Tổng quan nghiên cứu

Quản lý tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp là nhiệm vụ chiến lược trong phát triển kinh tế - xã hội bền vững tại khu vực Tây Nguyên. Tại huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông, tổng diện tích tự nhiên đạt khoảng 81.340 ha, trong đó quy hoạch ba loại rừng chiếm tới 32.557,8 ha và tỷ lệ che phủ rừng đạt 29,87%. Dù sở hữu tiềm năng lâm nghiệp to lớn, công tác giao đất, giao rừng cho người dân trong giai đoạn 2021–2023 ghi nhận kết quả rất khiêm tốn: diện tích rừng tự nhiên được phê duyệt giao là 898,64 ha nhưng thực tế chỉ bàn giao được 279,65 ha, đạt tỷ lệ vỏn vẹn 31,12%. Trong khi đó, áp lực sinh kế của 82.700 cư dân thuộc 21 dân tộc anh em khiến tình trạng xâm canh, lấn chiếm 13.615,51 ha đất quy hoạch lâm nghiệp chưa có rừng diễn ra phức tạp.

Đề án thạc sĩ ngành Quản lý công của tác giả Phí Ngọc Thắng, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Thiều Huy Thuật tại Học viện Hành chính Quốc gia, tập trung giải quyết nút thắt quản lý nhà nước về giao đất giao rừng. Mục tiêu nghiên cứu hướng đến việc hoàn thiện quy trình thực thi, khắc phục sự chồng chéo giữa hệ thống văn bản pháp lý và nâng cao hiệu quả sinh kế gắn với bảo vệ rừng. Nghiên cứu thực hiện trên phạm vi không gian toàn huyện Krông Nô giai đoạn 2021–2024, định hướng đến năm 2030, mang lại hệ giá trị ứng dụng thực tiễn cho công tác quản trị tài nguyên công tại các địa bàn miền núi.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng tích hợp của ba lý thuyết quản trị hiện đại:

  • Lý thuyết Quản lý công mới (New Public Management - NPM): Nhấn mạnh vào việc phân cấp quản lý, nâng cao tính minh bạch, tối ưu hóa nguồn lực hành chính và chuyển đổi vai trò của nhà nước từ kiểm soát trực tiếp sang kiến tạo, đồng hành cùng người dân.
  • Lý thuyết Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng (Community-Based Natural Resource Management - CBNRM): Khẳng định vai trò làm chủ của người dân bản địa trong quản trị rừng, đảm bảo kết hợp hài hòa giữa tri thức bản địa, luật tục và pháp luật nhà nước.
  • Lý thuyết Quyền tài sản (Property Rights Theory): Xác lập cơ chế phân định rõ ràng quyền sở hữu, quyền sử dụng và quyền hưởng lợi từ đất rừng, tạo động lực kinh tế để người dân chủ động đầu tư bảo vệ tài nguyên.

Các khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa bao gồm: Quản lý nhà nước về giao đất giao rừng, Đất lâm nghiệp quy hoạch, Chủ thể quản lý rừng và Sinh kế lâm nghiệp bền vững.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa phân tích dữ liệu thứ cấp và điều tra thực chứng định lượng, định tính:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập toàn bộ các báo cáo diễn biến rừng năm 2021–2023 theo Quyết định số 323/QĐ-UBND, các quy hoạch sử dụng đất theo Quyết định số 2195/QĐ-UBND và các văn bản quy phạm pháp luật như Luật Lâm nghiệp 2017, Luật Đất đai 2024, Nghị định số 156/2018/NĐ-CP, Nghị định số 58/2024/NĐ-CP.
  • Phương pháp khảo sát thực địa: Thực hiện khảo sát điều tra xã hội học với cỡ mẫu $N = 120$ đối tượng. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên được áp dụng để đảm bảo tính đại diện cao, bao gồm 60 cán bộ công chức thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Hạt Kiểm lâm, 08 Ban Lâm nghiệp xã và 60 chủ hộ gia đình, đại diện cộng đồng buôn làng tại 12 xã, thị trấn.
  • Lý do lựa chọn phương pháp: Việc kết hợp chọn mẫu phân tầng và phân tích thống kê mô tả giúp đo lường chính xác sự khác biệt giữa năng lực quản trị công của chính quyền cơ sở và nhu cầu thực tế của người dân, từ đó làm rõ căn nguyên của các điểm nghẽn hành chính.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

