ có thể ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng. Việc ủy quyền thực hiện thông qua văn bản ủy quyền tố tụng. Văn bản này phải hợp lệ theo quy định pháp luật. Nội dung ủy quyền ghi rõ phạm vi và thời hạn đại diện. Người đại diện theo ủy quyền có thể là luật sư. Hoặc đó là người có đủ điều kiện theo quy định pháp luật. Mục đích là hỗ trợ đương sự bảo vệ quyền lợi.
2.3. Quy định chung về người đại diện Điều 85 BLTTDS 2015
Điều 85 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 là nền tảng. Điều này quy định chung về người đại diện. Điều 85 nêu rõ các loại người đại diện. Nó cũng đặt ra nguyên tắc cơ bản. Ví dụ, chỉ được đại diện khi có văn bản hợp lệ. Hoặc đại diện phải trong phạm vi được giao. Điều này đảm bảo tính hợp pháp của việc đại diện. Nó cũng bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự. Các quy định này giúp thống nhất việc áp dụng pháp luật. Nó hạn chế lạm dụng quyền đại diện.
III. Quyền và nghĩa vụ người đại diện đương sự TTDS 2015
Người đại diện của đương sự được pháp luật trao cho những quyền và nghĩa vụ cụ thể. Các quy định này nhằm đảm bảo họ có thể thực hiện tốt vai trò của mình. Quyền tố tụng cho phép người đại diện tham gia tích cực vào quá trình giải quyết vụ án. Nghĩa vụ buộc họ hành động trung thực, vì lợi ích tốt nhất của đương sự. Việc hiểu rõ các quyền và nghĩa vụ của người đại diện đương sự là điều kiện tiên quyết. Điều này giúp đảm bảo quá trình tố tụng diễn ra công bằng và hiệu quả.
3.1. Quyền tố tụng của người đại diện đương sự
Người đại diện đương sự có nhiều quyền tố tụng. Các quyền này nhằm bảo vệ lợi ích của đương sự. Ví dụ: quyền yêu cầu, cung cấp chứng cứ. Họ có thể tham gia tranh tụng, hỏi, đối đáp tại phiên tòa. Người đại diện có quyền kháng cáo, kháng nghị bản án, quyết định. Họ cũng có quyền tham gia vào các giai đoạn tố tụng khác nhau. Các quyền này tương đương với quyền của đương sự. Tuy nhiên, một số quyền cá nhân không thể ủy quyền. Ví dụ: quyền ly hôn, nhận con nuôi.
3.2. Nghĩa vụ của người đại diện trong tố tụng dân sự
Song song với quyền, người đại diện có nhiều nghĩa vụ tố tụng. Họ phải hành động trung thực. Người đại diện phải bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự. Họ tuân thủ pháp luật, nội quy phiên tòa. Việc này bao gồm cả việc cung cấp thông tin chính xác. Người đại diện phải có mặt đúng giờ theo yêu cầu của tòa án. Họ không được lợi dụng quyền đại diện gây thiệt hại. Việc này đảm bảo sự công bằng và minh bạch.
IV. Phạm vi và chấm dứt đại diện đương sự tố tụng dân sự
Phạm vi hoạt động của người đại diện và các trường hợp chấm dứt việc đại diện là những khía cạnh quan trọng. Việc xác định rõ phạm vi đại diện của đương sự giúp ngăn chặn việc lạm quyền. Nó cũng đảm bảo mọi hành vi tố tụng đều có giá trị pháp lý. Quy định về chấm dứt đại diện trong tố tụng dân sự cung cấp khung pháp lý. Điều này giải quyết các tình huống khi vai trò đại diện không còn cần thiết hoặc khả thi. Những quy định này đóng góp vào sự minh bạch, ổn định của quá trình tố tụng.
4.1. Phạm vi tham gia tố tụng của người đại diện
Phạm vi đại diện của đương sự được xác định rõ. Đối với đại diện theo pháp luật, phạm vi rộng. Nó thường bao gồm mọi hành vi tố tụng cần thiết. Đối với đại diện theo ủy quyền, phạm vi hẹp hơn. Nó tuân thủ nội dung văn bản ủy quyền tố tụng. Văn bản phải ghi rõ các công việc được ủy quyền. Người đại diện không được vượt quá phạm vi này. Hành vi vượt quá phạm vi có thể không có giá trị pháp lý. Điều này bảo vệ đương sự khỏi rủi ro.
4.2. Chấm dứt vai trò đại diện trong tố tụng dân sự
Chấm dứt đại diện trong tố tụng dân sự xảy ra trong nhiều trường hợp. Ví dụ: đương sự rút lại ủy quyền. Hoặc người đại diện từ chối đại diện. Việc này cũng chấm dứt khi hết thời hạn ủy quyền. Hoặc khi người đại diện, đương sự chết. Người đại diện theo pháp luật chấm dứt khi đương sự có đầy đủ năng lực hành vi. Hoặc khi quan hệ pháp luật làm phát sinh đại diện không còn. Chấm dứt đại diện có thể ảnh hưởng đến tiến trình tố tụng. Tòa án cần thông báo kịp thời.
