Tổng quan về luận án

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và tự do hóa thương mại quốc tế, ngành du lịch đã vươn lên trở thành một trong những trụ cột kinh tế then chốt, đóng góp đáng kể vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và tạo động lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại nhiều quốc gia đang phát triển. Theo báo cáo của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), năm 2018 ghi nhận hơn 1,4 tỷ lượt khách du lịch quốc tế trên toàn cầu (tăng trưởng gần 6%), mở ra giai đoạn cạnh tranh khốc liệt giữa các điểm đến. Tại Việt Nam, du lịch đã có bước tăng trưởng vượt bậc với 15,5 triệu lượt khách quốc tế năm 2018. Tuy nhiên, tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), sự phân hóa về năng lực cạnh tranh giữa các địa phương diễn ra ngày càng sâu sắc. Điển hình năm 2018, trong khi Cần Thơ đạt 8,4 triệu lượt khách, An Giang đón 8,5 triệu lượt, Kiên Giang đạt 7,6 triệu lượt, thì tỉnh Bạc Liêu chỉ đón 1,8 triệu lượt khách, doanh thu du lịch đạt 1.600 tỷ đồng, đóng góp vỏn vẹn 2,68% vào tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) của tỉnh.

Thực trạng này phản ánh một nghịch lý khoa học và thực tiễn: Dù Bạc Liêu sở hữu hệ sinh thái tài nguyên đặc thù vô cùng phong phú (quần thể sinh thái biển Nhà Mát, thảm rừng ngập mặn ven biển, sân chim Bạc Liêu và sân chim Lập Điền với hơn 60 loài chim quý hiếm, vườn nhãn cổ trên 100 năm tuổi, cùng hệ thống di sản văn hóa tâm linh - lịch sử như Nghệ thuật Đờn ca tài tử Nam Bộ, Khu lưu niệm Nhạc sĩ Cao Văn Lầu, Nhà Công tử Bạc Liêu, Quảng trường Hùng Vương, Chùa Xiêm Cán, Quán Âm Phật Đài, Nhà thờ Tắc Sậy), song địa phương vẫn chưa thể chuyển hóa lợi thế so sánh tĩnh thành lợi thế cạnh tranh động. Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi xuất phát từ việc thiếu vắng một mô hình thực nghiệm định lượng toàn diện, tích hợp các cấu phần quản trị hiện đại để đánh giá và nâng cao năng lực cạnh tranh điểm đến (Destination Competitiveness) tại một địa bàn cấp tỉnh thuộc vùng kinh tế nông nghiệp - sinh thái đặc thù như Bạc Liêu.

Luận án tiến sĩ ngành Quản trị kinh doanh (Mã số: 62340102) do nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Sang thực hiện tại Trường Đại học Cần Thơ, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Phú Son, giải quyết thấu đáo vấn đề trên thông qua hệ thống câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu được thiết kế chuẩn mực:

  • Câu hỏi nghiên cứu (Research Questions):

    • RQ1: Những nhân tố nào cấu thành và tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch tại Bạc Liêu?
    • RQ2: Mức độ và cường độ tác động của từng nhân tố đến năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Bạc Liêu được lượng hóa ra sao?
    • RQ3: Thực trạng năng lực cạnh tranh du lịch Bạc Liêu đang đứng ở vị trí nào khi đặt trong tương quan so sánh với đối thủ cạnh tranh trực tiếp trong vùng (điển hình là An Giang)?
    • RQ4: Các đặc điểm nhân khẩu học (giới tính, độ tuổi, học vấn, thu nhập, tình trạng hôn nhân, nghề nghiệp) có tạo ra sự khác biệt mang tính điều tiết trong nhận định về năng lực cạnh tranh điểm đến hay không?
    • RQ5: Những hàm ý quản trị và lộ trình thực thi chính sách nào có thể giúp tối ưu hóa năng lực cạnh tranh du lịch Bạc Liêu giai đoạn 2021–2026?
  • Hệ thống giả thuyết nghiên cứu (Research Hypotheses):

    • H1: Nhân tố marketing điểm đến có tác động thuận chiều (+) đến năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Bạc Liêu.
    • H2: Nhân tố thu hút khách du lịch có tác động thuận chiều (+) đến năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Bạc Liêu.
    • H3: Nhân tố quản lý điểm đến có tác động thuận chiều (+) đến năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Bạc Liêu.
    • H4 đến H10: Các mối quan hệ tương tác giữa các cấu phần thuộc tầng bậc thứ cấp (tài nguyên, hạ tầng, chất lượng dịch vụ, thương hiệu, truyền thông xúc tiến) cấu thành nên 3 trụ cột độc lập trong mô hình cấu trúc.

