Tổng quan về luận án

Luận án "Nghiên cứu, đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hoà Bình" của Phạm Thanh Quế (2020) đóng góp một nghiên cứu tiên phong trong bối cảnh khoa học về lâm nghiệp xã hội và quản lý tài nguyên bền vững tại Việt Nam. Nghiên cứu này xuất phát từ tính cấp thiết khách quan của việc xã hội hóa ngành lâm nghiệp, vốn là xu thế toàn cầu và là yêu cầu thực tiễn đối với một quốc gia có vùng đồi núi chiếm 2/3 diện tích lãnh thổ như Việt Nam (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. 1). Với hơn 24 triệu đồng bào dân tộc thiểu số gắn bó mật thiết với đất đai, rừng núi, việc phát huy vai trò của các chủ thể quản lý, sử dụng đất, đặc biệt là cộng đồng dân cư địa phương, trở nên quan trọng hơn bao giờ hết (Nguyễn Hồng Quân & Phạm Xuân Phương, 2006).

Research Gap SPECIFIC với citations từ literature:

Mặc dù phương thức quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng (CBFLMU) đã hình thành và tồn tại lâu đời ở Việt Nam và nhiều nước trên thế giới (FAO, 2015; Gilmour, 2016), và nhiều nghiên cứu đã khẳng định việc giao đất, giao rừng cho cộng đồng là xu hướng tất yếu (Guiang & cs., 2001; Nguyễn Bá Ngãi & cs., 2009), các công trình hiện có còn tồn tại một khoảng trống đáng kể. Cụ thể, "các nghiên cứu còn mang tính định tính, chưa định lượng được các yếu tố ảnh hưởng, do vậy gây khó khăn cho công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng" (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. 1). Khoảng trống này cản trở việc xây dựng chính sách và giải pháp quản lý hiệu quả dựa trên bằng chứng khoa học cụ thể. Luận án này nhằm mục đích lấp đầy khoảng trống đó bằng cách định lượng hóa các yếu tố tác động và mức độ ảnh hưởng của chúng.

Research Questions và Hypotheses:

Luận án tập trung trả lời ba câu hỏi nghiên cứu chính:

  1. Thực trạng và kết quả của công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình là gì?
  2. Những yếu tố nào ảnh hưởng đến công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng tại tỉnh Hòa Bình và mức độ ảnh hưởng của chúng như thế nào?
  3. Những giải pháp nào có thể đề xuất để hoàn thiện công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hòa Bình?

Các giả thuyết nghiên cứu chính bao gồm: H1: Có nhiều yếu tố (pháp luật, tự nhiên-hạ tầng, kinh tế, xã hội) tác động đáng kể đến hiệu quả CBFLMU tại Hòa Bình. H2: Mức độ ảnh hưởng của các nhóm yếu tố này không đồng đều, với nhóm yếu tố pháp luật có tác động lớn nhất. H3: Việc hoàn thiện chính sách, cải thiện sinh kế, vận dụng kiến thức bản địa và nâng cao vai trò của chính quyền địa phương sẽ cải thiện đáng kể hiệu quả CBFLMU.

Theoretical Framework với tên theories cụ thể:

Luận án được xây dựng dựa trên sự tổng hòa của nhiều lý thuyết. Lý thuyết về Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng (Community-Based Natural Resource Management - CBNRM) là cốt lõi, nhấn mạnh vai trò của người dân địa phương trong việc bảo tồn và quản lý tài nguyên, với sự phân cấp quyền lực và xác định rõ quyền tài sản (Taylor, 1998; Kellert & cs., 2000). Nghiên cứu cũng vận dụng lý thuyết về Sự tham gia của cộng đồng (Arnstein, 1969; Dower, 2004), phân tích các cấp độ và hình thức tham gia khác nhau từ thông báo đến chủ trì. Ngoài ra, luận án còn dựa vào Lý thuyết về quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất để phân tích mối quan hệ biện chứng giữa quản lý (quan hệ sản xuất) và sử dụng đất rừng (lực lượng sản xuất), chỉ ra rằng "nếu coi quản lý đất đai như là phạm trù của quan hệ sản xuất và sử dụng đất đai như là phạm trù của lực lượng sản xuất, thì yếu tố sử dụng đất đai là yếu tố động luôn muốn vươn lên trong sự phát triển để tìm đến hiệu quả" (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. 8). Khung lý thuyết cũng lồng ghép các yếu tố của Lý thuyết thể chế khi xem xét tác động của các quy định pháp luật và chính sách đến hành vi và hiệu quả quản lý, sử dụng đất rừng. Các lý thuyết về sinh kế bền vững cũng được tích hợp, đặc biệt khi phân tích tác động kinh tế và xã hội của CBFLMU.

Đóng góp đột phá với quantified impact:

Luận án này mang lại những đóng góp đột phá, cụ thể hóa bằng dữ liệu định lượng:

  1. Định lượng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố: Nghiên cứu đã xác định và định lượng 29 yếu tố thuộc 4 nhóm ảnh hưởng đến CBFLMU, trong đó nhóm yếu tố quy định của pháp luật có ảnh hưởng lớn nhất (33,44%), tiếp theo là yếu tố tự nhiên và cơ sở hạ tầng (32,27%), xã hội (25,13%), và kinh tế (9,16%) (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xiii). Đây là một bước tiến quan trọng so với các nghiên cứu định tính trước đây, cung cấp cơ sở vững chắc cho việc ưu tiên chính sách.
  2. Đánh giá tác động đa chiều của CBFLMU: Chỉ ra rằng CBFLMU đóng góp 9,26% đến 16,59% vào tổng thu nhập hộ trung bình, nhưng đối với hộ nghèo và cận nghèo, con số này tăng lên đáng kể, từ 17,71% đến 21,80% (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xii). Đồng thời, đã ghi nhận sự giảm đáng kể số vụ vi phạm quy chế quản lý, sử dụng đất rừng cộng đồng, mặc dù giải quyết tranh chấp vẫn phức tạp và mới giảm khoảng 50% số vụ lấn chiếm (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xii).
  3. Hoàn thiện cơ sở lý luận và đề xuất giải pháp có thể nhân rộng: Luận án không chỉ hệ thống hóa cơ sở lý luận về CBFLMU mà còn đề xuất các giải pháp cụ thể, thực tiễn, có khả năng áp dụng không chỉ cho Hòa Bình mà còn cho các địa phương khác trên cả nước để giải quyết các tồn tại, hạn chế trong công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xiii).

Scope (sample size, timeframe) và significance:

Nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Hòa Bình, một tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam với điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội đặc thù. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 5 cộng đồng đại diện cho các dân tộc thiểu số chính (Tày, Mường, Dao) sống trên địa bàn tỉnh: bản Nhạc (Đà Bắc), thôn Đúc (Cao Phong), thôn Củ (Tú Sơn), thôn Thung 2 (Lạc Sơn), và xóm Suối Bến (Lương Sơn). Thời gian nghiên cứu không được nêu rõ cụ thể trong trích yếu nhưng dữ liệu được thu thập từ 219 hộ gia đình và 41 cán bộ tại 5 điểm nghiên cứu (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xii). Luận án có ý nghĩa khoa học sâu sắc trong việc bổ sung cơ sở lý luận và ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp các giải pháp cụ thể, định lượng để nâng cao hiệu quả CBFLMU, góp phần ổn định sinh kế, bảo vệ môi trường và bảo tồn văn hóa bản địa.

Literature Review và Positioning

Nghiên cứu về quản lý và sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng (CBFLMU) đã phát triển mạnh mẽ trên thế giới và ở Việt Nam, hình thành nên nhiều dòng nghiên cứu chính.

Synthesis của major streams với TÊN TÁC GIẢ và NĂM cụ thể:

Một dòng nghiên cứu tập trung vào Khái niệm và vai trò của CBFLMU, nhấn mạnh rằng đây là một phương thức hiệu quả để giải quyết các vấn đề sử dụng chung tài nguyên, khuyến khích sử dụng bền vững và hỗ trợ sinh kế cộng đồng (Rozemeijer & Van, 2000; Colchester, 1995; Gilmour, 2016). Các tác giả như Smith & cs. (2014) đã nêu bật vai trò của đất rừng trong việc cung cấp gỗ, lâm sản ngoài gỗ, lương thực, dược liệu và đặc biệt là phòng hộ đầu nguồn, chống xói mòn, điều hòa dòng chảy. Acemoglu & cs. (2015) và An (2012), Chiu (2012) cũng đồng quan điểm về chức năng phòng hộ của đất rừng. CIFOR (2014) và Matiku & cs. đã chỉ ra đất rừng là nguồn thu nhập chính của đồng bào miền núi, góp phần xóa đói giảm nghèo.

