Luận án: Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tỉnh Thái Bình theo hướng xuất khẩu và phát triển bền vững
Tài liệu: Luận án tiến sĩ kinh tế chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu bền vững của tỉnh thái bình. Tải miễn phí tại TaiLieu.V
Số trang
208
Thời gian đọc
32 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp: Tầm quan trọng phát triển
- Số trang:
- 208 trang
- Chuyên ngành:
- Kinh tế
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp Tầm quan trọng phát triển
Luận án tập trung vào vai trò trọng yếu của nông nghiệp. Ngành này là nền tảng cho sự phát triển kinh tế Việt Nam. Giai đoạn 2010-2020, nông nghiệp tăng trưởng bình quân 2,85%. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất đạt 3,64%. Nông nghiệp đóng góp 18,68% GDP quốc gia. Sản xuất nông nghiệp đã có bước phát triển vượt bậc. An ninh lương thực được đảm bảo vững chắc. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là một quá trình tất yếu. Nó nhằm thay đổi tỷ lệ các ngành sản xuất, dịch vụ trong kinh tế nông nghiệp. Mục tiêu là tạo ra một cơ cấu mới ổn định, cân đối. Cơ cấu này phải phù hợp với các quy luật tự nhiên, kinh tế và xã hội. Đây là yếu tố then chốt cho phát triển bền vững quốc gia.
1.1. Nông nghiệp Việt Nam Vai trò đóng góp kinh tế
Nông nghiệp giữ vị trí quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Ngành này là một trong ba bộ phận cấu thành kinh tế quốc dân. Giai đoạn 2010-2020, nông nghiệp tăng trưởng bình quân 2,85%. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất đạt 3,64%. Nông nghiệp đóng góp 18,68% GDP quốc gia. Sản xuất nông nghiệp phát triển vượt bậc, đảm bảo an ninh lương thực.
1.2. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Định nghĩa mục tiêu
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là thay đổi tỷ lệ các ngành sản xuất, dịch vụ. Sự thay đổi này diễn ra trong kinh tế nông nghiệp và các mối quan hệ cấu thành. Mục tiêu là tạo cơ cấu kinh tế nông nghiệp mới, ổn định, cân đối. Cơ cấu mới phải phù hợp quy luật tự nhiên, kinh tế, xã hội. Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đặc biệt đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Đây là yếu tố then chốt cho phát triển bền vững.
II. Định hướng chính sách tái cơ cấu nông nghiệp Việt Nam
Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách nhằm tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Đại hội XII của Đảng đã chỉ rõ định hướng cụ thể. Đó là cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng. Mục tiêu là xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn. Ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng sản phẩm. Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm và đẩy mạnh xuất khẩu. Đồng thời, cần có chính sách phù hợp để tích tụ, tập trung ruộng đất. Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành nhiều đề án quan trọng. Điển hình là “Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững”. “Kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2017-2020” cũng được triển khai đồng bộ. Các chính sách này đã đạt được những kết quả tích cực. Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản không ngừng tăng. Nhiều mặt hàng đã có vị thế cao trên thị trường quốc tế. Điều này góp phần quan trọng vào việc giảm nhập siêu của cả nước. Nông nghiệp cũng tạo việc làm và thu nhập cho hàng triệu nông dân. Các chính sách kinh tế này đóng vai trò quyết định trong việc định hình lại ngành.
2.1. Chỉ đạo của Đảng Nhà nước về tái cơ cấu
Đại hội XII của Đảng đã chỉ rõ định hướng. Cần cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng. Xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn. Ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng sản phẩm. Đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm. Đẩy mạnh xuất khẩu. Có chính sách phù hợp để tích tụ, tập trung ruộng đất. Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành nhiều đề án. Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” là một ví dụ. “Kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2017-2020” cũng được triển khai.
2.2. Mục tiêu tái cơ cấu Nâng cao giá trị xuất khẩu
Các chính sách nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Định hướng chính là tập trung vào ngành có lợi thế cạnh tranh. Nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm nông nghiệp. Mục tiêu cuối cùng là phục vụ xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản tăng liên tục. Nhiều mặt hàng đạt vị thế cao trên thị trường quốc tế. Việc này góp phần giảm nhập siêu. Ngành nông nghiệp tạo việc làm, thu nhập cho hàng triệu nông dân. Các chính sách kinh tế này hỗ trợ đắc lực.
2.3. Kết quả tích cực tái cơ cấu nông nghiệp quốc gia
Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã đạt nhiều thành tựu. Nông nghiệp đang hướng tới sản xuất hàng hóa lớn. Ứng dụng khoa học kỹ thuật ngày càng phổ biến. Các sản phẩm nông nghiệp Việt Nam được nâng cao chất lượng. Thị trường xuất khẩu được mở rộng. Giá trị gia tăng trong nông sản tăng trưởng. Việc tái cơ cấu kinh tế giúp nâng cao năng lực cạnh tranh. Định hướng phát triển bền vững được củng cố.
III. Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Thái Bình
Thái Bình là tỉnh có tiềm năng lớn cho phát triển nông nghiệp. Với diện tích đất tự nhiên 158.630 ha, đất đai bằng phẳng, màu mỡ, tỉnh nổi tiếng là “bờ xôi ruộng mật”. Nông nghiệp Thái Bình đã đạt nhiều thành tựu, từng được biết đến là “quê hương năm tấn”. Tuy nhiên, nỗ lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế sang công nghiệp và dịch vụ chưa đạt được thành công như mong đợi. Số lượng khu, cụm công nghiệp còn ít và quy mô nhỏ. Chính sách công nghiệp của tỉnh chưa đủ sức thu hút các doanh nghiệp, tập đoàn lớn. Lĩnh vực dịch vụ cũng không đạt kết quả cao. Do đó, nông nghiệp đã, đang và sẽ là ngành kinh tế mũi nhọn của Thái Bình. Tỉnh đã chú trọng triển khai các chính sách nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu và phát triển bền vững. Năm 2015, UBND tỉnh phê duyệt “Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thái Bình đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”. Nhờ đó, ngành nông nghiệp tỉnh đã gặt hái được những thành tựu đáng khích lệ. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn 2010 - 2020 đạt 4,05%/năm, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
3.1. Tiềm năng lợi thế nông nghiệp tỉnh Thái Bình
Thái Bình sở hữu điều kiện tự nhiên thuận lợi cho nông nghiệp. Diện tích đất tự nhiên 158.630 ha. Đất đai bằng phẳng, màu mỡ. Tỉnh nổi tiếng với danh xưng "bờ xôi ruộng mật". Sau kháng chiến, nông nghiệp tỉnh đạt nhiều thành tựu. Thái Bình từng được biết đến là "quê hương năm tấn". Những lợi thế này tạo nền tảng vững chắc. Tiềm năng phát triển nông nghiệp xuất khẩu là rất lớn.
3.2. Hạn chế công nghiệp dịch vụ Nông nghiệp trọng tâm
Thái Bình đã cố gắng chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tỉnh hướng tới phát triển công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên, kết quả chưa đạt mong đợi. Số lượng khu, cụm công nghiệp còn hạn chế. Quy mô các cụm công nghiệp nhỏ. Chính sách công nghiệp của tỉnh chưa đủ sức thu hút đầu tư. Lĩnh vực dịch vụ cũng chưa phát triển mạnh. Nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Thái Bình. Phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là yêu cầu cấp thiết. Tỉnh cần tương xứng với lợi thế sẵn có.
3.3. Chính sách địa phương thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu
Chính sách là công cụ quản lý nhà nước. Tỉnh Thái Bình đã triển khai nhiều chính sách. Mục tiêu là thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Định hướng là phát triển xuất khẩu. Đồng thời, đảm bảo mục tiêu phát triển bền vững. Năm 2015, UBND tỉnh phê duyệt "Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thái Bình đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030". Nhờ đó, nông nghiệp tỉnh đạt thành tựu đáng khích lệ. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất đạt 4,05%/năm (giai đoạn 2010-2020). Thành tựu này góp phần tích cực vào phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.