Khung lý thuyết của luận án được kế thừa và phát triển từ Lý thuyết Lợi thế cạnh tranh của Porter (1985, 1990), Mô hình Năng lực cạnh tranh điểm đến của Ritchie & Crouch (1993, 2000, 2003), Mô hình tích hợp cạnh tranh điểm đến của Dwyer & Kim (2003) và Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory) kết hợp Lý thuyết Trao đổi xã hội (Social Exchange Theory - Yoon, 2002). Phạm vi nghiên cứu được xác lập chặt chẽ: Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ 450 du khách nội địa (từ 18 tuổi trở lên) trực tiếp trải nghiệm tại các điểm đến Bạc Liêu trong giai đoạn từ tháng 10/2017 đến tháng 01/2018, kết hợp phỏng vấn chuyên sâu 30 chuyên gia quản lý và doanh nghiệp; chuỗi dữ liệu thứ cấp được tổng hợp liên tục trong giai đoạn 2014–2018. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc lượng hóa chính xác các trọng số ảnh hưởng, cung cấp luận cứ thực nghiệm vững chắc để tái cấu trúc chiến lược phát triển du lịch địa phương.

Literature Review và Positioning

Tổng quan y văn quốc tế cho thấy sự tiến hóa của các trường phái nghiên cứu năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch diễn ra qua nhiều giai đoạn với các cuộc tranh luận học thuật sâu sắc:

Trường phái khởi xướng bởi Poon (1993) nhấn mạnh vào tính linh hoạt, sự đổi mới liên tục và công nghệ trong chuỗi giá trị du lịch, xác lập bốn nguyên tắc cạnh tranh: môi trường dẫn đầu, du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn, mở rộng phân phối và xây dựng khu vực tư nhân năng động. Tiếp đó, Crouch & Ritchie (1994, 1999, 2003) đã xây dựng khung lý thuyết kinh điển phân định rõ giữa "Lợi thế so sánh" (Comparative Advantage - nguồn lực sẵn có, tự nhiên, di sản thừa hưởng) và "Lợi thế cạnh tranh" (Competitive Advantage - khả năng triển khai, vận hành và khai thác hiệu quả các nguồn lực). Mô hình Ritchie & Crouch (2003) phân tích 5 cụm nhân tố: Nguồn lực cốt lõi và nhân tố thu hút; Chính sách, quy hoạch và phát triển; Quản lý điểm đến; Nguồn lực và nhân tố hỗ trợ; Các nhân tố đáp ứng nhu cầu.

Song song đó, Dwyer & Kim (2003) cùng các công trình thực nghiệm kế thừa (Dwyer, Livaic & Mellor, 2003; Omerzel-Gomezelj & Mihalic, 2008) đã phát triển mô hình tích hợp, phân định rõ giữa nguồn lực thừa hưởng (Inherited Resources) và nguồn lực sáng tạo (Created Resources), đồng thời đặt trọng tâm vào điều kiện nhu cầu và bối cảnh vị trí (Situational Conditions). Các học giả như Mihalic (2000) và Hassan (2000) tập trung tranh luận về tính bền vững môi trường, khẳng định chất lượng môi trường sinh thái là một bộ phận không thể tách rời của năng lực cạnh tranh điểm đến. Ngược lại, Steven Pike & Stephen J. Page (2014) cùng Macchiavelli (2009) lại khẳng định vai trò sống còn của năng lực Marketing điểm đến (Destination Marketing) và Tổ chức quản lý điểm đến (DMO) trong việc định hình nhận thức và chuyển hóa lực kéo du khách.

Trong y văn tồn tại cuộc tranh luận học thuật gay gắt giữa hai luồng quan điểm: Luồng thứ nhất (đại diện bởi nhóm tiếp cận nguồn lực - Resource-Based View) cho rằng tài nguyên tự nhiên và di sản văn hóa độc bản là nhân tố quyết định sức hút điểm đến; luồng thứ hai (đại diện bởi nhóm tiếp cận năng lực động - Dynamic Capabilities View) lập luận rằng tài nguyên chỉ là điều kiện cần, còn năng lực quản lý điểm đến, chất lượng dịch vụ và chiến lược tiếp thị - định vị thương hiệu mới là điều kiện đủ để tạo ra dòng khách và giá trị gia tăng bền vững.

Vị trí học thuật của luận án được xác lập rõ nét: Luận án không sao chép nguyên bản các mô hình phương Tây mà tiến hành tinh chỉnh, tích hợp ba trụ cột then chốt: (1) Marketing điểm đến, (2) Nhân tố thu hút khách du lịch, và (3) Quản lý điểm đến vào một mô hình phương trình cấu trúc tuyến tính (SEM) nhất quán, phản ánh đặc thù của một điểm đến đang phát triển tại châu Á.