Dòng nghiên cứu thứ hai tập trung vào Cơ sở pháp lý và chính sách, đặc biệt là quá trình phân quyền và xã hội hóa lâm nghiệp. Nguyễn Bá Ngãi (2009) đã phân tích những khó khăn trong quản lý, sử dụng đất rừng của cộng đồng do chính sách còn nhiều điểm chưa rõ ràng. Các nghiên cứu như của William & Huỳnh Thu Ba (2005) và Nguyễn Hồng Quân & Phạm Xuân Phương (2006) đã ghi nhận sự chuyển hướng từ lâm nghiệp quốc doanh sang lâm nghiệp nhân dân, phát huy vai trò của cộng đồng.

Một dòng khác đi sâu vào Mức độ tham gia và hình thức tổ chức của cộng đồng. Arnstein (1969) với thang đo 8 cấp độ và Dower (2004) với thang đo 5 cấp độ đã cung cấp khung lý thuyết để đánh giá sự tham gia của người dân trong quản lý. Nguyễn Diệu Hằng & Lê Thanh Hà (2015) cùng Trần Thanh Nga (2015) đã nhấn mạnh vai trò quan trọng của sự tham gia cộng đồng qua nhiều hình thức như cung cấp thông tin, lãnh đạo, cung cấp nguồn lực, quản lý và kiểm tra, đánh giá.

Contradictions/debates với ít nhất 2 opposing views:

Trong lĩnh vực CBFLMU, tồn tại những tranh luận đáng kể. Một mặt, nhiều nghiên cứu như của Poffenberger (1990) và Rambo & Jamieson (2003) chỉ ra rằng luật pháp nhà nước thường không thừa nhận quyền sử dụng đất truyền thống của cộng đồng, coi "đất hoang" thuộc sở hữu nhà nước, dẫn đến việc các hộ gia đình nghèo mất quyền tiếp cận và sử dụng đất rừng. Sunderlin & cs. còn lập luận rằng việc hoạt động kém hiệu quả của các lâm trường quốc doanh đã gây ảnh hưởng xấu lên hàng triệu hecta đất rừng, mà lẽ ra diện tích này nên được giao cho các cộng đồng dân tộc thiểu số. Mặt khác, các quy định pháp luật từ Luật Đất đai 2003 và Luật Lâm nghiệp 2017 đã bắt đầu công nhận cộng đồng là một chủ thể sử dụng đất, trao quyền và nghĩa vụ cụ thể hơn (Quốc hội, 2003; 2017). Tuy nhiên, dù có khung pháp lý, việc thực thi vẫn gặp nhiều rào cản và quyền của cộng đồng còn hạn chế, ví dụ như không được chuyển nhượng, thế chấp quyền sử dụng đất (Phạm Thanh Quế & Phạm Phương Nam, 2014).

Positioning trong literature với specific gap identified:

Luận án này định vị mình như một nghiên cứu định lượng tiên phong trong bối cảnh Việt Nam, đặc biệt là tại Hòa Bình, nhằm giải quyết khoảng trống trong các nghiên cứu trước đây. Trong khi nhiều nghiên cứu tập trung vào khía cạnh định tính của CBFLMU, hoặc chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng mà không định lượng được mức độ tác động, luận án này sử dụng mô hình phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis) và thang đo Likert để định lượng chính xác các yếu tố đó. "Các nghiên cứu còn mang tính định tính, chưa định lượng được các yếu tố ảnh hưởng, do vậy gây khó khăn cho công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng" (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. 1). Đây là điểm khác biệt cốt lõi, cung cấp bằng chứng cụ thể và khách quan hơn cho việc hoạch định chính sách.

How this advances field với concrete contributions:

Nghiên cứu tiến bộ lĩnh vực bằng cách:

  1. Cung cấp định lượng: Lần đầu tiên, các yếu tố ảnh hưởng đến CBFLMU được định lượng với mức độ tác động cụ thể (ví dụ: yếu tố pháp luật 33,44%, tự nhiên/hạ tầng 32,27%), giúp các nhà quản lý và hoạch định chính sách ưu tiên nguồn lực và can thiệp hiệu quả hơn.
  2. Làm rõ mối quan hệ giữa chính sách và hiệu quả: Nghiên cứu khẳng định nhóm yếu tố pháp luật có ảnh hưởng lớn nhất, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hoàn thiện hành lang pháp lý để phát huy tiềm năng của CBFLMU.
  3. Đánh giá tác động sinh kế cụ thể: Cung cấp dữ liệu chi tiết về tỷ lệ đóng góp thu nhập từ rừng cộng đồng cho các nhóm hộ khác nhau (4,00% cho hộ khá/giàu, 17,71%-21,80% cho hộ nghèo/cận nghèo), làm nổi bật vai trò của CBFLMU trong xóa đói giảm nghèo.
  4. Tổng hợp kiến thức bản địa và chính sách: Đề xuất giải pháp tích hợp kiến thức bản địa và hoàn thiện chính sách, tạo cầu nối giữa các hệ thống quản lý truyền thống và hiện đại, một vấn đề còn ít được giải quyết trong các nghiên cứu trước.

So sánh với ÍT NHẤT 2 international studies:

  1. Philippines: Nghiên cứu của Guiang & cs. (2001) và Pulhin & Pulhin (2003) tại Philippines chỉ ra rằng việc dân chủ hóa tiếp cận và hưởng lợi từ quản lý rừng thông qua chuyển giao quyền và trách nhiệm cho cộng đồng là chìa khóa. Philippines đã tiên phong trong việc phát triển chính sách CBFLMU, giao cho cộng đồng diện tích đất rừng rộng lớn (5,3 triệu ha so với 1,4 triệu ha cho các đối tượng khác). Điểm tương đồng với luận án là cả hai đều nhấn mạnh tầm quan trọng của chính sách luật định rõ ràng. Tuy nhiên, luận án của Phạm Thanh Quế đi xa hơn bằng cách định lượng tác động của chính sách pháp luật như là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất (33,44%), cung cấp bằng chứng cụ thể cho luận điểm của Philippines về sự cần thiết của "quyền mềm" được luật hóa để khuyến khích đầu tư.
  2. Indonesia: Yanti & Martua (2001) tại Indonesia đã ghi nhận sự bùng nổ khai thác gỗ thương mại trước những năm 1970 và sau đó là những nỗ lực phân quyền quản lý rừng cho cộng đồng. Nghiên cứu của Yanti & Martua cũng nhấn mạnh đến sự cần thiết của sự tham gia của người dân trong việc bảo vệ rừng, tương đồng với luận án khi đề cập đến việc "nhận thức của người dân trong công tác quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng cũng thay đổi" và "những trường hợp vi phạm quy chế quản lý, sử dụng đất rừng cộng đồng đã giảm đáng kể" (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xii). Tuy nhiên, luận án của Phạm Thanh Quế cung cấp phân tích sâu hơn về các nhóm yếu tố ảnh hưởng cụ thể (pháp luật, kinh tế, xã hội, tự nhiên-hạ tầng) mà các nghiên cứu như của Yanti & Martua chưa đi sâu định lượng. Cả hai nghiên cứu đều gặp phải thách thức về thị trường tiêu thụ sản phẩm rừng, nhưng luận án này còn chỉ rõ việc thiếu cơ chế chi trả DVMTR hiệu quả là một nguyên nhân làm giảm thu nhập.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án này mang lại những đóng góp đáng kể cho các lý thuyết hiện có về quản lý tài nguyên và phát triển nông thôn.

  • Extend/challenge WHICH specific theories (name theorists):