V. Thực tiễn và giải pháp hoàn thiện pháp luật về đại diện
Thực tiễn áp dụng các quy định về người đại diện đương sự còn đối mặt với nhiều vướng mắc. Những vấn đề này đòi hỏi các giải pháp toàn diện để hoàn thiện hệ thống pháp luật. Việc đánh giá thực trạng giúp nhận diện các điểm yếu, hạn chế. Từ đó, các định hướng và giải pháp được đề xuất. Mục tiêu là nâng cao hiệu quả, tính minh bạch và công bằng của việc đại diện trong tố tụng dân sự. Việc này đảm bảo quyền lợi hợp pháp của đương sự được bảo vệ tốt nhất.
5.1. Thực trạng thi hành pháp luật về người đại diện
Thực tiễn thi hành pháp luật về người đại diện còn gặp nhiều thách thức. Vẫn có những hiểu lầm về phạm vi đại diện của đương sự. Một số người đại diện vượt quá thẩm quyền. Việc này dẫn đến tranh chấp, khiếu nại. Quy định về văn bản ủy quyền tố tụng đôi khi chưa rõ ràng. Nó gây khó khăn trong việc xác định hiệu lực. Vấn đề năng lực hành vi tố tụng của đương sự cũng cần làm rõ hơn. Điều này đặc biệt với người có khó khăn trong nhận thức.
5.2. Định hướng và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật
Hoàn thiện pháp luật về người đại diện là cần thiết. Cần rà soát, bổ sung các quy định còn chồng chéo. Hướng tới làm rõ hơn Điều 85 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Cần quy định chi tiết hơn về thủ tục cử người đại diện theo pháp luật. Việc này cũng áp dụng cho văn bản ủy quyền tố tụng. Nâng cao nhận thức của người dân, cán bộ tư pháp. Đào tạo chuyên sâu cho luật sư, người đại diện. Mục tiêu là đảm bảo quyền lợi tối đa của đương sự.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (188 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƢ PHÁP TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÙI THỊ HÀ ĐỀ TÀI NGƢỜI ĐẠI DIỆN CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - 2021 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƢ PHÁP TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI BÙI THỊ HÀ ĐỀ TÀI NGƢỜI ĐẠI DIỆN CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự Mã số : 9380103 Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: 1. Bùi Thị Huyền 2. Lê Mai Anh HÀ NỘI - 2021 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Các số liệu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng theo quy định. Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận án này. Tác giả luận án Bùi Thị Hà MỤC LỤC MỞ ĐẦU. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu. Những đóng góp mới của việc nghiên cứu đề tài.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án. Kết cấu của luận án. 9 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU. 10 VỀ NGƢỜI ĐẠI DIỆN CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ.
Tình hình nghiên cứu trong nước liên quan đến đề tài luận án. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài liên quan tới đề tài luận án. Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu đề tài luận án. Định hướng nghiên cứu của luận án.
31 CHƢƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ. 36 NGƢỜI ĐẠI DIỆN CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ. Khái niệm, đặc điểm người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự. Cơ sở khoa học của việc xây dựng pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự.
Nội dung pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự. 64 CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH. 82 VỀ NGƢỜI ĐẠI DIỆN CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ. Xác định người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự.
Phạm vi tham gia tố tụng của người đại diện của đương sự và hậu quả khi vượt quá phạm vi đại diện. Quyền và nghĩa vụ tố tụng của người đại diện của đương sự. Những trường hợp không được làm người đại diện của đương sự. Chấm dứt đại diện và hậu quả của chấm dứt đại diện trong tố tụng dân sự.
122 CHƢƠNG 4: THỰC TIỄN THỰC HIỆN, ĐỊNH HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ NGƢỜI ĐẠI DIỆN CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM. Thực tiễn thực hiện pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự. Định hướng của việc hoàn thiện pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam.