Khi đối chiếu với các nghiên cứu quốc tế điển hình:

  1. So với nghiên cứu của Armenski Tanja & cộng sự (2011) tại Serbia (sử dụng khung 85 chỉ số của Dwyer & cộng sự, chỉ ra Serbia mạnh về tài nguyên tự nhiên nhưng rất yếu về quản lý điểm đến và điều kiện nhu cầu), luận án đi xa hơn khi không chỉ dừng lại ở thống kê mô tả mà tiến hành kiểm định mô hình quan hệ nhân quả đa biến qua SEM và phân tích cấu trúc đa nhóm.
  2. So với nghiên cứu của Goffi (2017) tại các điểm đến du lịch vừa và nhỏ của Ý và hai thành phố lớn ở Mỹ Latinh (Rio de Janeiro và Salvador de Bahia) vốn tập trung vào quan điểm của chuyên gia, luận án của Nguyễn Thanh Sang đã cân bằng góc nhìn bằng cách khảo sát trực tiếp 450 du khách thực tế kết hợp đối soát với 30 chuyên gia, tăng cường tính khách quan của dữ liệu thị trường.
  3. So với nghiên cứu của Zaliha & cộng sự (2016) tại đảo Langkawi (Malaysia) hay Yakin & cộng sự (2015) tại Dalyan (Thổ Nhĩ Kỳ), nghiên cứu này đặt điểm đến Bạc Liêu vào thế so sánh tương quan thực chứng với đối thủ cạnh tranh trực tiếp trong tiểu vùng (An Giang), mang lại giá trị định vị chiến lược vượt trội.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án đã mở rộng đáng kể lý thuyết Lợi thế cạnh tranh của Michael Porter (1985, 1990) và mô hình Năng lực cạnh tranh điểm đến của Ritchie & Crouch (2003) khi chuyển hóa các khái niệm trừu tượng thành các thang đo thực nghiệm có tính giá trị phân biệt (Discriminant Validity) và độ tin cậy tổng hợp (Composite Reliability) cao trong bối cảnh du lịch địa phương cấp tỉnh.

Mô hình lý thuyết đề xuất xác lập 3 nhóm tiền tố độc lập trực tiếp định hình biến phụ thuộc Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch Bạc Liêu:

  1. Cấu phần Marketing điểm đến: Đại diện cho năng lực truyền thông, xúc tiến, xây dựng hình ảnh thương hiệu, chính sách định giá và phân phối sản phẩm du lịch.
  2. Cấu phần Nhân tố thu hút khách du lịch: Đại diện cho sức hấp dẫn của tài nguyên thiên nhiên (sinh thái biển, rừng ngập mặn, sân chim), tài nguyên nhân tạo - lịch sử (văn hóa Đờn ca tài tử, di tích kiến trúc, ẩm thực đặc sản) và sự kiện lễ hội.
  3. Cấu phần Quản lý điểm đến: Bao hàm hiệu quả quy hoạch, phát triển kết cấu hạ tầng giao thông - kỹ thuật, chất lượng nguồn nhân lực, quản lý trật tự môi trường và an toàn điểm đến.

Mô hình phương trình cấu trúc xác nhận bước chuyển dịch nhận thức khoa học (Paradigm shift): Năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch không phải là một thuộc tính tĩnh đo lường bằng số lượng tài nguyên tự có, mà là một hàm tương tác động giữa năng lực thu hút cốt lõi, khả năng quản trị vận hành của chính quyền địa phương và hiệu quả marketing tiếp cận thị trường.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp nhuần nhuyễn 3 nền tảng lý thuyết lớn:

  • Lý thuyết Lợi thế cạnh tranh (Porter, 1985, 1990): Cung cấp lăng kính về chi phí, sự khác biệt hóa sản phẩm du lịch và phân khúc thị trường ngách (du lịch văn hóa tâm linh kết hợp sinh thái).
  • Khung năng lực cạnh tranh điểm đến bền vững (Ritchie & Crouch, 2003; Dwyer & Kim, 2003): Cung cấp cấu trúc phân rã các biến quan sát từ nguồn lực hỗ trợ đến nguồn lực cốt lõi.
  • Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder Theory - Freeman, 1984; Yoon, 2002): Giải thích cơ chế tương tác đa chiều giữa du khách, chính quyền quản lý nhà nước, doanh nghiệp cung ứng dịch vụ và cộng đồng dân cư bản địa.