    • Lý thuyết Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng (CBNRM) của Taylor (1998) và Kellert & cs. (2000): Luận án mở rộng lý thuyết này bằng cách cung cấp một mô hình định lượng chi tiết về các yếu tố tác động. Trong khi Taylor và Kellert & cs. nhấn mạnh sự cần thiết của việc phân cấp quyền lực và xác định rõ quyền tài sản, luận án của Phạm Thanh Quế định lượng được mức độ ảnh hưởng của các quy định pháp luật (33,44%) như là yếu tố lớn nhất, xác nhận rằng khung pháp lý là nền tảng cụ thể nhất định hình sự thành công của việc phân cấp. Nó bổ sung một khía cạnh đo lường định lượng vào các tiền đề chủ yếu mang tính định tính của CBNRM.
    • Lý thuyết về sự tham gia của cộng đồng của Arnstein (1969) và Dower (2004): Luận án làm sâu sắc thêm các mô hình cấp độ tham gia này bằng cách liên hệ chúng với kết quả thực tiễn và các yếu tố ảnh hưởng. Nghiên cứu cho thấy mặc dù cộng đồng được giao đất, giao rừng, nhưng "các quyền của cộng đồng đối với diện tích được giao vẫn còn bị hạn chế" (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. 2), điều này ám chỉ rằng mức độ tham gia thực sự có thể vẫn ở các cấp độ thấp hơn như "tham vấn" hoặc "cùng thực hiện" theo thang đo của Dower, chứ chưa đạt đến "đối tác" hay "chủ trì" hoàn toàn, đặc biệt trong các khía cạnh về quyền định đoạt đất rừng. Luận án gợi ý rằng sự hạn chế về quyền này cản trở việc phát huy tối đa tiềm năng của cộng đồng.
    • Lý luận về quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất (Karl Marx): Luận án mở rộng áp dụng lý luận này vào lĩnh vực quản lý đất đai. Nó minh họa rõ ràng hiện tượng "quan hệ sản xuất kìm hãm lực lượng sản xuất" khi các cơ chế, chính sách quản lý đất đai (quan hệ sản xuất) không phù hợp, không đáp ứng kịp thời sự phát triển của hoạt động sử dụng đất (lực lượng sản xuất), dẫn đến "người sử dụng đất chờ mãi sẽ mất thời cơ" hoặc "làm trái với quy định pháp luật" (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. 8). Điều này cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động tiêu cực khi có sự mất cân bằng giữa chính sách và thực tiễn sản xuất.
  • Conceptual framework với components và relationships: Khung lý thuyết của luận án tích hợp bốn nhóm yếu tố chính ảnh hưởng đến hiệu quả CBFLMU: Nhóm yếu tố pháp luật, nhóm yếu tố điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng, nhóm yếu tố kinh tế, và nhóm yếu tố xã hội. Các mối quan hệ được hình thành như sau: Các yếu tố pháp luật (ví dụ: Luật Đất đai, Luật Lâm nghiệp, quy định về giao đất, hưởng lợi) tạo ra hành lang và khuôn khổ cho CBFLMU, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của cộng đồng. Các yếu tố tự nhiên và cơ sở hạ tầng (ví dụ: vị trí, địa hình, chất lượng rừng, khoảng cách đến khu dân cư, hạ tầng giao thông) quyết định tiềm năng và khả năng tiếp cận tài nguyên, ảnh hưởng đến chi phí và hiệu quả quản lý. Các yếu tố kinh tế (ví dụ: thu nhập, khả năng tiếp cận tài chính, thị trường tiêu thụ lâm sản) tác động đến động lực và năng lực đầu tư của cộng đồng vào CBFLMU. Các yếu tố xã hội (ví dụ: tri thức bản địa, phong tục tập quán, vai trò của trưởng thôn, sự tham gia của các bên liên quan, nhận thức của người dân) hình thành nên thể chế không chính thức và quy tắc ứng xử trong cộng đồng, ảnh hưởng đến sự gắn kết và hiệu quả thực hiện. Tất cả các nhóm yếu tố này tương tác với nhau để định hình hiệu quả tổng thể của CBFLMU, được đo lường qua các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường.

  • Theoretical model với propositions/hypotheses numbered: Mô hình lý thuyết của luận án có thể được trình bày dưới dạng các mệnh đề và giả thuyết, được kiểm định thông qua phân tích định lượng: P1: Các quy định của pháp luật có tác động đáng kể nhất đến hiệu quả CBFLMU. P2: Điều kiện tự nhiên và cơ sở hạ tầng thuận lợi sẽ làm tăng hiệu quả CBFLMU. P3: Điều kiện kinh tế của cộng đồng và khả năng tiếp cận thị trường có mối quan hệ tích cực với hiệu quả CBFLMU. P4: Các yếu tố xã hội, bao gồm tri thức bản địa và sự tham gia của các bên liên quan, góp phần quan trọng vào hiệu quả CBFLMU.

    Hypotheses (như đã nêu trong "Tổng quan về luận án") được kiểm định định lượng, với trọng tâm là H2: "Mức độ ảnh hưởng của các nhóm yếu tố này không đồng đều, với nhóm yếu tố pháp luật có tác động lớn nhất."

  • Paradigm shift với EVIDENCE từ findings: Luận án không đề xuất một sự thay đổi mô hình (paradigm shift) hoàn toàn, nhưng nó củng cố và thúc đẩy sự chuyển dịch từ mô hình quản lý rừng tập trung, từ trên xuống (top-down) sang mô hình phi tập trung, dựa vào cộng đồng, có sự tham gia của người dân. Bằng chứng từ luận án cho thấy mô hình CBFLMU ở Hòa Bình đã tạo ra "nguồn thu nhập cho người dân, góp phần ổn định sinh kế" và "thay đổi cơ cấu sử dụng lao động tại địa phương", cùng với việc "nhận thức của người dân... cũng thay đổi" và "những trường hợp vi phạm... đã giảm đáng kể" (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xii). Những kết quả này cung cấp bằng chứng thực nghiệm mạnh mẽ cho tính ưu việt của cách tiếp cận dựa vào cộng đồng so với mô hình quản lý tập trung đã cho thấy sự kém hiệu quả trong nhiều thập kỷ (Phuc, 2002).

Khung phân tích độc đáo

  • Integration của theories (name 3+ specific theories): Khung phân tích của luận án tích hợp một cách độc đáo các yếu tố từ lý thuyết thể chế mới (New Institutionalism), lý thuyết quản trị tài nguyên chung (Common Pool Resources - CPR) của Elinor Ostrom (mặc dù không được gọi tên trực tiếp, nhưng việc phân tích quản lý tài nguyên chung của cộng đồng có sự tương đồng mạnh mẽ), và lý thuyết sinh kế bền vững (Sustainable Livelihoods Framework). Cụ thể, nó xem xét các quy định pháp luật (thể chế chính thức), các quy ước/hương ước (thể chế không chính thức từ tri thức bản địa và phong tục tập quán) như là các biến thể của thể chế có ảnh hưởng đến việc quản lý tài nguyên chung của cộng đồng. Đồng thời, nó đánh giá tác động của các yếu tố này lên các khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường và sự ổn định sinh kế của người dân, phù hợp với nguyên lý của lý thuyết sinh kế bền vững.

  • Novel analytical approach với justification: Điểm độc đáo nằm ở việc áp dụng một cách tích hợp và định lượng mô hình phân tích nhân tố khám phá (EFA) kết hợp với thang đo Likert 5 mức độ để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố phức tạp. Cách tiếp cận này giúp luận án không chỉ xác định được các yếu tố mà còn phân loại chúng thành các nhóm rõ ràng (pháp luật, tự nhiên/hạ tầng, kinh tế, xã hội) và định lượng trọng số ảnh hưởng của từng nhóm. Điều này là quan trọng vì trước đây, "các nghiên cứu còn mang tính định tính, chưa định lượng được các yếu tố ảnh hưởng" (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. 1). Việc sử dụng EFA cung cấp một bằng chứng thống kê vững chắc, vượt ra ngoài các phân tích mô tả hoặc định tính, cho phép các khuyến nghị chính sách có cơ sở khoa học mạnh mẽ hơn.

  • Conceptual contributions với definitions: Luận án đã hệ thống hóa và làm rõ các khái niệm quan trọng trong CBFLMU. Cụ thể, nó định nghĩa "Quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng" là "việc các cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng một địa bàn thôn, làng, bản... có cùng phong tục tập quán hoặc có chung dòng họ được Nhà nước giao đất hoặc cộng nhận quyền sử dụng đất rừng để quản lý, sử dụng vào mục đích chung của cộng đồng dân cư" (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. 16), dựa trên Luật Đất đai 2013. Luận án cũng phân loại các loại hình CBFLMU (tự công nhận theo truyền thống, được chính quyền giao ổn định lâu dài, và khoán bảo vệ) và các hình thức tổ chức (theo dòng tộc, theo thôn, theo nhóm hộ/sở thích), cung cấp một cái nhìn tổng quan toàn diện và rõ ràng về cấu trúc và hoạt động của CBFLMU ở Việt Nam.

  • Boundary conditions explicitly stated: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu ở tỉnh Hòa Bình, với 5 điểm nghiên cứu đại diện cho các cộng đồng dân tộc thiểu số chính (Tày, Mường, Dao). Đặc biệt, nghiên cứu chỉ tập trung vào "diện tích đất rừng được giao cho các cộng đồng quản lý, sử dụng (là đất rừng phòng hộ)" (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. 3). Điều này ngụ ý rằng các kết quả và giải pháp có thể không hoàn toàn áp dụng cho các loại đất rừng khác (rừng sản xuất, rừng đặc dụng) hoặc các khu vực có đặc điểm dân tộc, kinh tế, xã hội khác. Hơn nữa, việc nghiên cứu giới hạn trong bối cảnh pháp luật Việt Nam (ví dụ: Luật Đất đai 2013, Luật Lâm nghiệp 2017) cũng là một điều kiện biên quan trọng, có thể khác biệt so với các quốc gia có khung pháp lý khác.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Luận án áp dụng một phương pháp nghiên cứu tiên tiến và đa dạng, kết hợp các cách tiếp cận định lượng và định tính để cung cấp một cái nhìn toàn diện về CBFLMU.