IV. Hạn chế chính sách thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững
Mặc dù đã có những thành tựu, chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại Thái Bình vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế. Hiệu quả thực hiện chính sách chưa cao. Chính sách chưa thực sự thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp như mục tiêu đề ra. Tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp diễn ra chậm, không tương xứng với tiềm năng. Các chính sách hỗ trợ nông nghiệp chưa sát với nhu cầu thực tế của người dân và doanh nghiệp. Điều này dẫn đến hiệu quả thực hiện chưa cao. Đặc biệt, các chính sách tác động vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm đạt được mục tiêu môi trường và kinh tế xanh chưa được chú trọng đúng mức. Mô hình tăng trưởng của nông nghiệp Thái Bình vẫn còn thiên về chiều rộng, dựa vào lao động giá rẻ và điều kiện tự nhiên. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất tuy cao nhưng không ổn định. Quy mô sản xuất còn nhỏ, chưa tối ưu hóa diện tích đất sản xuất. Nông nghiệp tỉnh Thái Bình chưa phát triển xứng với tiềm năng và chưa đáp ứng đầy đủ các mục tiêu phát triển bền vững.
4.1. Hiệu quả chính sách chuyển dịch cơ cấu chậm
Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp tại Thái Bình vẫn còn hạn chế. Hiệu quả thực hiện chưa cao. Chính sách chưa thúc đẩy chuyển dịch như mục tiêu đề ra. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp chuyển dịch chậm. Tốc độ này chậm hơn so với chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của Tỉnh. Điều này cho thấy sự cần thiết của đổi mới mô hình tăng trưởng.
4.2. Chính sách hỗ trợ chưa sát thực tế hiệu quả thấp
Đối tượng thụ hưởng chính sách đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn được xác định đúng. Tuy nhiên, chính sách chưa đủ để tạo đột phá. Chính sách hỗ trợ nông nghiệp của tỉnh chưa sát với nhu cầu thực tế. Hiệu quả thực hiện chính sách chưa cao. Các chính sách tác động vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm đạt được mục tiêu môi trường còn thiếu. Mục tiêu kinh tế xanh chưa được chú trọng đúng mức. Điều này ảnh hưởng đến phát triển bền vững.
4.3. Mô hình tăng trưởng chưa bền vững tại địa phương
Nông nghiệp tỉnh Thái Bình phát triển chưa xứng với tiềm năng. Tỉnh chưa đáp ứng các mục tiêu phát triển bền vững. Mô hình tăng trưởng còn thiên về chiều rộng. Ưu thế chủ yếu là lao động giá rẻ. Điều kiện tự nhiên thuận lợi được khai thác tối đa. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất cao nhưng không ổn định. Quy mô sản xuất còn nhỏ. Diện tích đất sản xuất chưa được tối ưu. Cần có các giải pháp đồng bộ. Tái cơ cấu kinh tế cần được đẩy mạnh hơn nữa.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (208 trang)Nội dung chính
Tổng quan về luận án
Luận án này tiên phong khám phá "Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu bền vững của tỉnh Thái Bình," một chuyên ngành then chốt trong quản lý kinh tế. Nghiên cứu ra đời trong bối cảnh nền nông nghiệp Việt Nam, bao gồm cả Thái Bình, đang trải qua quá trình tái cơ cấu mạnh mẽ để nâng cao giá trị gia tăng (GTGT), ứng dụng công nghệ cao và hội nhập quốc tế sâu rộng. Đây là một nỗ lực khoa học nhằm cung cấp cái nhìn toàn diện về việc hình thành và thực thi chính sách ở cấp địa phương, đặc biệt là khi cân bằng giữa mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường trong bối cảnh toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu.
Research gap cốt lõi mà luận án giải quyết là khoảng trống trong nghiên cứu trực diện về chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu đồng thời bảo đảm các mục tiêu của phát triển bền vững (PTBV) tại cấp địa phương cấp tỉnh. Như tác giả luận án chỉ ra, "chưa có công trình trong hoặc ngoài nước nghiên cứu trực diện về chính sách chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng XK đồng thời bảo đảm các mục tiêu của PTBV đặc biệt là của một địa phương cấp tỉnh." Các công trình trước đây thường tập trung vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói chung (Chenery, 1988; Rostow, 1990), chính sách xuất khẩu nông sản (Nguyễn Thị Đường, 2012; Mai Yayongyia, 2015) hoặc phát triển bền vững trong nông nghiệp (Lê Bá Tâm, 2016; Ngô Thái Hà, 2015) một cách riêng lẻ. Tuy nhiên, việc tổng hợp và phân tích sự tương tác đa chiều của chính sách nhà nước nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu mà vẫn bảo đảm tính bền vững trên cả ba khía cạnh (kinh tế, xã hội, môi trường) ở một địa phương cụ thể như Thái Bình vẫn còn bỏ ngỏ. Luận án đặt mục tiêu lấp đầy khoảng trống này bằng cách xây dựng một khung lý luận tích hợp và cung cấp bằng chứng thực nghiệm từ một tỉnh có lợi thế nông nghiệp điển hình.
Các câu hỏi nghiên cứu của luận án bao gồm:
- Bản chất, nội hàm và các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu đồng thời bảo đảm các mục tiêu PTBV của một địa phương cấp tỉnh?
- Thực trạng và tác động chính sách của địa phương đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu bền vững và những vấn đề đặt ra đối với chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu bền vững của tỉnh Thái Bình hiện nay?
- Những tiềm năng, quan điểm, mục tiêu và định hướng nào cho phát triển nông nghiệp tỉnh Thái Bình trong giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030?
- Trên cơ sở những luận cứ về mặt lý luận và thực tiễn, những giải pháp nào cần triển khai nhằm hoàn thiện chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu bền vững của tỉnh Thái Bình trong giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030?
- Những điều kiện cần thiết (những kiến nghị) nào cần đặt ra để thực hiện các giải pháp trên có hiệu quả?
Khung lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên sự tổng hợp và phát triển các lý thuyết nền tảng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế (Chenery, 1988; Rostow, 1990), chính sách công (Walter D Broadnax, 1976; Peter Boothroyd, 2003; Phạm Văn Khôi, 2007) và phát triển bền vững (Ủy ban Môi trường và phát triển Thế giới – WCED, 1987; Susan Baker và cộng sự, 1997). Cụ thể, luận án mở rộng các lý thuyết này để áp dụng vào bối cảnh chính sách cấp tỉnh, tích hợp ba trụ cột của PTBV (kinh tế, xã hội, môi trường) vào phân tích chính sách nông nghiệp hướng xuất khẩu, từ đó đề xuất một khái niệm và mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu bền vững độc đáo.
Đóng góp đột phá của luận án là việc xây dựng một khung lý luận và phân tích thực nghiệm chi tiết cho chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu bền vững ở cấp tỉnh. Nghiên cứu đã chứng minh rằng các chính sách đồng bộ có thể thúc đẩy "tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân ngành nông nghiệp giai đoạn 2016-2020 đạt 3.08% cao hơn mức đề án đề ra (2,5%)" và tạo ra "167.000 việc làm phi nông nghiệp" (mục tiêu 150.000 việc làm) ở Thái Bình, một thành công đáng kể về mặt kinh tế và xã hội. Luận án cũng đưa ra các khuyến nghị chính sách cụ thể, từ việc sửa đổi Luật Đất đai đến xây dựng chính sách riêng cho nông nghiệp hữu cơ, có khả năng tạo ra tác động lượng hóa được đến kim ngạch xuất khẩu và thu nhập của người nông dân.
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào tỉnh Thái Bình, với dữ liệu thứ cấp từ năm 2010 đến 2020 và đề xuất giải pháp đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Nghiên cứu thu thập dữ liệu sơ cấp từ 425 phiếu khảo sát hộ nông dân và 35 phiếu khảo sát doanh nghiệp/HTX, cùng với phỏng vấn sâu 8 chuyên gia, nhằm cung cấp cái nhìn đa chiều về thực trạng và hiệu quả chính sách. Ý nghĩa của luận án không chỉ giới hạn trong phạm vi Thái Bình mà còn là bài học kinh nghiệm quý báu cho các địa phương có điều kiện tương đồng như Hà Nam, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên trong nỗ lực phát triển nông nghiệp hướng xuất khẩu bền vững.