Điều kiện biên (Boundary conditions) của khung phân tích được xác định rõ: Khung áp dụng tối ưu cho các điểm đến du lịch mới nổi, phụ thuộc chủ yếu vào thị trường du khách nội địa, có tài nguyên văn hóa - sinh thái phong phú nhưng hạ tầng kết nối liên vùng còn trong giai đoạn hoàn thiện.

graph TD
    A[Marketing điểm đến<br/>Hình ảnh, Xúc tiến, Giá cả] -->|H1 (+)| D[NĂNG LỰC CẠNH TRANH<br/>ĐIỂM ĐẾN DU LỊCH BẠC LIÊU]
    B[Nhân tố thu hút khách<br/>Tài nguyên sinh thái, Di sản, Sự kiện] -->|H2 (+)| D
    C[Quản lý điểm đến<br/>Quy hoạch, Hạ tầng, Nhân lực, Môi trường] -->|H3 (+)| D
    
    subgraph Yếu tố điều tiết
    E[Đặc điểm nhân khẩu học<br/>Tình trạng hôn nhân, Nghề nghiệp] -.-> D
    end

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án vận dụng thế giới quan thực chứng (Positivism) kết hợp phương pháp nghiên cứu hỗn hợp (Mixed Methods Research Design) tuần tự: Nghiên cứu định tính đóng vai trò khám phá, hiệu chỉnh thang đo và nghiên cứu định lượng đóng vai trò kiểm định mô hình lý thuyết.

Thiết kế đa tầng bậc (Multi-level design) được triển khai qua 3 cấp độ:

  • Cấp độ vĩ mô: Phân tích dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2014–2018 của Cục Thống kê, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bạc Liêu và Hiệp hội Du lịch ĐBSCL nhằm định vị hiệu suất ngành so với Cần Thơ, An Giang, Kiên Giang.
  • Cấp độ trung mô: Phỏng vấn chuyên sâu 30 chuyên gia đầu ngành, bao gồm lãnh đạo UBND tỉnh, UBND TP. Bạc Liêu, Sở VHTTDL, Trung tâm Thông tin Xúc tiến Du lịch, giảng viên Đại học Bạc Liêu, Cao đẳng KT-KT Bạc Liêu và giám đốc các doanh nghiệp lữ hành, lưu trú trên địa bàn.
  • Cấp độ vi mô: Khảo sát định lượng trực tiếp 450 du khách nội địa đã hoàn thành chuyến trải nghiệm tại các cụm không gian du lịch trọng điểm của Bạc Liêu.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình nghiên cứu trải qua 6 giai đoạn nghiêm ngặt:

  1. Tổng quan tài liệu và xây dựng thang đo nháp: Dựa trên các chỉ số của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), Hội đồng Du lịch và Lữ hành Thế giới (WTTC), Bộ chỉ số Năng lực cạnh tranh Du lịch & Lữ hành (TTCI) và mô hình Ritchie & Crouch.
  2. Nghiên cứu định tính: Phỏng vấn thử nghiệm để sàng lọc biến quan sát, điều chỉnh ngôn từ bảng hỏi cho phù hợp với ngữ cảnh văn hóa du lịch Nam Bộ.
  3. Nghiên cứu định lượng sơ bộ: Khảo sát thử nghiệm quy mô nhỏ để kiểm tra độ tin cậy sơ khởi của thang đo.
  4. Khảo sát định lượng chính thức: Sử dụng bảng câu hỏi cấu trúc với thang đo khoảng cách Likert 5 điểm (1: Rất không đồng ý đến 5: Rất đồng ý). Mẫu được phân bổ theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện có phân tầng tại các địa bàn trọng điểm (TP. Bạc Liêu, thị xã Giá Rai, huyện Vĩnh Lợi, Đông Hải).
  5. Tam giác đạc dữ liệu (Data Triangulation): Kết hợp chéo giữa số liệu điều tra thực địa, báo cáo thống kê kinh tế xã hội và ý kiến chuyên gia phản biện.
  6. Kiểm định độ tin cậy và giá trị: Kiểm tra hệ số Cronbach's Alpha (yêu cầu $\alpha \ge 0.70$, hệ số tương quan biến - tổng $Corrected\ Item-Total\ Correlation \ge 0.30$), Phân tích nhân tố khám phá (EFA) với phép trích Principal Components và phép quay Varimax/Promax (yêu cầu hệ số KMO $\ge 0.50$, kiểm định Bartlett $p < 0.05$, phương sai trích $Cumulative\ Variance \ge 50%$, hệ số tải nhân tố $Factor\ Loading \ge 0.50$).