Thiết kế nghiên cứu

  • Research philosophy (positivism/interpretivism/critical realism): Triết lý nghiên cứu của luận án chủ yếu dựa trên Post-positivism, với mục tiêu khách quan hóa việc đo lường các yếu tố xã hội và kinh tế thông qua các kỹ thuật thống kê. Điều này thể hiện rõ qua việc sử dụng thang đo Likert 5 mức độ và mô hình EFA để định lượng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xii). Tuy nhiên, luận án cũng tích hợp các yếu tố của Critical Realism bằng cách thừa nhận sự tồn tại của các cấu trúc xã hội (pháp luật, thể chế) và các yếu tố phi vật chất (tri thức bản địa, phong tục tập quán) ảnh hưởng đến thực tế quan sát được. Việc khảo sát ý kiến cán bộ và phỏng vấn hộ gia đình cũng cho phép thu thập các diễn giải chủ quan, mang yếu tố của Interpretivism, nhưng mục tiêu cuối cùng vẫn là tìm kiếm các mối quan hệ nhân quả và quy luật tổng quát.

  • Mixed methods với SPECIFIC combination rationale: Luận án sử dụng phương pháp hỗn hợp (mixed methods), kết hợp các kỹ thuật định lượng và định tính.

    • Định lượng: Điều tra 219 hộ gia đình và 41 cán bộ bằng bảng hỏi sử dụng thang đo Likert 5 mức độ, sau đó phân tích dữ liệu bằng mô hình EFA để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhóm yếu tố. Rationale cho việc này là để định lượng hóa các yếu tố tác động, cung cấp bằng chứng thống kê vững chắc và khách quan về mối quan hệ nhân quả. Điều này khắc phục hạn chế của các nghiên cứu trước đây vốn "còn mang tính định tính, chưa định lượng được các yếu tố ảnh hưởng" (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. 1).
    • Định tính: Phương pháp thống kê so sánh và phân tích SWOT (Strengths, Weaknesses, Opportunities, Threats) được sử dụng để đánh giá kết quả hoạt động CBFLMU, xác định các khó khăn, vướng mắc và đề xuất giải pháp. Rationale là để cung cấp cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về bối cảnh địa phương, các động lực và rào cản, cũng như các chiến lược tiềm năng, mà các phương pháp định lượng đơn thuần không thể nắm bắt được.
  • Multi-level design với levels clearly defined: Thiết kế nghiên cứu có thể được xem là đa cấp (multi-level) ở một mức độ nhất định:

    1. Cấp độ tỉnh: Đánh giá tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và thực trạng CBFLMU trên toàn tỉnh Hòa Bình.
    2. Cấp độ cộng đồng/thôn: Nghiên cứu sâu tại 5 điểm đại diện (bản Nhạc, thôn Đúc, thôn Củ, thôn Thung 2, xóm Suối Bến), bao gồm cả việc thu thập dữ liệu từ cán bộ địa phương và cộng đồng (hộ gia đình).
    3. Cấp độ hộ gia đình: Thu thập thông tin trực tiếp từ 219 hộ gia đình về thu nhập, nhận thức, hoạt động quản lý, sử dụng đất rừng. Thiết kế này cho phép tổng hợp các phát hiện từ cấp độ vi mô (hộ gia đình) và trung gian (cộng đồng) để đưa ra các kết luận và đề xuất ở cấp độ vĩ mô (tỉnh), đảm bảo tính đại diện và khả năng khái quát hóa.
  • Sample size và selection criteria EXACT:

    • Kích thước mẫu: "219 hộ" và "41 cán bộ" đã được điều tra phỏng vấn (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xii).
    • Tiêu chí lựa chọn mẫu:
      • Điểm nghiên cứu (5 cộng đồng): Được chọn đại diện cho các cộng đồng dân tộc thiểu số chính (Tày, Mường, Dao) sống trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, và đã được giao đất rừng (đất rừng phòng hộ) để quản lý, sử dụng. Các điểm này bao gồm bản Nhạc (xã Đồng Chum, huyện Đà Bắc - dân tộc Tày), thôn Đúc (xã Nam Phong, huyện Cao Phong - dân tộc Mường), thôn Củ (xã Tú Sơn, huyện Kim Bôi - dân tộc Mường), thôn Thung 2 (xã Quý Hoà, huyện Lạc Sơn - dân tộc Mường), và xóm Suối Bến (xã Tiến Sơn, huyện Lương Sơn - dân tộc Dao) (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. 3-4).
      • Hộ gia đình: 219 hộ được phỏng vấn trực tiếp để đánh giá tình hình CBFLMU và phân tích các yếu tố ảnh hưởng. Tiêu chí cụ thể cho việc lựa chọn hộ không được nêu rõ trong trích yếu nhưng thường dựa trên việc họ là thành viên của cộng đồng được giao đất rừng và tham gia vào hoạt động quản lý, sử dụng.
      • Cán bộ: 41 cán bộ được điều tra để tham khảo ý kiến đánh giá và tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng, làm căn cứ thiết kế bảng hỏi. Đây có thể là cán bộ cấp xã, huyện hoặc tỉnh liên quan đến quản lý đất đai và lâm nghiệp.

Quy trình nghiên cứu rigorous

  • Sampling strategy với inclusion/exclusion criteria: Chiến lược lấy mẫu là lấy mẫu có mục đích (purposive sampling) ở cấp độ điểm nghiên cứu, nhằm chọn các cộng đồng đại diện cho sự đa dạng dân tộc và điều kiện thực tiễn về CBFLMU tại Hòa Bình. Ở cấp độ hộ gia đình, có thể đã sử dụng lấy mẫu ngẫu nhiên (random sampling) hoặc lấy mẫu hệ thống (systematic sampling) trong các cộng đồng đã chọn, mặc dù chi tiết không được cung cấp.

    • Inclusion criteria: Cộng đồng dân cư là dân tộc thiểu số chính tại Hòa Bình, đã được giao đất rừng phòng hộ để quản lý, sử dụng.
    • Exclusion criteria: Không được nêu rõ, nhưng ngụ ý các cộng đồng không thuộc dân tộc thiểu số hoặc không được giao đất rừng phòng hộ sẽ không được chọn.
  • Data collection protocols với instruments described:

    • Thu thập số liệu thứ cấp: Tài liệu, số liệu từ các báo cáo của tỉnh Hòa Bình, các văn bản pháp luật (Luật Đất đai, Luật Lâm nghiệp, Nghị định), các công trình nghiên cứu trước đây.
    • Thu thập số liệu sơ cấp:
      • Bảng hỏi phỏng vấn hộ gia đình: Sử dụng thang đo Likert 5 mức độ để đánh giá các yếu tố tác động đến CBFLMU.
      • Bảng hỏi/phỏng vấn cán bộ: Thu thập ý kiến chuyên gia và thông tin chi tiết về các yếu tố ảnh hưởng, làm cơ sở cho thiết kế bảng hỏi hộ gia đình và phân tích chính sách.
      • Phương pháp thống kê so sánh và phân tích SWOT: Được sử dụng để tổng hợp và đánh giá dữ liệu, xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức.
  • Triangulation (data/method/investigator/theory): Luận án đã áp dụng tam giác hóa phương pháp (methodological triangulation) bằng cách kết hợp điều tra định lượng (bảng hỏi Likert, EFA) và định tính (phỏng vấn, SWOT). Tam giác hóa dữ liệu (data triangulation) được thực hiện thông qua việc thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau: hộ gia đình, cán bộ địa phương, và tài liệu thứ cấp. Mặc dù không nêu rõ, việc tham khảo nhiều tác giả và lý thuyết khác nhau trong phần tổng quan tài liệu cũng ngụ ý tam giác hóa lý thuyết (theoretical triangulation).

  • Validity (construct/internal/external) và reliability (α values):

    • Construct Validity: Sử dụng thang đo Likert và phân tích EFA để xây dựng các yếu tố ảnh hưởng từ các biến quan sát. Kết quả kiểm định chất lượng thang đo Cronbach’s Alpha và kiểm định KMO, Bartlett (Bảng ma trận nhân tố xoay, Mô hình điều chỉnh qua kiểm định Cronbach Alpha và EFA) được báo cáo trong phần "Kết quả và thảo luận" (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. viii), cho thấy sự chặt chẽ trong việc đo lường các khái niệm.
    • Internal Validity: Bằng cách kiểm soát các yếu tố nhiễu thông qua việc lựa chọn mẫu đại diện và áp dụng các phương pháp phân tích thống kê như EFA, luận án cố gắng thiết lập mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố ảnh hưởng và hiệu quả CBFLMU.
    • External Validity: Việc lựa chọn 5 cộng đồng đại diện cho các dân tộc thiểu số và loại hình đất rừng phòng hộ tại Hòa Bình cho phép mức độ khái quát hóa nhất định cho các khu vực có điều kiện tương tự. Các giải pháp đề xuất được kỳ vọng có thể "để các địa phương khác trên cả nước tham khảo, áp dụng" (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xiii).
    • Reliability: "Kết quả kiểm định chất lượng thang đo Cronbach’ Alpha" được đề cập trong mục lục (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. viii), chứng tỏ luận án đã thực hiện kiểm tra độ tin cậy của các thang đo. Mặc dù giá trị α cụ thể không được trích xuất trong trích yếu, việc thực hiện kiểm định này là một chỉ báo về sự nghiêm ngặt trong phương pháp.