  1. Tiến độ bàn giao đất rừng thực tế biến động mạnh và đạt tỷ lệ thấp: Trong giai đoạn 2021–2023, diện tích giao rừng thực tế đạt 279,65 ha trên tổng số 898,64 ha kế hoạch (tỷ lệ 31,12%). Tỷ lệ hoàn thành chỉ tiêu qua các năm có sự chênh lệch lớn: năm 2021 đạt 46,11% (94,71 ha/205,39 ha), năm 2022 giảm sâu xuống 19,29% (111,24 ha/576,65 ha), đến năm 2023 tăng lên 63,21% (73,70 ha/116,60 ha).
  2. Hiệu lực bảo vệ rừng sau khi bàn giao cho hộ gia đình đạt mức tối ưu: Toàn bộ 279,65 ha rừng tự nhiên sau khi giao cho các hộ dân quản lý không ghi nhận bất kỳ vụ vi phạm Luật Lâm nghiệp nào trong suốt giai đoạn 2021–2023. Phong trào trồng rừng xã hội hóa toàn huyện đạt 515,22 ha (năm 2021 đạt 152,15 ha, năm 2022 đạt 187,70 ha, năm 2023 đạt 175,37 ha).
  3. Cơ cấu quản lý đất lâm nghiệp tồn tại nhiều bất cập: Doanh nghiệp nhà nước và Ủy ban nhân dân cấp xã nắm giữ trên 50% diện tích rừng nhưng thiếu nguồn lực quản lý, dẫn đến 13.615,51 ha đất chưa có rừng bị xâm canh. Tỷ lệ đất rừng giao cho hộ gia đình chỉ chiếm khoảng 27,5%, làm giảm tính xã hội hóa của chính sách.
  4. Bất cập nghiêm trọng về định mức kinh tế và độ trễ chính sách: Chi phí thực tế để trồng rừng sản xuất gỗ lớn dao động từ 80 đến 90 triệu đồng/ha, nhưng mức hỗ trợ theo Thông tư số 12/2022/TT-BNNPTNT chỉ đạt 5 đến 10 triệu đồng/ha. Mặc dù Nghị định số 58/2024/NĐ-CP đã nâng mức hỗ trợ lên 15 triệu đồng/ha, khoảng cách tài chính vẫn là rào cản lớn đối với các hộ nghèo.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh bức tranh đối lập sâu sắc khi được trực quan hóa qua biểu đồ so sánh tiến độ thực hiện kế hoạch giao đất giao rừng và bảng cơ cấu phân bổ quỹ đất lâm nghiệp 32.798,53 ha. Mặc dù mô hình giao rừng gắn với trách nhiệm cụ thể của từng hộ mang lại tỷ lệ bảo vệ nguyên vẹn 100%, tốc độ triển khai lại bị kìm hãm bởi năng lực lập hồ sơ và rà soát hiện trạng thực địa.

Nguyên nhân căn bản xuất phát từ sự chậm trễ trong ban hành văn bản hướng dẫn thi hành các Chương trình mục tiêu quốc gia (độ trễ chính sách kéo dài từ 9 đến 12 tháng) và quy trình hành chính 5 bước còn nhiều tầng nấc trung gian. Khi so sánh với kinh nghiệm thành công của huyện Quế Phong (bàn giao 426,52 ha đất rừng có sự đồng thuận của già làng) và huyện Tương Dương (triển khai 25.093,28 ha nhờ mô hình tuần tra nhóm 7–10 hộ), huyện Krông Nô cần lồng ghép chặt chẽ yếu tố văn hóa bản địa vào quy chế quản lý rừng cộng đồng.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ tài chính và cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng: Cụ thể hóa các tiêu chuẩn trợ cấp gạo theo Nghị định số 58/2024/NĐ-CP, đồng thời thiết lập cơ chế chia sẻ lợi tức từ thị trường tín chỉ carbon rừng. Đảm bảo 100% hộ dân nhận khoán được tiếp cận nguồn chi trả dịch vụ môi trường rừng trong giai đoạn 2025–2026. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Nông và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
  2. Cải cách thủ tục hành chính và số hóa hồ sơ địa chính: Đơn giản hóa quy trình giao đất giao rừng 5 bước, rút ngắn thời gian thẩm định thực địa từ 30 ngày xuống dưới 20 ngày. Hoàn thành cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 618,99 ha diện tích chưa giao trước quý IV/2026. Chủ thể thực hiện: Phòng Tài nguyên và Môi trường phối hợp Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện Krông Nô.
  3. Ứng dụng công nghệ viễn thám và thiết bị bay không người lái (UAV): Triển khai hệ thống thông tin địa lý (GIS) và công nghệ UAV vào công tác kiểm kê, giám sát 32.798,53 ha đất lâm nghiệp, cập nhật biến động tài nguyên rừng định kỳ hàng tháng từ đầu năm 2025. Chủ thể thực hiện: Hạt Kiểm lâm liên huyện và Ban Quản lý rừng.
  4. Kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực cho 08 Ban Lâm nghiệp xã: Bố trí đủ biên chế kiểm lâm địa bàn chuyên trách, tổ chức các lớp tập huấn nghiệp vụ định kỳ 2 lần/năm cho cán bộ cấp xã và già làng, trưởng bản trước năm 2026. Chủ thể thực hiện: Ủy ban nhân dân huyện Krông Nô.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Cán bộ quản lý nhà nước tại Ủy ban nhân dân cấp huyện và cấp xã: Cung cấp cơ sở thực tiễn và giải pháp chuẩn hóa quy trình giao đất giao rừng 5 bước theo quy định pháp luật mới nhất.
  2. Cán bộ chuyên môn ngành Nông nghiệp & PTNT, Tài nguyên & Môi trường, Kiểm lâm: Nắm bắt phương pháp điều tra hiện trạng rừng, xử lý tranh chấp ranh giới và ứng dụng công nghệ giám sát viễn thám.
  3. Học viên cao học, nghiên cứu sinh ngành Quản lý công và Chính sách công: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chất lượng cao về phương pháp nghiên cứu định lượng, thiết kế phiếu điều tra xã hội học và khung phân tích chính sách tài nguyên.
  4. Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và Ban quản lý dự án bảo tồn: Tham khảo dữ liệu về quản trị rừng cộng đồng, sinh kế giảm nghèo và cơ chế tiếp cận thị trường tín chỉ carbon tại địa bàn miền núi Tây Nguyên.