Data và phân tích

Dữ liệu được làm sạch, mã hóa và phân tích thông qua phần mềm SPSS 20.0 và phần mềm AMOS:

  • Phân tích nhân tố khẳng định (CFA): Được thực hiện nhằm đánh giá tính đơn hướng (Unidimensionality), độ tin cậy tổng hợp ($CR \ge 0.70$), tổng phương sai trích ($AVE \ge 0.50$), độ giá trị hội tụ (Convergent Validity) và độ giá trị phân biệt (Discriminant Validity) giữa các khái niệm nghiên cứu.
  • Mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM): Đánh giá độ phù hợp toàn diện của mô hình thông qua các chỉ số: Chi-square/df ($CMIN/df \le 3.0$), Comparative Fit Index ($CFI \ge 0.90$), Tucker-Lewis Index ($TLI \ge 0.90$), và Root Mean Square Error of Approximation ($RMSEA \le 0.08$).
  • Kiểm định độ vững bằng Bootstrap: Tiến hành lặp lại mẫu với $N = 450$ lần để kiểm tra tính ổn định của các ước lượng tham số, đảm bảo kết quả không bị chệch do phân phối mẫu.
  • Phân tích cấu trúc đa nhóm (Multi-Group Analysis - MGA): Đánh giá tính bất biến của mô hình đo lường và kiểm định sự khác biệt về mối quan hệ cấu trúc giữa các nhóm đặc tính nhân khẩu học (Giới tính, Độ tuổi, Trình độ học vấn, Thu nhập, Tình trạng hôn nhân, Nghề nghiệp).
  • Kiểm soát sai lệch phương pháp chung (Common Method Variance - CMV): Sử dụng phương pháp kiểm định đơn nhân tố của Harman (Harman's Single-Factor Test) để chứng minh phương sai trích của nhân tố đầu tiên không chiếm đa số ($< 50%$).

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Kết quả ước lượng mô hình SEM và phân tích thực nghiệm mang lại 5 phát hiện then chốt có giá trị khoa học cao:

  1. Tác động mạnh mẽ của Marketing điểm đến: Trong mô hình SEM chuẩn hóa, Marketing điểm đến thể hiện vai trò là nhân tố tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê cao nhất đến năng lực cạnh tranh du lịch Bạc Liêu ($p < 0.001$). Điều này chỉ ra rằng đối với một điểm đến cấp tỉnh ở giai đoạn đầu của chu kỳ phát triển, các hoạt động quảng bá, xúc tiến, liên kết tour tuyến và xây dựng thương hiệu là chìa khóa mở rộng thị phần.
  2. Nhân tố thu hút khách du lịch là nền tảng cốt lõi: Kết quả kiểm định CFA và SEM xác nhận tài nguyên du lịch (đặc biệt là di sản Đờn ca tài tử, cụm kiến trúc Nhà Công tử Bạc Liêu, quần thể Quán Âm Phật Đài và hệ sinh thái ven biển) có tác động tích cực đáng kể đến năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên, nếu thiếu vắng các sản phẩm du lịch sáng tạo và dịch vụ bổ trợ đi kèm, mức độ giữ chân du khách sẽ suy giảm nhanh chóng.
  3. Vai trò định hình của Quản lý điểm đến: Hiệu quả quản lý của chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng về hạ tầng giao thông, kiểm soát giá cả, an ninh trật tự, vệ sinh môi trường và đào tạo nguồn nhân lực tác động thuận chiều có ý nghĩa thống kê đến năng lực cạnh tranh điểm đến.
  4. Sự khác biệt mang tính điều tiết theo nhân khẩu học: Phân tích cấu trúc đa nhóm chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê sâu sắc giữa các nhóm du khách theo Tình trạng hôn nhân (Nhóm độc thân và Nhóm đã lập gia đình) và Nghề nghiệp (Nhóm cán bộ, doanh nhân, sinh viên so với Nhóm công nhân và lao động khác). Nhóm du khách gia đình và cán bộ/doanh nhân đòi hỏi cao hơn về chất lượng dịch vụ lưu trú và tính an toàn, trong khi nhóm trẻ/độc thân chú trọng tính trải nghiệm và tính kinh tế.
  5. Nghịch lý cạnh tranh trong tương quan tiểu vùng: Phân tích thực trạng so sánh đối đầu giữa Bạc Liêu và An Giang cho thấy: Dù Bạc Liêu có tài nguyên văn hóa - tâm linh tương đồng và sở hữu thêm lợi thế sinh thái biển, nhưng doanh thu và lượt khách chỉ bằng khoảng 21-22% so với An Giang. Nguyên nhân cốt tử nằm ở sự yếu kém về hệ thống hạ tầng kết nối, cơ sở lưu trú cao cấp (3-5 sao thiếu hụt nghiêm trọng) và tính nghèo nàn của chuỗi sản phẩm du lịch đêm.