Data và phân tích

  • Sample characteristics với demographics/statistics: Dữ liệu được thu thập từ 219 hộ gia đình và 41 cán bộ tại 5 điểm nghiên cứu ở Hòa Bình. Các đặc điểm mẫu không được chi tiết hóa trong trích yếu nhưng thông thường sẽ bao gồm:

    • Dân tộc: Mường, Kinh, Dao, Tày (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xii).
    • Thu nhập: Phân loại theo nhóm hộ (nghèo, cận nghèo, khá, giàu) với các tỷ lệ thu nhập từ đất rừng cộng đồng cụ thể (ví dụ: 17,71%-21,80% cho hộ nghèo/cận nghèo, 4,00% cho hộ khá/giàu) (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xii).
    • Diện tích đất rừng được giao: Cộng đồng được giao 48.576 ha đất rừng (chiếm 16,39% diện tích đất rừng toàn tỉnh), trong đó chỉ 42,44% được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xii).
    • Biến động sử dụng đất: Đề cập đến thực trạng sử dụng đất và biến động đất đai tại tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2014-2017 (Mục lục, tr. v).
  • Advanced techniques (SEM/multilevel/QCA etc.) với software: Kỹ thuật phân tích chính được sử dụng là Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis - EFA). Mặc dù phần mềm cụ thể không được nêu tên trong trích yếu, EFA thường được thực hiện bằng các phần mềm thống kê như SPSS, R, Stata, hoặc AMOS. EFA được áp dụng để "đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng" (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xii), giúp xác định các nhóm yếu tố tiềm ẩn từ một tập hợp lớn các biến quan sát.

  • Robustness checks với alternative specifications: Mặc dù không được mô tả chi tiết trong trích yếu, việc "kiểm định chất lượng thang đo Cronbach’ Alpha" và "kiểm định KMO và Bartlett" là các bước kiểm tra tính vững chắc của mô hình EFA. Việc này đảm bảo rằng các yếu tố được xác định là đáng tin cậy và có ý nghĩa thống kê. Các "Mô hình điều chỉnh qua kiểm định Cronbach Alpha và EFA" (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. ix) cũng gợi ý rằng đã có các bước lặp lại và tinh chỉnh mô hình để đạt được kết quả tối ưu và vững chắc.

  • Effect sizes và confidence intervals reported: Luận án báo cáo "mức độ ảnh hưởng của các nhóm yếu tố" với các tỷ lệ phần trăm cụ thể: Nhóm yếu tố pháp luật (33,44%), tự nhiên/hạ tầng (32,27%), xã hội (25,13%), và kinh tế (9,16%) (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xiii). Đây là các chỉ số về độ lớn của tác động (effect sizes). Mặc dù các giá trị p-values và confidence intervals cụ thể không được liệt kê trong trích yếu, việc sử dụng EFA và các kiểm định thống kê liên quan ngụ ý rằng các phân tích này đã được xem xét và các kết quả được coi là có ý nghĩa thống kê.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Luận án đã đưa ra 4-5 phát hiện đột phá với bằng chứng cụ thể từ dữ liệu:

  1. Định lượng hóa tác động của các nhóm yếu tố: Nghiên cứu đã xác định 4 nhóm yếu tố với 29 yếu tố ảnh hưởng đến CBFLMU, và định lượng được mức độ ảnh hưởng của từng nhóm. Nhóm pháp luật có ảnh hưởng lớn nhất (33,44%), tiếp theo là tự nhiên-hạ tầng (32,27%), xã hội (25,13%) và kinh tế (9,16%) (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xiii). Phát hiện này mang tính quyết định, là bằng chứng định lượng cho thấy vai trò trọng yếu của khung pháp lý trong quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng, vượt trội so với các yếu tố khác.
  2. Sự phân hóa về đóng góp thu nhập từ rừng: Mặc dù CBFLMU tạo thu nhập cho người dân (9,26% đến 16,59% tổng thu nhập hộ trung bình), nhưng vai trò này đặc biệt quan trọng đối với hộ nghèo và cận nghèo, chiếm tới 17,71% đến 21,80% tổng thu nhập của họ, trong khi chỉ là khoảng 4,00% cho hộ khá và giàu (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xii). Phát hiện này nhấn mạnh vai trò của rừng cộng đồng như một "lưới an sinh" quan trọng cho các nhóm dễ bị tổn thương, một kết quả có thể đối lập với suy nghĩ rằng lợi ích từ rừng chỉ là nhỏ.
  3. Cải thiện nhận thức và giảm vi phạm, nhưng thách thức về tranh chấp còn lớn: Nhận thức của người dân về CBFLMU đã thay đổi tích cực, dẫn đến "những trường hợp vi phạm quy chế quản lý, sử dụng đất rừng cộng đồng đã giảm đáng kể". Tuy nhiên, công tác giải quyết tranh chấp, lấn chiếm đất rừng cộng đồng vẫn "còn rất phức tạp", với số vụ lấn chiếm giảm khoảng 50% (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xii). Kết quả này cho thấy tiến bộ trong ý thức tuân thủ nhưng cũng chỉ ra điểm nghẽn trong cơ chế giải quyết xung đột, cần có các giải pháp mạnh mẽ hơn về pháp lý và thực thi.
  4. Hạn chế về quyền của cộng đồng và chất lượng rừng: Mặc dù được giao đất, giao rừng, "mới chỉ có 42,44% diện tích đất rừng của các cộng đồng được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất" và "các quyền của cộng đồng còn hạn chế" (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xii, xiii), đặc biệt là không có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thế chấp. Hơn nữa, "diện tích đất rừng giao cho cộng đồng chủ yếu là rừng nghèo" (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xiii). Những yếu tố này hạn chế khả năng cộng đồng đầu tư và tối ưu hóa lợi ích từ rừng, so với tiềm năng được kỳ vọng từ chính sách phân quyền.
  5. Thiếu cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) và tiếp cận thị trường: Nguyên nhân chính dẫn đến thu nhập từ rừng thấp là do "các nguồn lợi trực tiếp từ rừng ngày càng suy giảm, cơ chế quản lý, sử dụng đất chưa phù hợp, các nguồn lợi khác từ rừng như các dịch vụ chi trả môi trường rừng, du lịch, dịch vụ cacbon… chưa được triển khai thực hiện hoặc đã được thực hiện nhưng còn hạn chế, mức chi trả còn rất thấp, thiếu cơ chế quản lý, sử dụng" (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xii). Bên cạnh đó là "những hạn chế tiếp cận thị trường tiêu thụ sản phẩm từ rừng cộng đồng" (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xiii).

Implications đa chiều

  • Theoretical advances với contribution to 2+ theories:

    • Lý thuyết Quản lý tài nguyên chung (CPR) của Elinor Ostrom: Các phát hiện về sự cần thiết của quy ước/hương ước và sự tham gia của cộng đồng để giảm vi phạm cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho các nguyên tắc thiết kế của Ostrom về quản lý CPR. Tuy nhiên, các hạn chế về quyền pháp lý và khả năng tiếp cận thị trường thách thức tính bền vững của các hệ thống CPR khi không được hỗ trợ bởi các thể chế vĩ mô.
    • Lý thuyết Sinh kế bền vững: Luận án mở rộng lý thuyết này bằng cách định lượng vai trò của tài nguyên rừng trong cấu phần sinh kế của các hộ dân tộc thiểu số, đặc biệt là các nhóm nghèo. Nó chỉ ra rằng dù đóng góp tổng thể có thể nhỏ, nhưng đối với nhóm yếu thế, đây là thành phần thiết yếu, từ đó cần những chính sách hỗ trợ đa dạng hóa sinh kế và bảo vệ nguồn tài nguyên này.
  • Methodological innovations applicable to other contexts: Việc sử dụng thang đo Likert kết hợp EFA để định lượng các yếu tố ảnh hưởng đã chứng minh tính hiệu quả và độ tin cậy. Cách tiếp cận này có thể được nhân rộng và áp dụng trong các nghiên cứu tương tự về quản lý tài nguyên, phát triển nông thôn, hoặc đánh giá chính sách ở các địa phương khác tại Việt Nam và các nước đang phát triển, nơi các yếu tố định tính thường khó lượng hóa. Nó cung cấp một khung phân tích mạnh mẽ để chuyển đổi các quan sát định tính thành bằng chứng định lượng có giá trị.

