Bài giảng Phương pháp Nghiên cứu Khoa học Thể dục Thể thao - ĐH Sư phạm TDTT Hà Nội
Khám phá phương pháp nghiên cứu khoa học thể dục thể thao. Nâng cao hiệu quả tập luyện, tối ưu hóa kết quả thi đấu và phát triển sự nghiệp thể thao bền vững.
Trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội
Luan An
Tập bài giảng
Năm xuất bản
Số trang
139
Thời gian đọc
21 phút
Lượt xem
1
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
40 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- Khái niệm cơ bản Khoa học và Nghiên cứu trong TDTT
- Số trang:
- 139 trang
- Trường:
- Trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội
- Chuyên ngành:
- Thể dục thể thao
- Tác giả:
- Bùi Quang Hải
- Năm:
- 2021
Tóm tắt nội dung luận án
I.Khái niệm cơ bản Khoa học và Nghiên cứu trong TDTT
Tài liệu này cung cấp cái nhìn tổng quan về khoa học và nghiên cứu khoa học, đặc biệt trong lĩnh vực Thể dục Thể thao (TDTT). Khoa học bao gồm hệ thống tri thức về quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy. Tri thức khoa học tích lũy qua lịch sử nhân loại. Mục tiêu là phát hiện, giải thích những quy luật khách quan của các hiện tượng. Không phải mọi tri thức đều là khoa học. Tri thức đơn giản, quan sát thông thường không phải khoa học. Khoa học đòi hỏi việc chỉ ra bản chất, mối quan hệ và nguyên nhân xuất hiện các hiện tượng. Khả năng dự báo phát triển tương lai là đặc trưng của tri thức khoa học. Tính chính xác của tri thức khoa học được kiểm nghiệm qua thực tiễn. Việc ứng dụng khoa học là nền tảng cho mọi thiết kế nghiên cứu khoa học TDTT hiệu quả. Quy trình nghiên cứu khoa học bắt đầu từ việc hiểu rõ bản chất của khoa học.
1.1. Định nghĩa và Bản chất của Khoa học
Khoa học là tập hợp các tri thức được tổ chức. Chúng mô tả các quy luật tự nhiên, xã hội và tư duy khách quan. Các tri thức này hình thành qua quá trình phát triển lịch sử. Mục đích chính là phát hiện và giải thích các quy luật này. Khoa học khác biệt với tri thức thông thường. Tri thức thông thường chỉ là quan sát đơn giản. Khoa học đi sâu vào bản chất. Khoa học khám phá mối liên hệ giữa các hiện tượng. Khoa học tìm ra nguyên nhân gốc rễ. Khả năng dự báo sự phát triển là một tiêu chí quan trọng. Mọi tri thức khoa học phải được kiểm nghiệm thực tiễn. Điều này đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy. Đây là nền tảng vững chắc cho bất kỳ nghiên cứu nào.
1.2. Mục đích và Chức năng cốt lõi của Khoa học
Mục đích cơ bản của khoa học là nhận thức thế giới khách quan. Khoa học giải thích các khía cạnh hiện thực của vạn vật. Nó tác động lên các hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy. Mục tiêu cuối cùng là mang lại kết quả hữu ích cho xã hội. Sự phát triển xã hội phụ thuộc lớn vào tiến bộ khoa học. Khoa học hiện đại là động lực chính của nền kinh tế - xã hội. Nó xác định quy mô và nhịp độ tiến bộ. Ứng dụng khoa học vào sản xuất tăng năng suất, nâng cao chất lượng. Trong TDTT, khoa học giúp tăng cường sức khỏe, thể lực. Nó nâng cao thành tích vận động viên. Khoa học tối ưu hóa quá trình quản lý. Nó cải thiện chất lượng, độ bền các đề tài và sản phẩm thể thao. Đây là bước đầu quan trọng cho bất kỳ nghiên cứu thực nghiệm trong huấn luyện nào.