Implications đa chiều

graph LR
    A[HÀM Ý QUẢN TRỊ TOÀN DIỆN] --> B[Marketing Điểm Đến]
    A --> C[Thu Hút Khách Du Lịch]
    A --> D[Quản Lý Điểm Đến]
    A --> E[Thể Chế & Chính Sách]

    B --> B1[Định vị thương hiệu Đờn ca tài tử & Công tử Bạc Liêu]
    B --> B2[Chuyển đổi số tiếp thị & Liên kết Cần Thơ - Cà Mau]

    C --> C1[Đa dạng hóa sản phẩm du lịch sinh thái Nhà Mát]
    C --> C2[Phát triển kinh tế ban đêm & ẩm thực địa phương]

    D --> D1[Nâng cấp hạ tầng kết nối & cơ sở lưu trú chất lượng cao]
    D --> D2[Đào tạo chuẩn hóa nguồn nhân lực phục vụ du lịch]

    E --> E1[HĐND/UBND tỉnh ban hành chính sách ưu đãi đầu tư]
    E --> E2[Hiệp hội Du lịch liên kết doanh nghiệp lữ hành]
  • Đóng góp lý thuyết: Khẳng định tính tương thích của mô hình tích hợp năng lực cạnh tranh tại các thị trường du lịch mới nổi; chứng minh rằng trong giai đoạn tăng trưởng ban đầu, marketing điểm đến đóng vai trò kích hoạt mạnh mẽ hơn cả các yếu tố tài nguyên tĩnh.
  • Đổi mới phương pháp luận: Cung cấp quy trình kiểm định SEM đa bước kết hợp kiểm soát CMV và phân tích đa nhóm MGA chặt chẽ, tạo khung chuẩn mực cho các nghiên cứu tiếp theo về kinh tế du lịch cấp địa phương.
  • Ứng dụng thực tiễn cho doanh nghiệp du lịch: Doanh nghiệp lữ hành và lưu trú cần thiết kế các gói sản phẩm cá nhân hóa theo từng phân khúc nhân khẩu học; tăng cường liên kết chuỗi cung ứng dịch vụ để giảm giá thành nhưng nâng cao chất lượng trải nghiệm.
  • Khuyến nghị chính sách theo 4 cấp quản trị:
    • Đối với Hội đồng nhân dân (HĐND) tỉnh Bạc Liêu: Ban hành các nghị quyết chuyên đề về cơ chế, chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư hạ tầng du lịch, giải phóng mặt bằng sạch cho các dự án du lịch trọng điểm.
    • Đối với Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Bạc Liêu: Phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển du lịch gắn với liên kết vùng ĐBSCL; ưu tiên nguồn vốn ngân sách cho hạ tầng giao thông kết nối các khu/điểm du lịch (tuyến đê biển, đường kết nối Quán Âm Phật Đài - Nhà Mát - Vườn chim).
    • Đối với Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bạc Liêu: Tăng cường vai trò nhạc trưởng trong quản lý chất lượng dịch vụ; chuẩn hóa nguồn nhân lực qua các chương trình đào tạo nghiệp vụ lữ hành, thuyết minh viên; đẩy mạnh chuyển đổi số trong xúc tiến quảng bá.
    • Đối với các Doanh nghiệp du lịch trên địa bàn: Tích cực liên kết hình thành các liên minh kích cầu, nâng cao tính chuyên nghiệp và đạo đức kinh doanh, tuyệt đối bài trừ nạn chèo kéo, ép giá du khách.

Limitations và Future Research

Luận án thừa nhận một cách khách quan các giới hạn nghiên cứu:

  • Giới hạn về mẫu khảo sát: Nghiên cứu chỉ tập trung vào đối tượng du khách nội địa người Việt Nam (do khách quốc tế đến Bạc Liêu tại thời điểm nghiên cứu chiếm tỷ trọng rất thấp, chỉ 2,86% tổng lượt khách). Do đó, khả năng tổng quát hóa kết quả cho phân khúc du khách quốc tế còn hạn chế.
  • Giới hạn về thời gian và không gian dữ liệu: Dữ liệu định lượng cắt ngang (Cross-sectional data) được thu thập trong giai đoạn từ 10/2017 đến 01/2018, chưa phản ánh được biến động theo chu kỳ mùa vụ và sự thay đổi hành vi du lịch sau các biến cố kinh tế - xã hội lớn.
  • Giới hạn về phạm vi địa bàn: Nghiên cứu giới hạn tại tỉnh Bạc Liêu, các kết quả so sánh với An Giang mới chỉ dựa trên dữ liệu thứ cấp và phỏng vấn chuyên gia mà chưa tiến hành khảo sát định lượng song song tại An Giang.

Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda) cần tập trung:

  1. Mở rộng kích thước mẫu và đối tượng khảo sát sang phân khúc du khách quốc tế khi các tuyến giao thông liên vùng và sân bay lân cận hoàn thiện.
  2. Thực hiện nghiên cứu theo chuỗi thời gian (Longitudinal Study) để theo dõi sự biến chuyển của năng lực cạnh tranh điểm đến trước và sau các can thiệp chính sách.
  3. Bổ sung các biến số mới vào mô hình cấu trúc như: Chuyển đổi số trong du lịch (Digital Tourism Transformation), Du lịch xanh bền vững (Green/Sustainable Tourism Practices), và Trải nghiệm du khách thông minh (Smart Tourist Experience).

Tác động và ảnh hưởng

  • Tác động học thuật (Academic Impact): Luận án cung cấp một tài liệu tham khảo chuẩn mực, được kỳ vọng tạo ra chỉ số trích dẫn cao trong các nghiên cứu về quản trị du lịch, kinh tế điểm đến tại Việt Nam và khu vực Đông Nam Á. Bộ thang đo được kiểm định độ tin cậy là công cụ hữu hiệu cho các nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Kinh tế phát triển.
  • Chuyển đổi ngành công nghiệp du lịch (Industry Transformation): Cung cấp cơ sở khoa học giúp ngành du lịch Bạc Liêu và bán đảo Cà Mau tái cấu trúc sản phẩm du lịch, chuyển dịch từ khai thác chiều rộng sang chiều sâu, tối ưu hóa chuỗi giá trị và thúc đẩy kinh tế tư nhân tham gia đầu tư dịch vụ chất lượng cao.
  • Ảnh hưởng chính sách công (Policy Influence): Các hàm ý quản trị và kiến nghị trong luận án đã được chuyển giao trực tiếp, đóng góp vào việc xây dựng Đề án phát triển du lịch tỉnh Bạc Liêu giai đoạn 2021–2025, định hướng đến năm 2030.
  • Lợi ích kinh tế - xã hội: Góp phần nâng cao tỷ trọng đóng góp của du lịch vào GRDP tỉnh từ mức 2,68% lên các mục tiêu cao hơn, tạo sinh kế bền vững, tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương, đồng thời bảo tồn và phát huy giá trị Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (Đờn ca tài tử Nam Bộ).

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Học viên sau đại học: Tiếp cận một quy trình nghiên cứu thực nghiệm hoàn chỉnh từ phương pháp hỗn hợp, kỹ thuật xử lý SEM đa bước đến phân tích cấu trúc đa nhóm MGA.
  • Các nhà khoa học và Giảng viên đại học: Kế thừa khung lý thuyết tích hợp và hệ thống thang đo đã được chuẩn hóa để áp dụng cho các điểm đến du lịch tương đồng trong nước và quốc tế.
  • Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch (Lữ hành, Khách sạn, Nhà hàng): Nắm bắt chính xác các yếu tố quyết định sự hài lòng và cảm nhận cạnh tranh của du khách để tối ưu hóa chiến lược định giá, tiếp thị và nâng cao chất lượng dịch vụ.
  • Các nhà hoạch định chính sách và Cơ quan quản lý nhà nước (HĐND, UBND, Sở VHTTDL): Sở hữu hệ thống bằng chứng thực nghiệm đáng tin cậy để ban hành chính sách quy hoạch, phân bổ nguồn lực đầu tư công và kiểm soát môi trường du lịch hiệu quả.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và đã mở rộng lý thuyết nào?

Luận án đã mở rộng mô hình Năng lực cạnh tranh điểm đến của Ritchie & Crouch (2003) và Dwyer & Kim (2003) bằng cách tái cấu trúc và xác lập thực nghiệm mô hình 3 trụ cột (Marketing điểm đến, Thu hút khách du lịch, Quản lý điểm đến) được lượng hóa bằng phương trình cấu trúc tuyến tính SEM. Đóng góp độc đáo nhất là chứng minh trong bối cảnh điểm đến mới nổi tại quốc gia đang phát triển, Marketing điểm đến có trọng số tác động vượt trội lên năng lực cạnh tranh tổng thể, vượt qua quan niệm truyền thống vốn coi tài nguyên tự nhiên là yếu tố quyết định.

2. Điểm đổi mới về phương pháp luận của luận án khi so sánh với các nghiên cứu trước đây?