  • Practical applications với specific recommendations: Các giải pháp được đề xuất trực tiếp từ các phát hiện:

    1. Nâng cao thu nhập từ CBFLMU: Cải thiện cơ chế chi trả DVMTR, phát triển du lịch sinh thái, dịch vụ carbon.
    2. Tăng cường các hoạt động cải thiện sinh kế: Đa dạng hóa nguồn thu từ rừng (lâm sản ngoài gỗ), hỗ trợ tiếp cận thị trường cho sản phẩm rừng.
    3. Hoàn thiện chính sách pháp luật: Cụ thể hóa các quy định cho cộng đồng, mở rộng quyền của cộng đồng đối với đất rừng (ví dụ quyền thế chấp, góp vốn), đẩy nhanh cấp GCNQSD đất.
    4. Vận dụng kiến thức bản địa: Tích hợp quy ước/hương ước và kinh nghiệm truyền thống vào quản lý rừng.
    5. Nâng cao vai trò chính quyền địa phương và các tổ chức cộng đồng: Tăng cường sự hỗ trợ, phối hợp và giám sát.
  • Policy recommendations với implementation pathway: Chính phủ và chính quyền địa phương cần ưu tiên:

    1. Rà soát và sửa đổi Luật Đất đai/Luật Lâm nghiệp: Cụ thể hóa các quyền của cộng đồng đối với đất rừng, cho phép các quyền chuyển nhượng/thế chấp có điều kiện để tăng động lực đầu tư.
    2. Đẩy nhanh cấp GCNQSD đất: Đảm bảo tất cả 48.576 ha đất rừng đã giao cho cộng đồng được cấp giấy chứng nhận, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho cộng đồng.
    3. Xây dựng cơ chế chi trả DVMTR hiệu quả và minh bạch hơn: Tăng mức chi trả, mở rộng phạm vi dịch vụ, đảm bảo cộng đồng nhận được lợi ích công bằng.
    4. Đầu tư hạ tầng và hỗ trợ tiếp cận thị trường: Xây dựng đường sá, hệ thống thông tin, đào tạo kỹ năng kinh doanh để cộng đồng có thể tiêu thụ sản phẩm rừng hiệu quả hơn.
  • Generalizability conditions clearly specified: Các kết quả và giải pháp được đề xuất có thể khái quát hóa cho các vùng miền núi khác của Việt Nam có chung đặc điểm:

    • Có sự hiện diện của các cộng đồng dân tộc thiểu số với kinh nghiệm truyền thống quản lý rừng.
    • Đất rừng chủ yếu là rừng phòng hộ hoặc rừng tự nhiên nghèo kiệt.
    • Hộ gia đình còn phụ thuộc nhiều vào rừng để đảm bảo sinh kế, với tỷ lệ hộ nghèo/cận nghèo cao.
    • Khung pháp lý về đất đai và lâm nghiệp tương tự như Việt Nam. Tuy nhiên, cần có sự điều chỉnh phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và văn hóa bản địa cụ thể của từng địa phương.

Limitations và Future Research

3-4 specific limitations acknowledged

  1. Phạm vi không gian giới hạn: Nghiên cứu chỉ tập trung vào tỉnh Hòa Bình và 5 cộng đồng đại diện. Mặc dù các cộng đồng này được chọn để đại diện cho sự đa dạng dân tộc, nhưng các phát hiện có thể không hoàn toàn khái quát hóa cho tất cả các vùng miền núi khác của Việt Nam với các điều kiện địa lý, văn hóa hoặc kinh tế khác biệt đáng kể.
  2. Giới hạn về loại đất rừng: Luận án chủ yếu nghiên cứu "diện tích đất rừng được giao cho các cộng đồng quản lý, sử dụng (là đất rừng phòng hộ)" (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. 3). Do đó, các kết luận và giải pháp có thể không hoàn toàn áp dụng cho đất rừng sản xuất hoặc đất rừng đặc dụng, nơi có các mục tiêu và quy định quản lý khác nhau.
  3. Thiếu phân tích sâu về các mô hình đồng quản lý/quản lý liên ngành: Mặc dù có đề cập đến vai trò của Nhà nước và các tổ chức, luận án chưa đi sâu phân tích cơ chế đồng quản lý chi tiết hoặc các thách thức trong phối hợp liên ngành giữa các cơ quan lâm nghiệp, tài nguyên môi trường và chính quyền địa phương, vốn là yếu tố quan trọng trong CBFLMU.
  4. Giới hạn về thời gian dữ liệu: Thời gian nghiên cứu không được nêu rõ cụ thể trong trích yếu, nhưng các số liệu biến động đất đai được đề cập giai đoạn 2014-2017. Các chính sách và điều kiện kinh tế-xã hội có thể đã thay đổi đáng kể sau thời điểm này, ảnh hưởng đến tính актуальность của một số phát hiện.

Boundary conditions về context/sample/time

  • Context: Các phát hiện được rút ra trong bối cảnh đặc thù của vùng núi phía Bắc Việt Nam, với dân tộc thiểu số chủ yếu là Mường, Kinh, Dao, Tày, và hệ thống pháp luật cụ thể của Việt Nam về đất đai và lâm nghiệp (ví dụ: Luật Đất đai 2013, Luật Lâm nghiệp 2017).
  • Sample: Kết quả dựa trên khảo sát 219 hộ gia đình và 41 cán bộ tại 5 cộng đồng, do đó, mặc dù có tính đại diện cho Hòa Bình, việc suy rộng ra các cộng đồng khác ngoài mẫu cần thận trọng.
  • Time: Các dữ liệu và phân tích phản ánh thực trạng tại thời điểm nghiên cứu (năm 2020 và các dữ liệu từ 2014-2017). Các diễn biến chính sách, kinh tế thị trường, hoặc biến đổi khí hậu sau thời gian này có thể làm thay đổi bối cảnh và yêu cầu các nghiên cứu cập nhật.

Future research agenda với 4-5 concrete directions

  1. Nghiên cứu định lượng sâu hơn về tác động của các quyền sở hữu đối với đầu tư: Phân tích định lượng mối quan hệ giữa việc cấp GCNQSD đất đầy đủ, các quyền sử dụng và định đoạt đất rừng của cộng đồng với mức độ đầu tư vào quản lý và phát triển rừng của họ, sử dụng mô hình kinh tế lượng tiên tiến (ví dụ: mô hình hồi quy panel).
  2. Đánh giá hiệu quả của các mô hình đồng quản lý (Co-management): Nghiên cứu so sánh hiệu quả của các mô hình đồng quản lý khác nhau giữa Nhà nước và cộng đồng, cũng như các hình thức hợp tác với khu vực tư nhân, để xác định các yếu tố thành công và rào cản trong việc chia sẻ trách nhiệm và quyền lợi.
  3. Phát triển và định lượng chỉ số sinh kế bền vững từ rừng: Xây dựng một chỉ số tổng hợp để đánh giá tác động toàn diện của CBFLMU đến sinh kế bền vững của cộng đồng, bao gồm các khía cạnh vốn tự nhiên, vốn xã hội, vốn tài chính, vốn vật chất và vốn con người.
  4. Nghiên cứu về vai trò và cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng (PFES) hiệu quả hơn: Phân tích các mô hình PFES hiện có ở Việt Nam và quốc tế, đề xuất các cơ chế chi trả công bằng, minh bạch và có động lực hơn cho cộng đồng, đồng thời định lượng tác động kinh tế và môi trường của chúng.
  5. Phân tích tác động của biến đổi khí hậu đến CBFLMU: Nghiên cứu cách các cộng đồng quản lý rừng thích ứng với biến đổi khí hậu và vai trò của CBFLMU trong việc giảm thiểu rủi ro, đồng thời khám phá tiềm năng của rừng cộng đồng trong các cơ chế REDD+ và thị trường carbon.

Methodological improvements suggested

  • Longitudinal study: Thực hiện nghiên cứu theo thời gian để theo dõi sự thay đổi trong các yếu tố ảnh hưởng và hiệu quả CBFLMU.
  • Case study so sánh: Mở rộng nghiên cứu ra các tỉnh hoặc khu vực khác với điều kiện tương tự để tăng tính khái quát hóa, hoặc so sánh với các mô hình CBFLMU quốc tế thành công/thất bại.
  • Sử dụng Structural Equation Modeling (SEM): Áp dụng SEM để kiểm định các mối quan hệ phức tạp và trực tiếp giữa các nhóm yếu tố và hiệu quả CBFLMU, cung cấp một mô hình giải thích toàn diện hơn EFA.

Theoretical extensions proposed

  • Mở rộng lý thuyết CPR bằng cách tích hợp sâu hơn các yếu tố thể chế không chính thức (luật tục, hương ước) và cách chúng tương tác với thể chế chính thức để định hình quản lý tài nguyên.
  • Phát triển lý thuyết về sự công bằng trong phân chia lợi ích từ rừng, đặc biệt là từ các dịch vụ môi trường rừng, trong bối cảnh các cộng đồng dân tộc thiểu số và các nhóm xã hội khác.

Tác động và ảnh hưởng

Luận án của Phạm Thanh Quế có tiềm năng tạo ra tác động sâu rộng trên nhiều bình diện, từ học thuật đến thực tiễn.

  • Academic impact với potential citations estimate: Nghiên cứu này, với phương pháp định lượng cụ thể và các phát hiện rõ ràng về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố, có tiềm năng lớn được trích dẫn trong các công trình học thuật tiếp theo về quản lý đất đai, lâm nghiệp xã hội, phát triển nông thôn, và chính sách tài nguyên ở Việt Nam và khu vực Đông Nam Á. Ước tính có thể đạt từ 50-100 trích dẫn trong 5-10 năm tới, đặc biệt từ các nhà nghiên cứu quan tâm đến việc định lượng các yếu tố phi vật chất trong quản lý tài nguyên. Nó cung cấp một mô hình tham khảo về cách kết hợp các phương pháp định lượng và định tính để giải quyết các khoảng trống nghiên cứu.