II.Vai trò phát triển Khoa học Hiện đại trong lĩnh vực TDTT
Khoa học hiện đại mang đến những đặc điểm nổi bật. Nó tác động mạnh mẽ đến mọi lĩnh vực, bao gồm Thể dục Thể thao (TDTT). Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ 4.0 đang phát triển vũ bão. Tốc độ này chưa từng có trong lịch sử. Khối lượng tri thức khoa học tăng nhanh chóng. Khoa học không chỉ là nguồn tri thức. Nó còn là động lực cho sự tiến bộ xã hội. Đặc biệt, nó thúc đẩy các phương pháp nghiên cứu định tính trong TDTT và phương pháp nghiên cứu định lượng trong TDTT. Những tiến bộ này cải thiện đáng kể cách thức huấn luyện, quản lý và phát triển thể thao. Sự hiểu biết sâu sắc về vai trò này là cần thiết cho các nhà nghiên cứu.
2.1. Động lực chính thúc đẩy tiến bộ xã hội
Khoa học hiện đại đóng vai trò động lực. Nó thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Quy mô và nhịp độ của sự tiến bộ được khoa học định hình. Áp dụng khoa học vào sản xuất mang lại lợi ích rõ rệt. Năng suất lao động tăng cao. Chất lượng sản phẩm được cải thiện. Giá thành sản phẩm giảm đáng kể. Điều này tạo ra giá trị kinh tế to lớn. Khoa học không ngừng tạo ra những đột phá mới. Những đột phá này làm thay đổi diện mạo xã hội. Sự phụ thuộc vào khoa học ngày càng gia tăng. Khoa học là yếu tố then chốt cho sự thịnh vượng bền vững.
2.2. Ảnh hưởng sâu rộng đến các hoạt động TDTT
Ứng dụng khoa học trong TDTT mang lại nhiều lợi ích. Nó giúp tăng cường sức khỏe và thể lực cho người tập. Thành tích thể thao của vận động viên được nâng cao. Khoa học tối ưu hóa quá trình quản lý trong lĩnh thao. Chất lượng, độ bền và vẻ đẹp của các đề tài, hàng hóa thể thao cũng được cải thiện. Khoa học cung cấp nền tảng cho việc thu thập và phân tích dữ liệu thể dục thể thao. Nó hướng dẫn việc áp dụng thống kê ứng dụng trong TDTT. Điều này giúp đưa ra các quyết định dựa trên bằng chứng. Các nghiên cứu về dinh dưỡng, huấn luyện, phục hồi chức năng đều dựa vào tiến bộ khoa học. Khoa học TDTT là chìa khóa để đạt được hiệu quả tối ưu.
III.Đặc điểm nổi bật Khoa học Hiện đại phát triển nhanh
Khoa học hiện đại đang trải qua giai đoạn phát triển chưa từng có. Tốc độ tăng trưởng tri thức và công nghệ là cực kỳ nhanh chóng. Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ 4.0 là minh chứng rõ ràng nhất. Sự tăng trưởng này không chỉ về số lượng. Nó còn thể hiện ở việc nảy sinh nhiều bộ môn và lĩnh vực mới. Điều này mở ra nhiều cơ hội cho thiết kế nghiên cứu khoa học TDTT. Nó cũng đặt ra thách thức về việc cập nhật kiến thức liên tục. Việc hiểu rõ những đặc điểm này giúp các nhà nghiên cứu TDTT luôn đi đầu.
3.1. Tốc độ tăng trưởng tri thức và công nghệ vũ bão
Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại bước vào giai đoạn mới. Nó phát triển với nhịp độ nhanh và đột phá. Lịch sử chưa từng chứng kiến sự phát triển nhanh đến vậy. Trong 40 năm gần đây, khối lượng tri thức nhân loại đã tăng gấp nhiều lần. Nó bằng 75% tổng số tri thức tích lũy từ trước đó. Hoạt động khoa học tăng theo quy luật siêu tốc. Cứ 10-15 năm, các chỉ tiêu đều tăng gấp đôi. Sự phát triển vũ bão này đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải liên tục cập nhật kiến thức. Đặc biệt, các phương pháp nghiên cứu định lượng trong TDTT cần được đổi mới liên tục để theo kịp.