Câu hỏi thường gặp

Đề tài giải quyết vấn đề cốt lõi nào trong công tác quản lý đất rừng tại Krông Nô?
Đề tài tháo gỡ điểm nghẽn khiến tỷ lệ giao đất giao rừng chỉ đạt 31,12% kế hoạch trong giai đoạn 2021–2023, đồng thời giải quyết bài toán thiếu đất sản xuất và xâm canh 13.615,51 ha đất lâm nghiệp chưa có rừng của người dân địa phương.

Hiệu quả quản lý sau khi giao rừng cho hộ gia đình được chứng minh như thế nào?
Thực tế chứng minh trong suốt giai đoạn 2021–2023, trên toàn bộ 279,65 ha rừng đã bàn giao cho các hộ gia đình không xảy ra bất kỳ vụ phá rừng hay vi phạm Luật Lâm nghiệp nào, khẳng định tính đúng đắn của chủ trương xã hội hóa nghề rừng.

Nguyên nhân chính khiến tiến độ giao đất giao rừng đạt thấp là gì?
Nguyên nhân chủ yếu do việc rà soát hiện trạng rừng cấp xã chưa sát thực tế, định mức hỗ trợ trồng rừng 5–15 triệu đồng/ha quá thấp so với chi phí thực tế 80–90 triệu đồng/ha, cùng với sự chậm trễ trong hướng dẫn hạn mức giao đất của các sở, ngành.

Đề án đề xuất rút ngắn thời gian xử lý thủ tục hành chính ra sao?
Đề án đề xuất tích hợp đo đạc địa chính với đánh giá đặc điểm lâm phần, cắt giảm thời gian thẩm định hồ sơ từ tối đa 30 ngày làm việc xuống dưới 20 ngày, đẩy mạnh nộp hồ sơ trực tuyến qua hệ thống dịch vụ công một cửa.

Các giải pháp của luận văn có tính khả thi cho các địa phương khác không?
Các giải pháp về mô hình nhóm hộ tuần tra, ứng dụng công nghệ bay không người lái UAV và cơ chế tài chính dịch vụ môi trường rừng hoàn toàn có thể nhân rộng tại các huyện miền núi có điều kiện tương đồng ở Tây Nguyên và Tây Bắc.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện khung lý luận quản lý công và quy chuẩn pháp lý mới nhất về giao đất, giao rừng cấp huyện.
  • Đánh giá thực chứng tiến độ bàn giao 279,65 ha rừng tự nhiên tại Krông Nô với tỷ lệ vi phạm bảo vệ rừng sau bàn giao là 0%.
  • Chỉ rõ các điểm nghẽn về thể chế, định mức tài chính và năng lực thực thi của bộ máy hành chính cơ sở giai đoạn 2021–2023.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá gắn liền lộ trình chuyển đổi số, hoàn thiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đến năm 2030.
  • Mở ra hướng tiếp cận bền vững kết hợp giữa quản trị công hiện đại, tri thức bản địa và cơ chế tài chính tín chỉ carbon.

Các cơ quan quản lý và nhà nghiên cứu quan tâm có thể áp dụng ngay khung giải pháp của đề tài để đẩy nhanh tiến độ số hóa dữ liệu lâm nghiệp và hoàn thiện chính sách giao đất giao rừng tại địa phương.