  • Industry transformation với specific sectors:

    • Ngành lâm nghiệp: Các giải pháp đề xuất về nâng cao thu nhập từ rừng (lâm sản ngoài gỗ, DVMTR, du lịch sinh thái) có thể thúc đẩy sự chuyển đổi từ lâm nghiệp khai thác gỗ đơn thuần sang lâm nghiệp đa giá trị, bền vững và dựa vào cộng đồng. Điều này khuyến khích các doanh nghiệp lâm nghiệp tìm kiếm cơ hội hợp tác với cộng đồng theo hướng chia sẻ lợi ích công bằng hơn.
    • Du lịch sinh thái và nông nghiệp bền vững: Các khuyến nghị về phát triển dịch vụ môi trường rừng và du lịch sinh thái có thể mở ra hướng phát triển mới cho các doanh nghiệp du lịch và cộng đồng địa phương, tạo ra chuỗi giá trị mới gắn liền với bảo tồn rừng và văn hóa bản địa.
    • Tín dụng nông nghiệp: Việc cấp GCNQSD đất đầy đủ và mở rộng quyền của cộng đồng có thể tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng nông nghiệp mạnh dạn hơn trong việc cho vay vốn đầu tư vào đất rừng, thúc đẩy sản xuất và chế biến lâm sản.
  • Policy influence với government levels:

    • Cấp Trung ương (Bộ NN&PTNT, Bộ TN&MT, Quốc hội): Các phát hiện về mức độ ảnh hưởng lớn nhất của yếu tố pháp luật (33,44%) cung cấp bằng chứng mạnh mẽ để rà soát, sửa đổi Luật Đất đai 2013 và Luật Lâm nghiệp 2017, đặc biệt là các điều khoản liên quan đến quyền của cộng đồng, thủ tục cấp GCNQSD đất và cơ chế hưởng lợi từ rừng (ví dụ: các điều 131, 181 Luật Đất đai 2013, điều 73, 74 Luật Lâm nghiệp 2017).
    • Cấp tỉnh/huyện (UBND tỉnh Hòa Bình): Các giải pháp cụ thể cho tỉnh Hòa Bình có thể được tích hợp vào các quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, chính sách phát triển lâm nghiệp và các chương trình hỗ trợ sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số. Ví dụ, tăng cường đầu tư vào hạ tầng, hỗ trợ tiếp cận thị trường và cải thiện cơ chế chi trả DVMTR.
    • Cấp xã/thôn: Các đề xuất về vận dụng kiến thức bản địa và nâng cao vai trò của chính quyền địa phương có thể giúp củng cố hoạt động của các tổ chức cộng đồng, tăng cường năng lực quản lý và thực thi quy ước/hương ước.
  • Societal benefits quantified where possible:

    • Cải thiện sinh kế: Tăng thu nhập cho các hộ nghèo và cận nghèo từ 17,71% đến 21,80% tổng thu nhập (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xii), góp phần xóa đói giảm nghèo bền vững.
    • Bảo vệ môi trường: Giảm "số vụ vi phạm trong quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng" (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. 102), góp phần bảo tồn đa dạng sinh học, chống xói mòn đất, giữ nguồn nước và giảm thiểu biến đổi khí hậu.
    • Nâng cao năng lực cộng đồng: Tăng cường nhận thức và vai trò tự chủ của cộng đồng trong quản lý tài nguyên, phát huy tri thức bản địa và củng cố đoàn kết xã hội.
  • International relevance với global implications: Các phát hiện của luận án có sự liên quan quốc tế đáng kể. Kinh nghiệm của Việt Nam trong CBFLMU, đặc biệt là các thách thức và giải pháp định lượng được xác định, có thể là bài học quý giá cho các quốc gia đang phát triển khác ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh, những nơi cũng đang đối mặt với các vấn đề tương tự về xung đột lợi ích, quyền đất đai của cộng đồng, quản lý rừng nghèo và sinh kế phụ thuộc rừng. Việc định lượng hóa các yếu tố ảnh hưởng là một đóng góp quan trọng để các nhà tài trợ quốc tế và các tổ chức phi chính phủ xây dựng các chương trình hỗ trợ hiệu quả hơn cho lâm nghiệp cộng đồng toàn cầu. Ví dụ, các bài học về chính sách đất đai ở Philippines và Indonesia (Guiang & cs., 2001; Pulhin, 2003; Yanti & Martua, 2001) có thể được làm giàu bằng cách hiểu sâu hơn về tầm quan trọng định lượng của các yếu tố pháp luật trong bối cảnh Việt Nam.

Đối tượng hưởng lợi

Nghiên cứu này mang lại lợi ích cụ thể và định lượng cho nhiều đối tượng khác nhau:

  • Doctoral researchers (Nghiên cứu sinh tiến sĩ): Luận án cung cấp một mô hình nghiên cứu định lượng mạnh mẽ để giải quyết các khoảng trống trong lĩnh vực quản lý tài nguyên và phát triển nông thôn. Cụ thể, nó chỉ ra các research gaps liên quan đến việc định lượng tác động của chính sách pháp luật và các yếu tố kinh tế, xã hội đối với hiệu quả CBFLMU, mở ra các hướng nghiên cứu mới sử dụng các kỹ thuật thống kê tiên tiến (ví dụ: EFA, SEM).

  • Senior academics (Các nhà khoa học cấp cao): Luận án bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận về quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xiii), đặc biệt là trong bối cảnh các nước đang phát triển. Các đóng góp lý thuyết mở rộng lý thuyết CBNRM và lý luận về quan hệ sản xuất/lực lượng sản xuất, cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho các học giả nghiên cứu về thể chế và quản trị tài nguyên.

  • Industry R&D (Bộ phận R&D của ngành công nghiệp): Các doanh nghiệp trong ngành lâm nghiệp, du lịch sinh thái và các ngành liên quan có thể sử dụng các khuyến nghị của luận án để phát triển các mô hình kinh doanh bền vững, có trách nhiệm xã hội, tạo ra lợi ích kép cho cả doanh nghiệp và cộng đồng. Ví dụ, thông tin về tiềm năng lâm sản ngoài gỗ và DVMTR có thể định hướng các khoản đầu tư R&D mới.

  • Policy makers (Các nhà hoạch định chính sách): Với các bằng chứng định lượng cụ thể về mức độ ảnh hưởng của từng nhóm yếu tố (pháp luật: 33,44%; tự nhiên-hạ tầng: 32,27%; xã hội: 25,13%; kinh tế: 9,16%) (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xiii), các nhà hoạch định chính sách ở cấp trung ương và địa phương có thể đưa ra các quyết định dựa trên bằng chứng, ưu tiên các chính sách có tác động lớn nhất. Ví dụ, cần tập trung hơn vào việc hoàn thiện khung pháp lý và đẩy nhanh cấp GCNQSD đất.

  • Quantify benefits where possible:

    • Cộng đồng địa phương: Hưởng lợi trực tiếp từ việc tăng thu nhập (từ 17,71% đến 21,80% tổng thu nhập cho hộ nghèo/cận nghèo) và cải thiện sinh kế, giảm số vụ vi phạm và tăng cường quyền tự chủ trong quản lý tài nguyên.
    • Các tổ chức phi chính phủ (NGOs) và nhà tài trợ: Có cơ sở khoa học vững chắc để thiết kế và triển khai các dự án hỗ trợ phát triển CBFLMU, với khả năng đo lường tác động rõ ràng hơn.

Câu hỏi chuyên sâu

  1. Theoretical contribution độc đáo nhất (name theory extended): Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là việc định lượng hóa các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng, từ đó mở rộng và làm phong phú Lý thuyết Quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng (CBNRM). Trong khi các nghiên cứu CBNRM trước đây thường tập trung vào việc xác định các nguyên tắc thiết kế và yếu tố thành công mang tính định tính (như của Taylor, Kellert & cs.), luận án này đã cung cấp một bằng chứng thực nghiệm định lượng cụ thể rằng nhóm yếu tố pháp luật có ảnh hưởng lớn nhất (33,44%) đến CBFLMU (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xiii). Điều này không chỉ xác nhận tầm quan trọng của thể chế pháp lý trong việc định hình hành vi và kết quả của cộng đồng mà còn cung cấp một thước đo cụ thể về trọng số của nó, cho phép các nhà hoạch định chính sách ưu tiên các can thiệp pháp lý một cách hiệu quả hơn. Nó chuyển CBNRM từ một khung khái niệm sang một mô hình có khả năng định lượng, dự đoán.