Literature Review và Positioning
Luận án tổng hợp một cách có hệ thống các công trình nghiên cứu nổi bật về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chính sách xuất khẩu, và phát triển bền vững từ cả trong và ngoài nước, từ đó định vị rõ ràng khoảng trống nghiên cứu và đóng góp của mình.
Các dòng nghiên cứu chính về chuyển dịch cơ cấu kinh tế được Chenery (1988) với lý thuyết "Structural transformation" và Rostow (1990) với "The stages of economic growth" đề cập, nhấn mạnh sự thay đổi tỷ trọng các ngành kinh tế là tất yếu. Trong nước, Lê Quốc Doanh (2006) và Đào Thế Anh và cộng sự (2008) đã nghiên cứu luận cứ khoa học và cơ sở lý luận của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chỉ ra các nội dung và yếu tố tác động. Nguyễn Văn Chử (2016) tập trung vào nội dung quản lý nhà nước đối với chuyển dịch này, đề xuất mô hình liên kết cộng sinh "Nhà nước, nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà ngân hàng". Các nghiên cứu khu vực như Zhang Hongzhou (2012) về "China's Economic Restructuring: Role of Agriculture" cũng nhấn mạnh vai trò của trang trại quy mô lớn và lợi thế so sánh.
Về chính sách xuất khẩu nông sản, các công trình của Nguyễn Thị Phương Lan (2019) làm rõ khái niệm và phân cấp chính sách cấp tỉnh, chỉ ra 5 nhóm chính sách tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn. Mai Yayongyia (2015) khẳng định vai trò của chính sách nhà nước trong hỗ trợ xuất khẩu hàng hóa. Lê Tố Hoa (2003) nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Thái Lan theo hướng xuất khẩu và rút ra bài học cho Việt Nam. Nghiên cứu của Ngô Thị Mỹ (2016) xác định 16 nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu nông sản chủ lực của Việt Nam. Qian Zhang và cộng sự (2016) sử dụng mô hình cân bằng tổng thể tính toán đa vùng (TERM) để phân tích tác động của năng suất lao động và vốn đến sản xuất nông nghiệp và thương mại tại Trung Quốc.
Đối với phát triển bền vững, WCED (1987) định nghĩa PTBV là phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Susan Baker và cộng sự (1997) xây dựng mô hình PTBV với sự hòa nhập của ba hệ thống tương tác: kinh tế, xã hội và môi trường. Các nghiên cứu trong nước như Lê Bá Tâm (2016) và Ngô Thái Hà (2015) đã hệ thống hóa lý luận và phân tích thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng PTBV ở Nghệ An và Việt Nam. Hadi Moumenihelali và cộng sự (2015) và Mohammad Reza Bosshaq và cộng sự (2013) đưa ra các chỉ số đánh giá nông nghiệp bền vững. Kanaga Raja (2016) tổng hợp nghiên cứu của Liên hợp quốc về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn là động lực cho các nước kém phát triển.
Mâu thuẫn và tranh luận: Trong khi FAO (2006) chỉ ra các xu hướng chuyển dịch kinh tế từ tăng trưởng nhanh ở châu Á nhưng hạn chế đề cập đến tác động môi trường, luận án này lại đặt trọng tâm vào việc giải quyết hài hòa ba mục tiêu kinh tế - xã hội - môi trường. Các nghiên cứu trước đây thường tiếp cận các yếu tố này một cách phân mảnh, hoặc tập trung vào cấp độ quốc gia/vùng lớn. Ví dụ, Lê Bá Tâm (2016) tập trung xem xét chuyển dịch cơ cấu thành phần kinh tế và cơ cấu kinh tế vùng ở Nghệ An, không đi sâu vào khía cạnh cơ cấu kinh tế ngành gắn với xuất khẩu bền vững như nghiên cứu này.
Định vị trong Literature: Luận án này lấp đầy khoảng trống bằng cách tích hợp sâu sắc ba lĩnh vực: chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, hướng xuất khẩu, và phát triển bền vững, đồng thời tập trung vào chính sách ở cấp địa phương cấp tỉnh. Thay vì chỉ phân tích một khía cạnh, nghiên cứu xây dựng một khung lý luận chung và phân tích thực tiễn về chính sách nhà nước tác động đến sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố này, điều mà các công trình trước đây chưa làm một cách trực diện. Điều này giúp nâng cao hiểu biết về cơ chế chính sách hiệu quả để đạt được các mục tiêu đa chiều trong nông nghiệp.
Tiến bộ lĩnh vực nghiên cứu: Bằng cách này, luận án tiến bộ lĩnh vực chính sách nông nghiệp bằng cách cung cấp một mô hình toàn diện để đánh giá và thiết kế chính sách, đặc biệt cho các nền kinh tế đang phát triển có lợi thế nông nghiệp. Nó không chỉ cung cấp các giải pháp cho Thái Bình mà còn xây dựng một khuôn mẫu phân tích có thể áp dụng cho các tỉnh tương tự, nơi nông nghiệp đóng vai trò xương sống nhưng đang đối mặt với yêu cầu kép về tăng trưởng xuất khẩu và PTBV.
So sánh với các nghiên cứu quốc tế:
- Chachoengsao, Thái Lan: Luận án đã so sánh với kinh nghiệm của tỉnh Chachoengsao, Thái Lan, nơi đã thành công trong việc "trợ giá nông sản" và "chính sách công nghiệp hóa nông thôn, ứng dụng khoa học công nghệ", đặc biệt là phát triển "nông nghiệp hữu cơ". Thái Lan đã thiết lập mô hình ISAC (Integrated Sustainable Agriculture Certification) cho nông nghiệp hữu cơ. Bài học cho Thái Bình là cần khuyến khích đầu tư cho khoa học kỹ thuật, tăng tỷ trọng nông nghiệp hữu cơ để đáp ứng nhu cầu thị trường xuất khẩu.
- Holon, Israel: Kinh nghiệm từ thành phố Holon, Israel, một địa phương có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt nhưng lại phát triển nền "nông nghiệp công nghệ cao" hàng đầu thế giới, với sự đầu tư mạnh mẽ vào hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) và "phối hợp chặt chẽ giữa năm nhà: nhà nước - nhà khoa học - nhà doanh nghiệp - nhà tư vấn - nhà nông". Điều này khác biệt với Việt Nam khi có thêm "nhà tư vấn" trong chuỗi liên kết. Bài học rút ra cho Thái Bình là cần tập trung nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp để không phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Luận án thực hiện đóng góp đáng kể vào lý thuyết và xây dựng một khung phân tích độc đáo, đặc biệt trong lĩnh vực quản lý kinh tế nông nghiệp bền vững.
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án mở rộng và thách thức một số lý thuyết kinh tế và chính sách hiện có:
- Mở rộng lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế (Structural Transformation Theory) của Chenery (1988) và Rostow (1990): Trong khi các lý thuyết này mô tả các giai đoạn và quy luật chung của chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, luận án đã mở rộng bằng cách tích hợp yếu tố xuất khẩu bền vững và cấp độ địa phương cấp tỉnh. Nó không chỉ quan tâm đến sự thay đổi tỷ trọng ngành mà còn đi sâu vào cách các chính sách cụ thể ở cấp tỉnh có thể định hình quá trình chuyển dịch này để đạt được các mục tiêu kinh tế (GTGT, kim ngạch XK), xã hội (việc làm, thu nhập) và môi trường (nông nghiệp hữu cơ, giảm ô nhiễm) một cách hài hòa. Điều này cung cấp một lăng kính chi tiết hơn về chuyển dịch cơ cấu trong bối cảnh cụ thể của một nền kinh tế đang phát triển, tập trung vào lợi thế so sánh nông nghiệp.