So với nghiên cứu của Armenski Tanja & cộng sự (2011) vốn chỉ dừng lại ở kỹ thuật thống kê mô tả chỉ số, hoặc nghiên cứu của Goffi (2017) chỉ khảo sát đơn phương từ phía chuyên gia, luận án đã kết hợp phương pháp hỗn hợp tuần tự, đối soát tam giác đạc giữa 30 chuyên gia và 450 du khách thực địa, áp dụng kỹ thuật Bootstrap $N=450$ lần và phân tích cấu trúc đa nhóm (MGA) để kiểm định sự khác biệt nhân khẩu học.

3. Phát hiện bất ngờ và phản trực giác nhất trong dữ liệu là gì?

Phát hiện bất ngờ nhất là mặc dù Bạc Liêu sở hữu hệ sinh thái tài nguyên thiên nhiên và di sản văn hóa tâm linh rất phong phú và độc đáo bậc nhất ĐBSCL, nhưng năng lực cạnh tranh điểm đến lại bị đánh giá thấp trong tương quan với An Giang do điểm nghẽn nghiêm trọng ở khâu quản lý dịch vụ phụ trợ, kết cấu hạ tầng giao thông kết nối và sự thiếu vắng hoàn toàn các chiến lược định vị thương hiệu bài bản. Tài nguyên không tự động chuyển hóa thành năng lực cạnh tranh nếu thiếu vắng năng lực quản trị DMO.

4. Luận án có cung cấp quy trình nhân bản (Replication Protocol) rõ ràng không?

Luận án cung cấp chi tiết toàn bộ thang đo các biến quan sát, bảng câu hỏi cấu trúc, quy trình lấy mẫu phân tầng, các tiêu chí đánh giá độ tin cậy $\alpha$, tiêu chuẩn kiểm định CFA/SEM và kịch bản phân tích đa nhóm, cho phép các nhà nghiên cứu khác nhân bản hoàn toàn quy trình này tại bất kỳ tỉnh/thành phố hoặc điểm đến du lịch nào khác.

5. Lộ trình nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo ra sao?

Lộ trình nghiên cứu 10 năm tới được định hướng theo 3 giai đoạn: (1) Mở rộng mô hình nghiên cứu sang tập mẫu du khách quốc tế; (2) Thực hiện nghiên cứu dọc theo thời gian (Longitudinal Panel Data) để đánh giá tác động sau khi hoàn thành các tuyến cao tốc liên vùng ĐBSCL; (3) Tích hợp các biến số kinh tế số, du lịch thông minh (Smart Tourism) và chỉ số phát thải carbon/du lịch tuần hoàn vào mô hình cạnh tranh điểm đến.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thanh Sang đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu đặt ra, tạo nên một dấu ấn khoa học và thực tiễn vững chắc với 6 đóng góp cốt lõi:

  1. Xác lập hệ thống cơ sở lý luận toàn diện và tích hợp thành công mô hình thực nghiệm về các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh điểm đến du lịch cấp tỉnh trong bối cảnh nền kinh tế đang phát triển.
  2. Lượng hóa chính xác mối quan hệ tác động trực tiếp, có ý nghĩa thống kê của 3 trụ cột: Marketing điểm đến, Nhân tố thu hút khách du lịch và Quản lý điểm đến đối với Năng lực cạnh tranh du lịch Bạc Liêu thông qua mô hình SEM.
  3. Nhận diện và chứng minh thực nghiệm vai trò điều tiết của các biến nhân khẩu học (Tình trạng hôn nhân, Nghề nghiệp) trong đánh giá năng lực cạnh tranh điểm đến thông qua phân tích cấu trúc đa nhóm (MGA).
  4. Phân tích sâu sắc bức tranh thực trạng năng lực cạnh tranh của du lịch Bạc Liêu trên cơ sở so sánh đối đầu với An Giang, chỉ rõ các điểm nghẽn cốt tử về kết cấu hạ tầng, cơ sở lưu trú và sản phẩm du lịch đêm.
  5. Xây dựng hệ thống giải pháp và hàm ý quản trị mang tính khả thi cao, phân định lộ trình thực thi rõ ràng cho 4 chủ thể quản trị: Hội đồng nhân dân tỉnh, Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch và các Doanh nghiệp du lịch.
  6. Mở ra 3 nhánh nghiên cứu mới giàu tiềm năng: Nghiên cứu năng lực cạnh tranh điểm đến quốc tế hậu đại dịch, nghiên cứu kinh tế du lịch ban đêm (Night-time Economy), và ứng dụng chuyển đổi số - du lịch thông minh trong việc nâng cao vị thế cạnh tranh của các điểm đến thứ cấp tại khu vực Đông Nam Á.