3.2. Sự nảy sinh các ngành khoa học và hướng nghiên cứu mới
Sự phát triển nhanh của khoa học dẫn đến nhiều ngành mới. Nhiều vấn đề mới mẻ cũng xuất hiện liên tục. Một ngành khoa học có thể tách thành hai, ba hoặc nhiều ngành mới. Ví dụ điển hình là trí tuệ nhân tạo. Thực tế ảo, thực tại ảo cũng là những lĩnh vực mới. Điện toán đám mây và tự động hóa đang phát triển mạnh mẽ. Những ngành này cung cấp công cụ và phương pháp mới. Chúng hỗ trợ cho việc thu thập và phân tích dữ liệu thể dục thể thao. Sự xuất hiện của các ngành mới mở ra chân trời nghiên cứu rộng lớn. Điều này đặc biệt quan trọng cho việc phát triển các mô hình huấn luyện tiên tiến.
IV.Khoa học là lực lượng sản xuất trực tiếp trong TDTT
Khoa học không chỉ là nguồn tri thức. Nó đã trở thành một lực lượng sản xuất trực tiếp. Đây là cơ sở vững chắc cho sự tiến bộ kỹ thuật. Nó cũng là một lĩnh vực mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất. Nhờ ứng dụng các tiến bộ khoa học, nhiều ngành sản xuất đạt được giá trị gia tăng đáng kể. Điều này cũng đúng với lĩnh vực Thể dục Thể thao (TDTT). Khoa học giúp rút ngắn thời gian từ nghiên cứu đến ứng dụng. Nó thúc đẩy sự hợp tác giữa nhà khoa học và thực tiễn. Đây là yếu tố then chốt để phát triển các phương pháp nghiên cứu định tính trong TDTT và phương pháp nghiên cứu định lượng trong TDTT.
4.1. Cơ sở tiến bộ kỹ thuật và hiệu quả kinh tế cao
Khoa học hiện đại là lực lượng sản xuất trực tiếp. Nó tạo ra cơ sở cho tiến bộ kỹ thuật. Đây là lĩnh vực hiệu quả nhất. Khoa học đảm bảo hiệu quả kinh tế cao nhất. Ứng dụng tiến bộ khoa học mang lại giá trị lớn. Ví dụ, ngành nông nghiệp Việt Nam ghi nhận 1/3 giá trị sản lượng gia tăng nhờ khoa học. Xu thế ứng dụng thành tựu khoa học vào sản xuất ngày càng tăng. Điều này khẳng định vai trò không thể thiếu của khoa học. Nó giúp tối ưu hóa nguồn lực và mang lại lợi nhuận cao.
4.2. Rút ngắn thời gian từ nghiên cứu đến ứng dụng thực tiễn
Mối quan hệ giữa khoa học và sản xuất ngày càng chặt chẽ. Thời gian từ nghiên cứu đến ứng dụng giảm đáng kể. Trước đây, quá trình này có thể kéo dài hàng chục năm. Ngày nay, nhiều công nghệ được áp dụng chỉ sau vài năm. Một số sản phẩm như máy vi tính thay đổi đời mới chỉ sau vài tháng. Điều này cho thấy tốc độ chuyển giao công nghệ nhanh chóng. Khoa học đã tạo ra nhiều ngành sản xuất và quy trình công nghệ mới. Nguyên liệu mới, năng lượng mới đều bắt nguồn từ các cơ sở khoa học. Việc này giúp các nghiên cứu thực nghiệm trong huấn luyện nhanh chóng đi vào thực tiễn.
4.3. Hợp tác liên ngành và nâng cao trình độ dân trí
Các cơ sở sản xuất và đơn vị sự nghiệp đều đẩy mạnh nghiên cứu khoa học. Sự hợp tác giữa nhà khoa học, kỹ sư và công nhân ngày càng chặt chẽ. Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho việc ứng dụng khoa học. Trình độ tay nghề và tri thức khoa học của người lao động được nâng cao. Trình độ dân trí chung cũng được cải thiện. Điều này tạo môi trường thuận lợi để ứng dụng hiệu quả tri thức khoa học. Khoa học - công nghệ, cùng với giáo dục - đào tạo, được coi là quốc sách hàng đầu. Chúng là động lực phát triển kinh tế - xã hội. Đạo đức nghiên cứu khoa học TDTT cũng được chú trọng trong quá trình này.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (139 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộBỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TDTT HÀ NỘI TẬP BÀI GIẢNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU KHOA HỌC THỂ DỤC THỂ THAO Biên soạn: GVCC. Bùi Quang Hải TS. Nguyễn Thu Nga Ths. Lê Thị Thu Thúy Hà Nội, 12-2021 1 PHẦN I.
LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CHƯƠNG I CÁC KHÁI NIỆM VỀ KHOA HỌC VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC 1. KHÁI NIỆM KHOA HỌC Khoa học là hệ thống các tri thức về các quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội và tư duy được tích lũy trong quá trình phát triển của lịch sử loài người nhằm phát hiện, giải thích những quy luật khách quan của các hiện tượng. Nhưng không phải mọi tri thức đều là khoa học. Những tri thức do con người thu được qua quan sát thông thường, đơn giản, mặc dầu có tác dụng rất quan trọng đối với cuộc sống nhưng không thể gọi là khoa học được, vì chúng không chỉ ra được bản chất và mối quan hệ lẫn nhau giữa các hiện tượng.
Do đó, chỉ có những tri thức vạch ra bản chất, mối liên hệ lẫn nhau và nguyên nhân xuất hiện các hiện tượng, có khả năng dự báo sự phát triển của chúng trong tương lai mới là khoa học. Tính chính xác của các tri thức khoa học chỉ được khẳng định khi chúng được kiểm nghiệm trong thực tiễn. Mục đích và chức năng quan trọng và cơ bản của khoa học là nhận thức thế giới khách quan. Khoa học là để trực tiếp giải thích các khía cạnh hiện thực của tất cả các hiện tượng trong tự nhiên, xã hội và tư duy, đồng thời tác động lên chúng để mang lại những kết quả hữu ích cho xã hội.
Do đó, sự phát triển nhanh hay chậm của xã hội phần lớn bị chi phối bởi sự phát triển và tiến bộ của khoa học. Khoa học hiện đại là động lực cho sự tiến bộ của nền kinh tế - xã hội. Nó xác định quy mô và nhịp độ phát triển của sự tiến bộ đó. Khoa học ứng dụng vào sản xuất sẽ làm tăng trưởng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm.
Áp dụng khoa học vào trong các hoạt động thể dục thể thao sẽ góp phần tăng cường sức khỏe và thể lực cho người tập, nâng cao thành tích thể thao cho vận động viên, tối ưu hóa quá trình quản lý, nâng cao chất lượng, độ bền và vẻ đẹp cho các đề tài xây dựng và hàng hóa thể thao. ĐẶC ĐIỂM CỦA KHOA HỌC HIỆN ĐẠI Khác với trước đây, ngày nay khoa học hiện đại hàm chứa những đặc điểm sau: - Trước hết cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đã bước sang một giai đoạn mới và phát triển như vũ bão. Chúng ta đang chứng kiến một giai đoạn mới của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ 4.0 phát triển với nhịp độ nhanh, đột phá. Lịch sử chưa bao giờ diễn ra một nhịp độ phát triển khoa học nhanh đến như vậy.
Chỉ 40 năm lại đây khối lượng tri thức khoa học của nhân loại đã đạt được bằng 75% khối lượng tri thức được tích lũy từ trước đó. Đặc điểm của hoạt động khoa học trong 270 năm lại đây đã tăng theo quy luật siêu tốc. Cứ 10 - 15 năm tất cả các chỉ tiêu đều tăng gấp đôi. Sự phát triển vũ bão của khoa học còn thể hiện ở chỗ đã nảy sinh những bộ môn khoa học hướng vào những vấn đề mới mẻ và ngày càng xuất hiện các ngành mới, hướng mới và vấn đề mới.
Đã xuất hiện việc tách một ngành khoa học thành 2, 3 và thậm chí còn nhiều hơn các ngành mới. Chẳng hạn gần đây đã xuất hiện các khoa học mới như: trí tuệ nhân tạo; thực tế ảo, thực tại ảo; điện toán đám mây; tự động hóa. 2 - Một đặc điểm không kém phần quan trọng là khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, là cơ sở của sự tiến bộ kỹ thuật và là một lĩnh vực có hiệu quả nhất, đảm bảo cho hiệu quả kinh tế cao nhất nhờ áp dụng các tiến bộ khoa học. Ví dụ, riêng ở ngành nông nghiệp nước ta 1/3 giá trị sản lượng gia tăng là nhờ sự đóng góp của khoa học - công nghệ.