- Thách thức và mở rộng lý thuyết chính sách công (Public Policy Theory): Các lý thuyết chính sách công truyền thống thường tập trung vào hiệu quả và hiệu lực của chính sách. Luận án đã thách thức quan điểm này bằng cách nhấn mạnh sự cần thiết của việc đánh giá chính sách không chỉ qua kết quả kinh tế mà còn thông qua các tiêu chí PTBV đa chiều. Nó cụ thể hóa khái niệm "chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu bền vững của một địa phương cấp tỉnh" thành một thực thể lý thuyết, với các nguyên tắc, nội dung và tiêu chí đánh giá tích hợp ba trụ cột PTBV (WCED, 1987; Susan Baker et al., 1997).
Khung khái niệm (Conceptual Framework): Luận án xây dựng một khung khái niệm tập trung vào ba nhóm chính sách chính, tương ứng với ba mục tiêu của PTBV, tác động đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu:
- Nhóm chính sách thúc đẩy chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng XK bền vững về mặt kinh tế: Gồm các chính sách quy hoạch, đất đai, khuyến khích đầu tư, phát triển cơ sở hạ tầng, thuế, tín dụng, bảo hiểm nông nghiệp. Các chính sách này nhằm gia tăng GTGT, kim ngạch XK, nâng cao năng lực cạnh tranh.
- Nhóm chính sách thúc đẩy chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng XK bền vững về mặt xã hội: Gồm chính sách việc làm, hỗ trợ nông dân, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn. Các chính sách này nhằm tăng thu nhập, tạo việc làm, xóa đói giảm nghèo và cải thiện chất lượng nguồn nhân lực.
- Nhóm chính sách thúc đẩy chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng XK bền vững về mặt môi trường: Gồm chính sách bảo vệ môi trường, khoa học công nghệ, khuyến khích phát triển nông nghiệp hữu cơ. Các chính sách này nhằm giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ tài nguyên, cân bằng hệ sinh thái và phát triển nông nghiệp xanh. Mối quan hệ giữa các thành phần này được coi là tương tác và bổ trợ lẫn nhau, tạo thành một hệ thống đồng bộ để đạt được mục tiêu tổng thể.
Mô hình lý thuyết (Theoretical Model): Luận án mô hình hóa quá trình chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng XK bền vững qua các giai đoạn phát triển: từ sản xuất tự cấp/độc canh, sang đa dạng/đa canh, rồi chuyên môn hóa, và cuối cùng là sản xuất hàng hóa hướng xuất khẩu bền vững. Mỗi giai đoạn tương ứng với một cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhất định, với các yếu tố như tỷ trọng ngành, công nghệ, quy mô sản xuất và định hướng thị trường thay đổi.
- Giả thuyết (propositions): Mặc dù không liệt kê cụ thể dưới dạng "hypotheses numbered" trong phần mở đầu được cung cấp, các câu hỏi nghiên cứu của luận án ngụ ý các giả thuyết về mối quan hệ giữa các chính sách và kết quả chuyển dịch. Ví dụ, việc hoàn thiện chính sách đất đai (Giải pháp 2) sẽ có tác động tích cực đến việc hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung và quy mô lớn, từ đó thúc đẩy xuất khẩu (Mục tiêu 1). Chính sách khuyến khích nông nghiệp hữu cơ (Giải pháp 3) sẽ góp phần bảo vệ môi trường và đáp ứng nhu cầu thị trường cao cấp (Mục tiêu 3).
Chuyển đổi hệ hình (Paradigm Shift): Luận án góp phần vào một sự chuyển đổi hệ hình nhỏ trong nghiên cứu chính sách nông nghiệp từ việc tập trung chủ yếu vào tăng trưởng kinh tế (positivist-leaning) sang một cách tiếp cận toàn diện hơn, tích hợp các yếu tố xã hội và môi trường (post-positivist/pragmatic). Bằng chứng từ các phát hiện của luận án, chẳng hạn như dù "tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân ngành nông nghiệp giai đoạn 2016-2020 đạt 3.08% cao hơn mức đề án đề ra (2,5%)", nhưng "tỷ trọng của ngành thủy sản và lâm nghiệp chưa đạt được mục tiêu đề ra" và "tỷ lệ tích tụ ruộng đất còn thấp so với mục tiêu", cho thấy rằng việc chỉ theo đuổi mục tiêu kinh tế đơn thuần có thể không mang lại sự phát triển bền vững hoặc tối ưu hóa hiệu quả chính sách. Điều này ủng hộ quan điểm rằng một chính sách hiệu quả cần phải hài hòa và được đo lường bằng một bộ tiêu chí đa chiều.
Khung phân tích độc đáo
Luận án tích hợp một cách độc đáo các lý thuyết khác nhau để tạo ra một khung phân tích mạnh mẽ:
- Tích hợp lý thuyết: Luận án tích hợp các lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế (Chenery, Rostow) với lý thuyết chính sách công (Walter D Broadnax, Peter Boothroyd) và khái niệm PTBV (WCED, Susan Baker). Sự tích hợp này cho phép phân tích chính sách không chỉ từ góc độ hiệu quả kinh tế mà còn từ góc độ quản lý chu trình chính sách (xác định vấn đề, hoạch định, thực thi, đánh giá) và tác động đa chiều của nó đến xã hội và môi trường.
- Phương pháp phân tích mới lạ: Luận án áp dụng một phương pháp tiếp cận mới lạ bằng cách sử dụng phương pháp hỗn hợp (mixed methods) để đánh giá chính sách. Khác với các nghiên cứu trước đây thường chỉ sử dụng định tính hoặc định lượng, luận án kết hợp dữ liệu định tính từ phỏng vấn sâu chuyên gia (8 chuyên gia) để hiểu bản chất và nguyên nhân sâu xa của các hạn chế chính sách, và dữ liệu định lượng từ khảo sát hộ nông dân (425 phiếu hợp lệ) và doanh nghiệp/HTX (35 phiếu hợp lệ) để đo lường mức độ phù hợp, khả thi, đồng bộ và hiệu quả của chính sách. Cách tiếp cận này mang lại sự sâu sắc và độ tin cậy cao hơn trong việc đánh giá và đề xuất chính sách.
- Đóng góp khái niệm: Luận án định nghĩa một cách rõ ràng "chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu bền vững của một địa phương cấp tỉnh" và các tiêu chí đánh giá đi kèm, giúp thống nhất cách tiếp cận và đo lường trong tương lai. Các khái niệm này được cụ thể hóa thành ba nhóm chính sách chính (kinh tế, xã hội, môi trường) và các công cụ thực hiện tương ứng.
- Điều kiện biên rõ ràng: Luận án xác định rõ các điều kiện biên của nghiên cứu, bao gồm phạm vi không gian (tỉnh Thái Bình), thời gian (giai đoạn 2010-2020 và định hướng đến 2030), và nội dung nghiên cứu (tập trung vào chuyển dịch cơ cấu ngành với 3 phân ngành: nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản). Điều này giúp làm rõ giới hạn áp dụng của các kết quả và khuyến nghị, đồng thời tạo cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo mở rộng phạm vi.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Luận án áp dụng một phương pháp nghiên cứu tiên tiến và nghiêm ngặt, kết hợp cả định tính và định lượng để đạt được sự sâu sắc và toàn diện trong phân tích chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
Thiết kế nghiên cứu
- Triết lý nghiên cứu (Research Philosophy): Luận án vận hành dưới triết lý thực dụng (pragmatism), kết hợp các yếu tố của chủ nghĩa thực chứng (positivism) và giải thích (interpretivism). Điều này cho phép nghiên cứu không chỉ tìm kiếm các mối quan hệ nhân quả và đo lường hiệu quả chính sách một cách khách quan (positivism, thông qua số liệu thống kê và khảo sát), mà còn tìm hiểu sâu sắc các quan điểm, trải nghiệm của các bên liên quan và bối cảnh cụ thể của chính sách (interpretivism, thông qua phỏng vấn chuyên gia). Mục tiêu cuối cùng là giải quyết vấn đề thực tiễn và đưa ra các khuyến nghị chính sách khả thi.
- Phương pháp hỗn hợp (Mixed Methods): Luận án sử dụng phương pháp hỗn hợp, cụ thể là kết hợp giữa phân tích định tính (phỏng vấn sâu chuyên gia) và phân tích định lượng (điều tra khảo sát bằng bảng hỏi).