170 BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BLTTDS : Bộ luật Tố tụng dân sự BLTTDS năm 2004 : Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 BLTTDS năm 2011 : Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011 BLTTDS năm 2015 : Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2015 BLDS : Bộ luật Dân sự BLLĐ : Bộ luật Lao động BHXH : Bảo hiểm xã hội HĐTPTANDTC : Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao HN&GĐ : Hôn nhân và gia đình NCS : Nghiên cứu sinh NLHVDS : Năng lực hành vi dân sự Nxb : Nhà xuất bản PLTTGQCVADS : Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự PLTTGQCVAKT : Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế PLTTGQCVALĐ : Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án lao động TAND : Toà án nhân dân TANDTC : Toà án nhân dân tối cao VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao TNHH : Trách nhiệm hữu hạn TLĐLĐ : Tổng Liên đoàn Lao động TTDS : Tố tụng dân sự UBND : Uỷ ban nhân dân XHCN : Xã hội chủ nghĩa 1 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Pháp luật là công cụ để quản lý mọi mặt của đời sống xã hội và là phương tiện để thực thi, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mỗi công dân. Do đó, việc mở rộng nghiên cứu các vấn đề pháp luật nhằm luật hóa kịp thời và đúng đắn các mối quan hệ xã hội sẽ góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Trong những năm qua, pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam đã có những bước hoàn thiện đáng kể, từ Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 đến Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011 và mới nhất là Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Các vấn đề được luật điều chỉnh cũng ngày càng được mở rộng cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các quan hệ xã hội, trong đó có vấn đề về người đại diện của đương sự. Đại diện là nhu cầu không thể thiếu trong đời sống xã hội cũng như trong môi trường pháp lý. Trong tố tụng dân sự, đương sự có quyền tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, không phải bất kỳ trường hợp nào đương sự cũng có thể tự mình thực hiện các quyền tố tụng đó.
Vì nguyên nhân chủ quan (như hạn chế về năng lực hành vi, thiếu kiến thức pháp luật.), nguyên nhân khách quan (như thời gian, vị trí địa lý…) dẫn tới việc đương sự không thể tự tham gia tố tụng để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Chính vì vậy, đương sự cần có người đại diện thay mặt mình thực hiện các quyền tố tụng để đảm bảo tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bên cạnh đó, sự tham gia của người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự thông qua việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của đương sự góp phần đảm bảo quyền con người, quyền tiếp cận công lý của công dân cũng như góp phần đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa. Thực tế cho thấy, việc người đại diện của đương sự tham gia tố tụng dân sự đã chứng minh vị trí, vai trò quan trọng của họ đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng như góp phần làm rõ sự thật của vụ việc dân sự.
Vì vậy, việc nghiên cứu một cách đầy đủ, chuyên sâu về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự là cần thiết. Thời gian qua, ở Việt Nam, vấn đề đại diện trong lĩnh vực dân sự đã được luật quy định trong nhiều văn bản pháp luật như: Bộ luật Dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Lao động, Luật Doanh nghiệp, Luật Bảo vệ 2 người tiêu dùng, Luật Hôn nhân và gia đình. Trong đó, nếu Bộ luật Dân sự là văn bản quy định chung nhất các nội dung về chế định đại diện thì Bộ luật Tố tụng dân sự là văn bản quy định về trực tiếp về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự. Trong lĩnh vực tố tụng dân sự, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 là văn bản đầu tiên điều chỉnh tập trung các vấn đề về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự.
Sau đó, các vấn đề về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự tiếp tục được hoàn thiện trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2011, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, một số quy định về người đại diện của đương sự trong Bộ luật Tố tụng dân sự sửa đổi vẫn chưa đầy đủ, một số quy định còn thiếu tính cụ thể, rõ ràng dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau trên thực tế. Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã có nhiều quy định mới về người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự như: Ngoài cá nhân, người đại diện còn có thể là pháp nhân để đảm bảo sự phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015; Tổ chức đại diện tập thể lao động là người đại diện theo pháp luật cho tập thể người lao động khởi kiện vụ án lao động, tham gia tố tụng tại Tòa án khi quyền, lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động bị xâm phạm; Tổ chức đại diện tập thể lao động đại diện cho người lao động khởi kiện vụ án lao động, tham gia tố tụng khi được người lao động ủy quyền; Trường hợp nhiều người lao động có cùng yêu cầu đối với người sử dụng lao động, trong cùng một doanh nghiệp, đơn vị thì họ được ủy quyền cho một đại diện của tổ chức đại diện tập thể lao động thay mặt họ khởi kiện vụ án lao động, tham gia tố tụng tại Tòa án; Trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ (chồng) do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng (vợ) của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ thì cha, mẹ, người thân thích là người đại diện (Khoản 1, 3, 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Bên cạnh đó, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng nhấn mạnh người đại diện theo pháp luật của đương sự trong tố tụng dân sự chỉ có quyền, nghĩa vụ trong phạm vi đại diện của mình.
Về chỉ định người đại diện 3 trong tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng mở rộng trường hợp chỉ định người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự đối với người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Bùi Thị Hà (2021). Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội]. LuanAn.net. https://luanan.net/luat-hoc/luan-an-tien-si-nguoi-dai-dien-cua-duong-su-trong-phap-luat-to-tung-dan-su-viet-nam
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án: Luận án tiến sĩ người đại diện của đương sự trong pháp luật tố tụng dân sự việt nam. Xem tóm tắt và tải về tại LuanAn.net
Luận án "Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội. Năm bảo vệ: 2021.
Luận án "Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam" thuộc chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự. Danh mục: Luật Học.
Luận án "Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam" có bao nhiêu trang?
Luận án "Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam" có 188 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.