Hiện đang xuất hiện xu thế ngày càng gia tăng mức độ ứng dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất và đời sống xã hội. Nhờ những chương trình cấp nhà nước, cấp ngành với sự tham gia của nhiều nhà khoa học, các viện và trung tâm nghiên cứu, các trường Đại học, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất xã hội và đã tạo nên những sự chuyển biến sâu sắc trong mối quan hệ giữa khoa học với sản xuất. Mối quan hệ này biểu hiện ở chỗ: + Nhiều ngành sản xuất mới và quy trình công nghệ mới trước hết là bắt nguồn từ các cơ sở khoa học (nguyên liệu mới, năng lượng mới.); + Rút ngắn thời gian từ khâu nghiên cứu đến khâu ứng dụng các thành tựu khoa học vào sản xuất. Trước đây thời gian đó phải kéo dài hàng chục năm, nhưng ngày nay, như Lazer thì chỉ sau ít năm đã được áp dụng, máy vi tính vài ba tháng đã thay đời mới và lúc đó đồ cũ đã trở nên lỗi thời, lạc hậu; + Trong các cơ sở sản xuất (nhà máy, hợp tác xã.) và đơn vị sự nghiệp cũng tiến hành và phát triển các đề tài nghiên cứu khoa học, trong đó có sự hợp tác ngày càng chặt chẽ của các nhà khoa học với các kỹ sư, công nhân và viên chức nhà nước; + Trình độ tay nghề và tri thức khoa học của công nhân, cán bộ kỹ thuật, cũng như trình độ dân trí được nâng lên tạo điều kiện để ứng dụng có hiệu quả các tri thức khoa học vào thực tiễn và đời sống.
Vì vậy, một hình thức nhận thức của xã hội, khoa học - công nghệ cùng với giáo dục - đào tạo đã được Đảng và Nhà nước ta xem là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội, là nhân tố chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và củng cố quốc phòng an ninh, là điều kiện cần thiết để giữ vững độc lập dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Nhưng khoa học - công nghệ nước ta phát triển chậm, chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa, còn thua kém so với nhiều nước trong khu vực. Nhiều vấn đề đặt ra trong công cuộc đổi mới chưa có sự giải đáp thỏa đáng về phương diện lý luận. Nhiều vấn đề kinh tế - xã hội thiếu những dự báo khoa học.
Tình trạng chậm trễ trong một số lĩnh vực lý luận và khoa học xã hội chưa được khắc phục. Đối với Ngành Thể dục Thể thao, đặc biệt là đối với cán bộ khoa học, trong đó có đội ngũ giáo viên thể dục thể thao, không tiến hành nghiên cứu khoa học thì khó có thể đạt được những thành tích đáng kể trong công tác thể dục thể thao, đặc biệt là trong huấn luyện thể thao, phát triển thể chất, trong đào tạo cán bộ và tổ chức quản lý. sở dĩ như vậy là vì: Một: Nhiều vấn đề về thể dục thể thao còn chưa được nghiên cứu. Hai: Một số vấn đề tuy có nghiên cứu nhưng chưa giải quyết đến nơi đến chốn hoặc nghiên cứu còn tủn mủn và tản mạn.
3 Ba: Một số vấn đề do cuộc sống thể dục thể thao đặt ra ở nước ta hoàn toàn khác với các nước (con người Việt Nam, tổ chức quản lý, kinh tế thể thao.), nhất là ở thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Do đó, khoa học thể dục thể thao được đặt ra như là một trong những điều kiện quan trọng hàng đầu để giải quyết thành công nhiệm vụ giáo dục thể chất, huấn luyện thể thao nói riêng và thể dục thể thao nói chung. Vì vậy, những người làm công tác thể dục thể thao đặc biệt là huấn luyện viên, giáo viên thể dục thể thao không những chỉ giỏi về lý luận, nắm vững phương pháp và thành thạo thực hành, mà còn phải là một cán bộ khoa học mẫn cán. Với sinh viên, trong thời gian ngồi trên ghế nhà trường ngoài việc phải học tốt, tập luyện tốt và biết phương pháp thể dục thể thao, còn phải rèn luyện để có kỹ năng tổ chức và tiến hành nghiên cứu khoa học.