- Rationale của sự kết hợp: Sự kết hợp này được lý giải là cần thiết để có cái nhìn toàn diện về thực trạng chính sách. Dữ liệu định tính giúp hiểu bản chất, nguyên tắc, và các yếu tố tác động sâu sắc đến chính sách từ góc độ của các nhà hoạch định và quản lý. Trong khi đó, dữ liệu định lượng cung cấp bằng chứng có tính thống kê về mức độ phù hợp, khả thi và hiệu quả của các chính sách trong thực tiễn từ góc độ của người thụ hưởng (hộ nông dân, doanh nghiệp/HTX).
- Thiết kế đa cấp (Multi-level design): Mặc dù không được định nghĩa rõ ràng là thiết kế đa cấp, nghiên cứu tiếp cận dữ liệu và phân tích ở nhiều cấp độ:
- Cấp trung ương: Phân tích các chính sách, quy định của Đảng và Nhà nước Việt Nam về nông nghiệp, đất đai, đầu tư, môi trường.
- Cấp địa phương cấp tỉnh (Thái Bình): Đánh giá các chính sách cụ thể do UBND tỉnh Thái Bình ban hành để triển khai chính sách trung ương.
- Cấp đối tượng thụ hưởng: Thu thập ý kiến từ hộ nông dân và doanh nghiệp/HTX sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh. Việc phân tích các chính sách và tác động của chúng trên các cấp độ này giúp hiểu rõ sự phối hợp, hiệu quả và những rào cản từ vĩ mô đến vi mô.
- Kích thước mẫu và tiêu chí lựa chọn chính xác:
- Đối tượng hộ nông dân: 425 phiếu hợp lệ từ tổng số 500 phiếu phát ra.
- Đối tượng doanh nghiệp/HTX: 35 phiếu hợp lệ từ tổng số phát ra (số lượng phát ra không nêu rõ, nhưng 35 phiếu được đánh giá là đáng tin cậy).
- Đối tượng chuyên gia: 8 chuyên gia (từ Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công Thương tỉnh Thái Bình) được phỏng vấn sâu.
- Tiêu chí lựa chọn mẫu: Đối với khảo sát định lượng, sử dụng "phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản, thuận tiện cùng với đó là tiếp cận chọn mẫu định mức theo khu vực địa lý" dựa trên chỉ tiêu sử dụng đất nông nghiệp phân bổ theo Quyết định số 1255/QĐ-UBND của UBND tỉnh Thái Bình. Các huyện được chọn mẫu cụ thể bao gồm Thái Thụy (10 phiếu doanh nghiệp/HTX, 7 hộ nông dân), và các huyện khác để đạt tổng số mẫu.
Quy trình nghiên cứu nghiêm ngặt
- Chiến lược lấy mẫu (Sampling strategy):
- Định lượng: "Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản, thuận tiện" kết hợp với "chọn mẫu định mức theo khu vực địa lý" để đảm bảo tính đại diện cho hai nhóm mẫu (hộ nông dân và doanh nghiệp/HTX) trên địa bàn tỉnh, phân bổ dựa trên chỉ tiêu sử dụng đất nông nghiệp.
- Định tính: "Phương pháp phỏng vấn chuyên gia" được tiến hành với lãnh đạo các cơ quan quản lý nhà nước trung ương và tỉnh Thái Bình liên quan đến công tác quản lý nhà nước về nông nghiệp. Đây là phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) để thu thập thông tin chuyên sâu từ những người có kiến thức và kinh nghiệm liên quan.
- Giao thức thu thập dữ liệu (Data collection protocols):
- Dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ niên giám thống kê, báo cáo kinh tế-xã hội của Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê tỉnh Thái Bình (2010-2020), Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Bình, các báo cáo của UBND, HĐND tỉnh, các đề tài nghiên cứu khoa học, luận án tiến sĩ, bài báo khoa học.
- Dữ liệu sơ cấp:
- Bảng hỏi có cấu trúc: Thiết kế 02 mẫu phiếu điều tra khảo sát chi tiết (cho hộ nông dân và cho doanh nghiệp/HTX sản xuất nông nghiệp), tập trung vào các nội dung nhằm định lượng để đánh giá chính sách theo các tiêu chí (tính phù hợp; tính đồng bộ và hệ thống; tính khả thi; tính hiệu lực, hiệu quả của chính sách) sử dụng thang đo Likert 5 điểm.
- Phỏng vấn sâu chuyên gia: Thiết kế 02 mẫu phiếu phỏng vấn sâu (cho cán bộ quản lý nhà nước và cho tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp) với các câu hỏi mở để thu thập dữ liệu định tính, làm rõ các quan điểm về ưu điểm, hạn chế và giải pháp.
- Kiểm định tam giác (Triangulation): Nghiên cứu thực hiện kiểm định tam giác phương pháp (methodological triangulation) bằng cách kết hợp dữ liệu định lượng (khảo sát) và định tính (phỏng vấn sâu) để củng cố các phát hiện. Ngoài ra, việc sử dụng cả dữ liệu thứ cấp và sơ cấp cũng là một hình thức kiểm định tam giác dữ liệu (data triangulation), tăng cường tính tin cậy của kết quả.
- Độ giá trị (Validity) và độ tin cậy (Reliability):
- Độ tin cậy: Luận án sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha để đánh giá tính nhất quán nội tại của thang đo. Các tiêu chí được áp dụng: Cronbach’s Alpha trong khoảng (0.8 – 1.0) là rất tốt, (0.7 – 0.8) là tốt, và từ 0.6 trở lên là có thể sử dụng được trong nghiên cứu mới (Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008). Thêm vào đó, hệ số tương quan biến thành phần – biến tổng (item-total correlation coefficient) phải lớn hơn 0.3 (Nunnally & Bernstein, 1994). Luận án báo cáo rằng "tất cả các thang đo đối với cả ba nhóm chính sách chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng XK bền vững về mặt kinh tế; xã hội và môi trường đều đạt được độ tin cậy cao dao động từ 0,6 đến 0,8 và hệ số tương quan giữa biến thành phần – biến tổng đều cao hơn 0,3 (Phụ lục 13,14)."
- Độ giá trị: Mặc dù không nêu cụ thể các loại giá trị (construct, internal, external), việc thiết kế bảng hỏi dựa trên khung lý thuyết và các tiêu chí đánh giá chính sách đã được chấp nhận rộng rãi (tính phù hợp, tính đồng bộ, tính khả thi, tính hiệu quả) ngụ ý nỗ lực đạt được độ giá trị cấu trúc.
Data và phân tích
- Đặc điểm mẫu (Sample characteristics):
- Hộ nông dân: 425 phiếu hợp lệ.
- Doanh nghiệp/HTX: 35 phiếu hợp lệ.
- Chuyên gia: 8 người.
- Demographics/statistics: Phần mở đầu không cung cấp chi tiết về nhân khẩu học của mẫu khảo sát, nhưng đã phân bổ phiếu điều tra theo địa bàn cụ thể (ví dụ: Thái Thụy với 10 phiếu doanh nghiệp/HTX, 7 hộ nông dân), cho thấy nỗ lực đảm bảo tính đại diện về không gian.
- Kỹ thuật phân tích nâng cao (Advanced techniques):
- Phần mềm: Sử dụng phần mềm SPSS phiên bản 20 và Excel để phân tích và xử lý dữ liệu.
- Kỹ thuật:
- Thống kê mô tả: Để tổng hợp thông tin từ dữ liệu thứ cấp và sơ cấp (tần số, tần suất, giá trị trung bình, độ lệch chuẩn).
- Phân tích độ tin cậy của thang đo: Sử dụng hệ số Cronbach’s Alpha và hệ số tương quan biến thành phần – biến tổng để kiểm tra tính nhất quán nội tại của các biến quan sát.
- Kiểm tra tính vững chắc (Robustness checks): Luận án không mô tả chi tiết các kiểm tra tính vững chắc cụ thể (ví dụ: với các mô hình hồi quy khác nhau hoặc biến thay thế), điều này có thể là một hạn chế đối với các nghiên cứu định lượng phức tạp hơn. Tuy nhiên, việc sử dụng các tiêu chí Cronbach's Alpha và item-total correlation để loại bỏ các biến không phù hợp ("biến rác") là một hình thức đảm bảo chất lượng dữ liệu.