  2. Methodology innovation (compare với 2+ prior studies): Sự đổi mới về phương pháp luận nằm ở việc áp dụng tích hợp và định lượng mô hình phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis - EFA) kết hợp với thang đo Likert 5 mức độ để xác định và định lượng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố phức tạp đến CBFLMU.

    • So với Nguyễn Bá Ngãi (2009): Nghiên cứu của Nguyễn Bá Ngãi đã chỉ ra rằng các vấn đề liên quan đến chính sách, pháp luật và cơ chế hưởng lợi còn chưa rõ ràng, mang tính định tính. Luận án của Phạm Thanh Quế đã tiến một bước xa hơn bằng cách sử dụng EFA để định lượng chính xác các nhóm yếu tố này và mức độ ảnh hưởng của chúng (ví dụ: pháp luật 33,44%), khắc phục hạn chế định tính.
    • So với Guiang & cs. (2001) và Pulhin & Pulhin (2003) về Philippines: Các nghiên cứu này đã nhấn mạnh sự cần thiết của chính sách luật định ổn định và rõ ràng để khuyến khích đầu tư vào quản lý rừng. Tuy nhiên, chúng không cung cấp một phân tích định lượng chi tiết về mức độ tác động của "quyền mềm" (soft rights) hay các quy định pháp luật. Luận án này, thông qua EFA, cung cấp bằng chứng thống kê cho luận điểm đó, làm rõ trọng số của yếu tố pháp luật so với các yếu tố khác. Điều này giúp các nghiên cứu trong tương lai có thể xây dựng các mô hình dự báo và đánh giá chính sách dựa trên dữ liệu định lượng.
  3. Most surprising finding (với data support): Phát hiện đáng ngạc nhiên nhất là mặc dù tổng đóng góp thu nhập từ diện tích đất rừng trung bình của các hộ gia đình chỉ ở mức 9,26% đến 16,59% tổng thu nhập, nhưng đối với các hộ nghèo và cận nghèo, con số này lại là một nguồn thu đáng kể, chiếm khoảng từ 17,71% đến 21,80% tổng thu nhập của hộ (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xii). Điều này có thể gây ngạc nhiên vì nhiều người có thể cho rằng với sự suy giảm của rừng và khó khăn trong quản lý, lợi ích kinh tế trực tiếp từ rừng đã trở nên không đáng kể. Tuy nhiên, dữ liệu này chỉ ra rằng, đối với các nhóm dễ bị tổn thương nhất, rừng cộng đồng vẫn đóng vai trò cực kỳ quan trọng như một "phao cứu sinh" kinh tế, đặc biệt khi các nguồn thu khác hạn chế. Điều này hàm ý rằng chính sách hỗ trợ CBFLMU cần được tiếp cận theo hướng công bằng xã hội, ưu tiên các nhóm hộ nghèo để đảm bảo an ninh sinh kế.

  4. Replication protocol provided? Mặc dù luận án không cung cấp một "giao thức nhân rộng" (replication protocol) chi tiết theo nghĩa đen của một tài liệu hướng dẫn từng bước, nhưng nó trình bày một phương pháp luận đủ rõ ràng để các nhà nghiên cứu khác có thể tái tạo hoặc áp dụng cách tiếp cận tương tự trong các bối cảnh khác. Các bước như phương pháp điều tra, thu thập số liệu sơ cấp và thứ cấp, lựa chọn mẫu (219 hộ, 41 cán bộ tại 5 điểm nghiên cứu), sử dụng thang đo Likert 5 mức độ, và phân tích bằng mô hình EFA (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xii) đều được mô tả. Việc đề cập đến các kiểm định độ tin cậy và giá trị (Cronbach’s Alpha, KMO, Bartlett) cũng cho phép người đọc đánh giá tính chặt chẽ của quy trình và tái tạo các bước tương tự.

  5. 10-year research agenda outlined? Luận án không trực tiếp phác thảo một "chương trình nghiên cứu 10 năm", nhưng các "Limitations và Future Research" đã đưa ra 4-5 hướng nghiên cứu cụ thể, đủ sâu và rộng để hình thành nền tảng cho một chương trình nghiên cứu dài hạn. Các hướng này bao gồm: nghiên cứu định lượng sâu hơn về tác động của các quyền sở hữu đối với đầu tư; đánh giá hiệu quả của các mô hình đồng quản lý; phát triển và định lượng chỉ số sinh kế bền vững từ rừng; nghiên cứu về cơ chế chi trả dịch vụ môi trường rừng hiệu quả hơn; và phân tích tác động của biến đổi khí hậu đến CBFLMU. Các hướng này có thể được phát triển thành nhiều dự án nghiên cứu nhỏ hơn trong vòng một thập kỷ tới, liên tục bổ sung và mở rộng kiến thức về CBFLMU.

Kết luận

Luận án "Nghiên cứu, đề xuất giải pháp quản lý, sử dụng đất rừng dựa vào cộng đồng trên địa bàn tỉnh Hoà Bình" của Phạm Thanh Quế là một công trình nghiên cứu sâu sắc và có giá trị cao, mang lại nhiều đóng góp cụ thể và đột phá.

  1. Định lượng hóa các yếu tố ảnh hưởng: Luận án đã thành công trong việc định lượng 29 yếu tố thuộc 4 nhóm (pháp luật, tự nhiên-hạ tầng, xã hội, kinh tế) tác động đến CBFLMU, với bằng chứng rõ ràng về mức độ ảnh hưởng của từng nhóm (pháp luật: 33,44%; tự nhiên-hạ tầng: 32,27%; xã hội: 25,13%; kinh tế: 9,16%) (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xiii). Đây là đóng góp cốt lõi, lấp đầy khoảng trống trong các nghiên cứu trước đây.
  2. Đánh giá tác động đa chiều và phân hóa: Nghiên cứu đã chỉ ra tác động kinh tế, xã hội, môi trường của CBFLMU, đặc biệt là vai trò quan trọng của rừng cộng đồng đối với sinh kế của các hộ nghèo và cận nghèo (chiếm 17,71%-21,80% tổng thu nhập) (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xii), cùng với sự cải thiện nhận thức và giảm vi phạm.
  3. Hoàn thiện cơ sở lý luận và khung phân tích: Luận án đã hệ thống hóa và bổ sung cơ sở lý luận về CBFLMU, đồng thời phát triển khung phân tích độc đáo tích hợp lý thuyết CBNRM, thể chế và sinh kế bền vững, với cách tiếp cận định lượng thông qua EFA.
  4. Đề xuất giải pháp cụ thể và khả thi: Dựa trên các phát hiện, luận án đã đề xuất một loạt các giải pháp toàn diện để hoàn thiện CBFLMU, bao gồm nâng cao thu nhập, tăng cường sinh kế, hoàn thiện chính sách pháp luật, vận dụng kiến thức bản địa và nâng cao vai trò của chính quyền địa phương (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xiii).
  5. Gợi mở nhiều hướng nghiên cứu mới: Các hạn chế được thừa nhận và các hướng nghiên cứu tương lai được đề xuất đã mở ra nhiều dòng nghiên cứu mới, hứa hẹn tiếp tục làm sâu sắc thêm hiểu biết về lĩnh vực này.
  6. Tác động thực tiễn và khả năng nhân rộng: Các kết quả và khuyến nghị của luận án có ý nghĩa thực tiễn to lớn cho tỉnh Hòa Bình, và "có thể để các địa phương khác trên cả nước tham khảo, áp dụng" (Phạm Thanh Quế, 2020, tr. xiii), góp phần vào sự phát triển lâm nghiệp bền vững và cải thiện đời sống của cộng đồng dân cư miền núi.

Nghiên cứu này không chỉ củng cố mà còn thúc đẩy sự tiến bộ mô hình (paradigm advancement) trong quản lý tài nguyên, dịch chuyển mạnh mẽ hơn từ cách tiếp cận tập trung sang cách tiếp cận phi tập trung, dựa vào cộng đồng và dựa trên bằng chứng định lượng. Các phát hiện về tầm quan trọng của pháp luật, các tác động sinh kế phân hóa, và các thách thức về quyền sở hữu cung cấp bằng chứng rõ ràng cho sự cần thiết của một mô hình quản trị tài nguyên toàn diện và có sự tham gia.

Ba dòng nghiên cứu mới đã được mở ra một cách rõ ràng: (1) Nghiên cứu sâu hơn về tác động kinh tế-xã hội của quyền sở hữu và an ninh đất đai trong CBFLMU, (2) Phát triển các mô hình chi trả dịch vụ môi trường rừng công bằng và hiệu quả tích hợp vào sinh kế cộng đồng, và (3) Khám phá vai trò của tri thức bản địa và thể chế không chính thức trong việc bổ trợ các khung pháp lý hiện đại.

Với ý nghĩa quốc tế sâu rộng, luận án của Phạm Thanh Quế cung cấp một đóng góp có thể đo lường được vào kho tàng kiến thức toàn cầu về quản lý tài nguyên dựa vào cộng đồng, thể hiện qua tiềm năng tham khảo và áp dụng cho các quốc gia đang phát triển khác.