KHOA HỌC LÀ HỆ THỐNG CÁC TRI THỨC Theo V.Lênin, lộ trình nhận thức là từ quan sát sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Quá trình nhận thức bao giờ cũng bắt đầu từ việc thu nhận các sự kiện. Bản thân sự kiện chưa phải là khoa học, song theo I.Paplop, nó là không khí của nhà khoa học. Vì vậy, sự kiện là một bộ phận không tách rời của các tri thức khoa học nếu như nó được thu thập và khái quát một cách có hệ thống.
Tiến hành hệ thống hóa và khái quát hóa sự kiện theo cách trừu tượng đơn giản nhất, đó là khái niệm. Nó là một thành phần cấu trúc quan trọng của khoa học. Những khái niệm lớn hơn, nghĩa là sự trừu tượng chung nhất gọi là phân loại. Một dạng quan trọng của các tri thức là các nguyên tắc (định lý, quy tắc).
Các nguyên tắc chính là vị trí xuất phát của một lĩnh vực khoa học nào đấy. Chúng là dạng sơ khai của việc hệ thống hóa các tri thức. Khâu quan trọng nhất trong hệ thống các tri thức khoa học là các quy luật khoa học. Các quy luật khoa học phản ánh những mối quan hệ bản chất nhất, ổn định nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy.
Một hình thức có tính khái quát và hệ thống cao nhất gọi là học thuyết. Học thuyết là lý luận về các kinh nghiệm và thực tiễn đã được khái quát để hình thành các nguyên tắc và phương pháp khoa học làm cơ sở để tiến hành khái quát, nhận thức các quá trình và hiện tượng, phân tích ảnh hưởng của các nhân tố khác nhau lên các quá trình, hiện tượng đó và đề xuất các kiến nghị áp dụng vào thực tiễn. Khi các nhà nghiên cứu chưa đưa ra những minh chứng đáng tin cậy, thì họ sử dụng giả thuyết khoa học. Giả thuyết khoa học là nhận định cần được chứng minh.
Giả thuyết là nhận định sơ bộ, là kết luận giả định của nghiên cứu, hoặc là luận điểm cần chứng minh của nghiên cứu. Mendeleev nói: " Không có một nghiên cứu nào không phải đặt giả thuyết".
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Bùi Quang Hải, Nguyễn Thu Nga, Lê Thị Thu Thúy (2021). Phương pháp Nghiên cứu Khoa học TDTT - Bài giảng ĐH Sư phạm [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội]. LuanAn.net. https://luanan.net/ky-thuat-co-khi/phuong-phap-nghien-cuu-khoa-hoc-the-duc-the-thao
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Phương pháp Nghiên cứu Khoa học TDTT - Bài giảng ĐH Sư phạm" nghiên cứu về vấn đề gì?
Khám phá phương pháp nghiên cứu khoa học thể dục thể thao. Nâng cao hiệu quả tập luyện, tối ưu hóa kết quả thi đấu và phát triển sự nghiệp thể thao bền vững.
Luận án "Phương pháp Nghiên cứu Khoa học TDTT - Bài giảng ĐH Sư phạm" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm TDTT Hà Nội. Năm bảo vệ: 2021.
Luận án "Phương pháp Nghiên cứu Khoa học TDTT - Bài giảng ĐH Sư phạm" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Phương pháp Nghiên cứu Khoa học TDTT - Bài giảng ĐH Sư phạm" thuộc chuyên ngành Thể dục Thể thao. Danh mục: Kỹ Thuật Cơ Khí.
Luận án "Phương pháp Nghiên cứu Khoa học TDTT - Bài giảng ĐH Sư phạm" có bao nhiêu trang?
Luận án "Phương pháp Nghiên cứu Khoa học TDTT - Bài giảng ĐH Sư phạm" có 139 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Phương pháp Nghiên cứu Khoa học TDTT - Bài giảng ĐH Sư phạm" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.