- Kích thước hiệu ứng (Effect sizes) và khoảng tin cậy (confidence intervals): Luận án chủ yếu tập trung vào thống kê mô tả và đánh giá độ tin cậy của thang đo, không nêu rõ việc tính toán kích thước hiệu ứng và khoảng tin cậy cho các phát hiện thống kê, điều này là phổ biến trong các nghiên cứu định lượng cơ bản nhưng có thể là một điểm cải thiện cho các phân tích sâu hơn.
Phát hiện đột phá và implications
Luận án đã đưa ra những phát hiện then chốt và sâu sắc, đồng thời vạch ra những hàm ý đa chiều có ý nghĩa cả về lý thuyết, phương pháp luận, thực tiễn và chính sách.
Những phát hiện then chốt
Luận án chỉ ra 4-5 phát hiện đột phá, được hỗ trợ bởi bằng chứng cụ thể từ dữ liệu:
- Hiệu quả chính sách tổng thể nhưng chưa đồng bộ: Các chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Thái Bình đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng ngành, với "tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân ngành nông nghiệp giai đoạn 2016-2020 đạt 3.08% cao hơn mức đề án đề ra (2,5%)". Tuy nhiên, sự dịch chuyển cơ cấu ngành nội bộ nông nghiệp chưa đạt mục tiêu: "tỷ trọng của ngành thủy sản và lâm nghiệp chưa đạt được mục tiêu đề ra (năm 2020 tỷ trọng: Nông nghiệp: 73,96%; Lâm nghiệp: 0,05%; Thủy sản: 25,98%)" so với mục tiêu đề án là (Nông nghiệp: 71,9%; Lâm nghiệp: 0,1%; Thủy sản: 30%) (Bảng 2.6). Điều này cho thấy chính sách có hiệu quả tăng trưởng nhưng chưa đủ mạnh để thay đổi cơ cấu theo định hướng.
- Chuyển dịch sản xuất từ số lượng sang chất lượng nhưng quy mô nhỏ lẻ vẫn tồn tại: Phát hiện cho thấy, giai đoạn 2010-2020, số lượng lợn nuôi theo con có xu hướng giảm nhưng "sản lượng lợn hơi xuất chuồng lại tăng", và "diện tích trồng lúa giảm liên tục nhưng sản lượng lại tăng" (Bảng 2.1), chứng tỏ sự chuyển dịch sang chất lượng và năng suất. Tuy nhiên, "sản xuất nông nghiệp ở Thái Bình cơ bản vẫn còn nhỏ lẻ với quy mô trung bình khoảng 0,2ha/hộ", và "mục tiêu tích tụ ruộng đất với quy mô từ 02 ha trở lên của tỉnh là 50% diện tích ruộng đất; tuy nhiên đến năm 2020, tỉnh mới thực hiện được khoảng 26,1%". Điều này cho thấy vẫn còn rào cản lớn trong việc chuyển dịch quy mô.
- Hạn chế về thị trường và giá trị sản phẩm xuất khẩu: Mặc dù kim ngạch xuất khẩu nông sản của Thái Bình tăng liên tục, nhưng "kim ngạch XK nông sản của tỉnh còn thấp, năm 2020 chỉ đạt 26,77 triệu USD (Sở công thương Thái Bình, 2020) đứng ở mức thấp so với mức bình quân (41 tỷ USD) của cả nước". Đặc biệt, "các sản phẩm nông sản XK của tỉnh Thái Bình vẫn chủ yếu là XK thô, hàm lượng GTGT thấp, chưa chú trọng chế biến sâu và chưa có thương hiệu riêng". Phát hiện này cũng được chứng minh bằng việc "năm 2018, kim ngạch XK sản phẩm nông sản của tỉnh Thái Bình sang thị trường Trung Quốc chiếm đến 76,4% tổng kim ngạch XK nông sản của tỉnh", cho thấy sự phụ thuộc vào thị trường dễ tính và thiếu đa dạng hóa.
- Chính sách môi trường còn yếu và nhận thức chưa cao: Các chính sách bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp "còn chung chung chưa được hướng dẫn cụ thể", dẫn đến "tính khả thi còn yếu". Khảo sát cho thấy, "các hộ nông dân đánh giá tính phù hợp của chính sách ở mức dưới trung bình (2,9/5)" và đặc biệt "được phổ biến các quy định về bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp cả doanh nghiệp/HTX và hộ nông dân đều đánh giá ở mức thấp lần lượt là 2,8/5 và 1,8/5" (Phụ lục 9, 10). Đây là kết quả đáng ngạc nhiên khi môi trường là một trụ cột quan trọng của PTBV.
- Tác động tích cực đến an sinh xã hội nhưng chênh lệch thu nhập vẫn cao: Nhóm chính sách xã hội đã tạo việc làm đáng kể, với "167.000 việc làm phi nông nghiệp" được tạo ra so với mục tiêu 150.000 (Bảng 2.5), và "thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn của tỉnh đạt khoảng 33 triệu đồng/năm, tăng 2,9 lần so với năm 2010". Tuy nhiên, "mức thu nhập bình quân của khu vực nông thôn vẫn chỉ bằng 62% mức thu nhập bình quân của khu vực thành thị", cho thấy chính sách chưa đủ mạnh để thu hẹp đáng kể khoảng cách thu nhập.
Implications đa chiều
- Phát triển lý thuyết (Theoretical advances): Luận án đã đóng góp vào việc mở rộng lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Chenery và Rostow bằng cách tích hợp sâu sắc yếu tố bền vững và xuất khẩu ở cấp độ địa phương. Nó cung cấp một khung lý thuyết mới cho chính sách công trong nông nghiệp, nơi hiệu quả chính sách được đánh giá đa chiều trên cả ba trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường, vượt ra ngoài các chỉ số tăng trưởng truyền thống.
- Đổi mới phương pháp luận (Methodological innovations): Việc sử dụng phương pháp hỗn hợp kết hợp khảo sát định lượng chi tiết với phỏng vấn sâu chuyên gia và phân tích dữ liệu thứ cấp đã được chứng minh là một cách tiếp cận hiệu quả để đánh giá chính sách phức tạp. Cách tiếp cận này có thể áp dụng cho các nghiên cứu chính sách tương tự trong các lĩnh vực khác, không chỉ giới hạn trong nông nghiệp, đặc biệt ở các nền kinh tế đang phát triển nơi dữ liệu thường không đầy đủ.
- Ứng dụng thực tiễn (Practical applications):
- Cơ chế tích tụ ruộng đất: Đề xuất mô hình chính quyền đứng ra thuê đất của nông dân rồi cho doanh nghiệp thuê lại (học hỏi từ Hà Nam) là một giải pháp cụ thể để khắc phục tâm lý e ngại mất đất của nông dân, đẩy nhanh quá trình tích tụ ruộng đất cho sản xuất quy mô lớn.
- Phát triển nông nghiệp hữu cơ: Khuyến nghị Thái Bình ban hành chính sách riêng về nông nghiệp hữu cơ (học hỏi từ Chachoengsao, Israel) là một giải pháp thiết thực để đáp ứng nhu cầu thị trường ngày càng cao về sản phẩm sạch và thân thiện với môi trường.
- Nghiên cứu & Phát triển (R&D) trong nông nghiệp: Bài học từ Holon, Israel về đầu tư mạnh cho R&D và ứng dụng công nghệ cao để vượt qua điều kiện tự nhiên khắc nghiệt là một gợi ý quan trọng cho Thái Bình để phát triển các sản phẩm nông nghiệp có GTGT cao, đặc biệt cho xuất khẩu.
- Khuyến nghị chính sách (Policy recommendations):
- Trung ương: Cần sửa đổi Luật Đất đai (Khoản 3 Điều 191 Luật Đất đai 2013 và Nghị định 01/2017/NĐ-CP) để nới lỏng hạn mức chuyển nhượng đất nông nghiệp, cho phép doanh nghiệp tư nhân trong nước được giao đất có thu tiền sử dụng đất, và khắc phục mâu thuẫn giữa Luật Đất đai và Luật Đấu thầu trong các dự án có sử dụng đất.
- Địa phương (Thái Bình): Cần xây dựng và ban hành chính sách quy hoạch nông nghiệp chi tiết cho từng vùng chuyên canh và ngành hàng chủ lực (lúa, ngao, tôm), chính sách tích tụ ruộng đất cụ thể của tỉnh, và chính sách riêng khuyến khích phát triển nông nghiệp hữu cơ. Đồng thời, điều chỉnh chính sách khuyến khích đầu tư để bổ sung đối tượng là hộ nông dân và HTX.
- Điều kiện tổng quát hóa (Generalizability conditions): Các bài học và khuyến nghị từ Thái Bình có thể được tổng quát hóa cho các địa phương khác ở Việt Nam có điều kiện tự nhiên (đất đai màu mỡ, hệ thống sông ngòi, vùng ven biển), kinh tế-xã hội (nền nông nghiệp chiếm tỷ trọng cao, lao động nông nghiệp lớn) tương đồng trong vùng Đồng bằng sông Hồng như Hà Nam, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên. Điều kiện để áp dụng là các tỉnh này cũng đang trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu và đối mặt với các thách thức tương tự về quy mô sản xuất, GTGT và bền vững môi trường.
Limitations và Future Research
Luận án, dù đã đạt được các mục tiêu nghiên cứu và có những đóng góp đáng kể, vẫn còn một số hạn chế và mở ra các hướng nghiên cứu trong tương lai.
3-4 hạn chế cụ thể được thừa nhận
- Hạn chế về dữ liệu sơ cấp và quy trình chính sách: Luận án thừa nhận rằng "dữ liệu được sử dụng trong luận án chủ yếu là dữ liệu thứ cấp, dữ liệu sơ cấp thu thập thông qua phương pháp phỏng vấn và khảo sát bằng phiếu điều tra với số lượng mẫu còn hạn chế." Cụ thể, số lượng 35 phiếu hợp lệ đối với doanh nghiệp/HTX có thể chưa hoàn toàn đại diện cho toàn bộ khối doanh nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh. Hơn nữa, nghiên cứu "chưa nghiên cứu một cách toàn diện cả chu trình chính sách mà chỉ dừng lại và tập trung vào đánh giá nội dung chính sách", bỏ qua sâu hơn vào giai đoạn hoạch định, thực thi và kiểm soát.
- Giới hạn về phạm vi địa lý và khả năng tổng quát hóa: Mặc dù đã cố gắng đưa ra các bài học kinh nghiệm cho các tỉnh tương đồng, nghiên cứu vẫn tập trung chủ yếu vào tỉnh Thái Bình. Các điều kiện đặc thù về vị trí địa lý, văn hóa, và thể chế chính sách ở Thái Bình có thể không hoàn toàn phản ánh bức tranh chung của tất cả các tỉnh có lợi thế nông nghiệp khác, làm giảm một phần khả năng tổng quát hóa các giải pháp cụ thể.
- Hạn chế về phương pháp định lượng chuyên sâu: Phân tích định lượng chủ yếu dừng lại ở thống kê mô tả và kiểm định độ tin cậy của thang đo (Cronbach's Alpha, item-total correlation). Luận án chưa áp dụng các mô hình kinh tế lượng phức tạp hơn như mô hình hồi quy đa biến, phân tích hồi quy cấu trúc (SEM), hay phân tích dữ liệu bảng (panel data analysis), điều này có thể hạn chế khả năng khám phá các mối quan hệ nhân quả sâu sắc và định lượng hóa tác động chính sách một cách chính xác hơn.
- Chưa đi sâu vào phân tích các yếu tố chính trị/thể chế phi chính thức: Mặc dù có đề cập đến các văn bản pháp luật và quy định, luận án chưa phân tích sâu các yếu tố chính trị, xã hội hoặc thể chế phi chính thức có thể ảnh hưởng đến quá trình hoạch định và thực thi chính sách ở cấp địa phương, chẳng hạn như vai trò của các nhóm lợi ích, văn hóa địa phương trong việc chấp nhận chính sách.
Điều kiện biên về bối cảnh/mẫu/thời gian
- Bối cảnh: Các kết quả và khuyến nghị chính sách được đưa ra phù hợp nhất với bối cảnh của tỉnh Thái Bình, một tỉnh đồng bằng sông Hồng có lợi thế nông nghiệp và đang trong quá trình chuyển dịch cơ cấu.
- Mẫu: Mặc dù mẫu khảo sát hộ nông dân khá lớn (425 phiếu), mẫu doanh nghiệp/HTX (35 phiếu) và chuyên gia (8 người) có thể còn hạn chế.
- Thời gian: Phân tích thực trạng chính sách giới hạn trong giai đoạn 2010-2020. Mặc dù có định hướng đến 2030, các dự báo có thể cần được điều chỉnh liên tục với sự biến động của kinh tế và chính trị toàn cầu (như dịch bệnh Covid-19).
Chương trình nghiên cứu tương lai với 4-5 hướng cụ thể
- Nghiên cứu mở rộng chu trình chính sách: Thực hiện các nghiên cứu tiếp theo để phân tích sâu hơn toàn bộ chu trình chính sách (hoạch định, thực thi, giám sát, đánh giá) đối với chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp bền vững. Điều này sẽ bao gồm việc đánh giá chi tiết các quy trình ra quyết định, các yếu tố ảnh hưởng đến thực thi và cơ chế giám sát.
- Ứng dụng mô hình kinh tế lượng nâng cao: Thực hiện các nghiên cứu định lượng sử dụng các mô hình kinh tế lượng phức tạp hơn (ví dụ: SEM, mô hình hồi quy dữ liệu bảng, phân tích hiệu quả chính sách bằng phương pháp Difference-in-Differences hoặc Propensity Score Matching) để định lượng hóa tác động của từng nhóm chính sách đến các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường, cung cấp bằng chứng có tính nhân quả mạnh mẽ hơn.
- Nghiên cứu so sánh đa tỉnh/khu vực: Mở rộng nghiên cứu sang các tỉnh khác trong khu vực Đồng bằng sông Hồng (Hà Nam, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên) hoặc các khu vực khác của Việt Nam có điều kiện tương đồng để kiểm định tính tổng quát của khung lý thuyết và các giải pháp chính sách được đề xuất. Nghiên cứu có thể tập trung vào việc áp dụng các bài học từ Thái Bình và đánh giá hiệu quả của chúng trong các bối cảnh khác nhau.
- Phân tích sâu hơn về nông nghiệp công nghệ cao và hữu cơ: Tập trung nghiên cứu các chính sách cụ thể nhằm thúc đẩy nông nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp hữu cơ ở cấp địa phương, bao gồm các rào cản, cơ hội và cơ chế hỗ trợ hiệu quả nhất. Điều này có thể bao gồm các nghiên cứu điển hình (case studies) về các trang trại, HTX hoặc doanh nghiệp thành công trong việc áp dụng các mô hình này.
- Tích hợp yếu tố biến đổi khí hậu và khả năng chống chịu: Nghiên cứu sâu hơn về cách các chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp có thể tích hợp các yếu tố biến đổi khí hậu, bao gồm khả năng chống chịu và thích ứng của nông nghiệp trước các tác động của biến đổi khí hậu, để đảm bảo tính bền vững lâu dài.
Cải tiến phương pháp luận được đề xuất
- Tăng cường kích thước mẫu và độ bao phủ: Mở rộng quy mô khảo sát định lượng, đặc biệt đối với đối tượng doanh nghiệp/HTX, và đảm bảo tính đại diện cao hơn cho các khu vực địa lý khác nhau trong tỉnh.
- Sử dụng kỹ thuật lấy mẫu phân tầng: Áp dụng phương pháp lấy mẫu phân tầng (stratified sampling) để đảm bảo đại diện chính xác cho các nhóm đối tượng khác nhau (ví dụ: hộ nông dân theo quy mô, loại cây trồng/vật nuôi; doanh nghiệp theo quy mô, lĩnh vực hoạt động).
- Phát triển thang đo chuyên biệt hơn: Xây dựng và kiểm định các thang đo chi tiết hơn cho từng tiêu chí đánh giá chính sách, có thể sử dụng các kỹ thuật như phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích nhân tố khẳng định (CFA) để đảm bảo độ giá trị và độ tin cậy của thang đo.
- Kết hợp dữ liệu GIS: Sử dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) để phân tích không gian các yếu tố tự nhiên, quy hoạch đất đai và tác động môi trường của các chính sách, cung cấp cái nhìn trực quan và chính xác hơn.
Mở rộng lý thuyết được đề xuất
- Lý thuyết lựa chọn chính sách (Policy Choice Theory): Áp dụng sâu hơn các lý thuyết về lựa chọn chính sách để giải thích tại sao một số chính sách được ưu tiên hơn các chính sách khác ở cấp địa phương, liên hệ với các yếu tố chính trị, kinh tế và xã hội cụ thể.
- Khung lý thuyết thể chế: Mở rộng phân tích bằng cách sử dụng khung lý thuyết thể chế để xem xét vai trò của các thể chế chính thức và phi chính thức trong việc hình thành và thực thi chính sách nông nghiệp hướng xuất khẩu bền vững, giải thích các rào cản và cơ hội từ góc độ thể chế.
Tác động và ảnh hưởng
Luận án "Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu bền vững của tỉnh Thái Bình" được kỳ vọng sẽ tạo ra những tác động và ảnh hưởng sâu rộng trên nhiều bình diện, từ học thuật đến thực tiễn chính sách và xã hội.
- Tác động học thuật (Academic impact): Luận án là một tài liệu tham khảo quan trọng, có tiềm năng tạo ra nhiều trích dẫn trong các nghiên cứu tương lai về chính sách nông nghiệp, phát triển bền vững và quản lý kinh tế ở cấp địa phương. Bằng cách hệ thống hóa và bổ sung lý luận về chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu bền vững của địa phương cấp tỉnh, nghiên cứu mở ra các dòng nghiên cứu mới, đặc biệt về mối liên hệ phức tạp giữa chính sách, tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường trong bối cảnh các nền kinh tế đang phát triển. Các khái niệm và mô hình phân tích được đề xuất có thể trở thành nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo ở Việt Nam và các quốc gia tương đồng.
- Chuyển đổi ngành công nghiệp (Industry transformation): Các giải pháp và khuyến nghị chính sách của luận án có thể thúc đẩy chuyển đổi ngành nông nghiệp của Thái Bình nói riêng và Việt Nam nói chung theo hướng hiện đại hóa.
- Ngành trồng trọt: Khuyến khích "sản xuất lúa gạo chất lượng cao, lúa hữu cơ" và "canh tác rau củ quả hữu cơ, rau an toàn" sẽ tạo ra các sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn thị trường xuất khẩu, tăng GTGT.
- Ngành chăn nuôi: Đầu tư vào "chăn nuôi quy mô lớn, ứng dụng công nghệ tiên tiến" và "lò giết mổ tập trung" sẽ cải thiện chất lượng sản phẩm thịt, giảm thiểu dịch bệnh (như dịch tả lợn Châu Phi năm 2019) và nâng cao khả năng xuất khẩu.
- Ngành thủy sản: Phát triển "nuôi tôm công nghệ cao" và "nuôi ngao tập trung" sẽ tăng sản lượng và chất lượng cho xuất khẩu, đặc biệt vào các thị trường khó tính như Nhật Bản và EU.
- Chế biến nông sản: Khuyến khích "các doanh nghiệp đầu tư vào công nghiệp chế biến nông sản nhằm nâng cao GTGT của sản phẩm" sẽ dịch chuyển từ xuất khẩu thô sang xuất khẩu tinh, tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp trong ngành.
- Ảnh hưởng chính sách (Policy influence): Luận án cung cấp các bằng chứng thực tiễn và luận cứ khoa học vững chắc để các cơ quan quản lý nhà nước ở nhiều cấp độ tham khảo và áp dụng:
- Cấp tỉnh (Thái Bình): Các khuyến nghị cụ thể như "xây dựng, ban hành chính sách quy hoạch nông nghiệp", "hoàn thiện chính sách tích tụ ruộng đất", "xây dựng chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp hữu cơ" sẽ là cơ sở để UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các Phòng nông nghiệp rà soát, sửa đổi, bổ sung và ban hành các chính sách phù hợp, nâng cao hiệu quả quản lý.
- Cấp Trung ương: Các kiến nghị về "sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật" liên quan đến Luật Đất đai (Khoản 3 Điều 191 Luật Đất đai 2013) và Luật Đấu thầu, cũng như chính sách tín dụng và bảo hiểm nông nghiệp, có thể ảnh hưởng đến quá trình hoàn thiện khung pháp lý cấp quốc gia, tạo môi trường thuận lợi hơn cho phát triển nông nghiệp bền vững.
- Lợi ích xã hội (Societal benefits): Các chính sách được đề xuất và hoàn thiện sẽ mang lại lợi ích trực tiếp cho cộng đồng:
- Nâng cao thu nhập: Góp phần "nâng cao thu nhập bình quân đầu người của toàn tỉnh giai đoạn năm 2021 - 2025 đạt trên 4,7 triệu đồng/tháng/người và thu nhập của người dân tại địa bàn nông thôn đạt trên 4,5 triệu đồng/tháng/người". Điều này được lượng hóa bằng mục tiêu tăng thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn lên trên 6,5 triệu đồng/tháng/người vào năm 2030, gấp gần hai lần so với mức 33 triệu đồng/năm (khoảng 2,75 triệu/tháng) của năm 2020.
- Tạo việc làm và giảm nghèo: Tiếp tục "tạo ra khoảng 167.000 việc làm" phi nông nghiệp (giai đoạn 2016-2020) và "giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân 1,04%/năm" sẽ cải thiện đáng kể đời sống và an sinh xã hội ở khu vực nông thôn.
- Bảo vệ môi trường: Thúc đẩy nông nghiệp hữu cơ và ứng dụng khoa học công nghệ cao sẽ "giảm thiểu tối đa tác động xấu tới môi trường trong quá trình sản xuất nông nghiệp", bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và cải thiện chất lượng môi trường sống cho người dân.
- Tính liên quan quốc tế (International relevance): Các bài học kinh nghiệm từ Thái Bình, một tỉnh đang phát triển có lợi thế nông nghiệp, cùng với việc so sánh với các quốc gia như Thái Lan và Israel, có ý nghĩa toàn cầu. Nghiên cứu cung cấp thông tin giá trị cho các nhà hoạch định chính sách ở các nền kinh tế đang phát triển khác đang tìm kiếm các mô hình phát triển nông nghiệp hướng xuất khẩu một cách bền vững, đặc biệt trong bối cảnh thách thức về biến đổi khí hậu và yêu cầu thị trường quốc tế ngày càng cao.
Đối tượng hưởng lợi
Luận án mang lại giá trị thiết thực cho nhiều đối tượng khác nhau, từ cộng đồng học thuật đến các nhà quản lý và doanh nghiệp, cùng với những lợi ích định lượng rõ ràng.
- Các nhà nghiên cứu tiến sĩ (Doctoral researchers): Luận án cung cấp một khung lý luận và phương pháp nghiên cứu mẫu mực, đặc biệt trong việc tích hợp các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường vào phân tích chính sách ở cấp địa phương. Nó làm rõ các "khoảng trống cần được tiếp tục nghiên cứu" về khái niệm, nguyên tắc, nội dung và nhân tố ảnh hưởng đến chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu bền vững, từ đó định hướng cho các đề tài tiến sĩ tương lai.
- Các học giả cấp cao (Senior academics): Nghiên cứu mở rộng lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế (Chenery, Rostow) và chính sách công bằng cách đưa vào yếu tố phát triển bền vững và xuất khẩu ở cấp độ dưới quốc gia. Việc tổng hợp và phát triển các lý luận về "chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu bền vững của một địa phương cấp tỉnh" cung cấp một đóng góp lý thuyết quan trọng, kích thích các cuộc thảo luận và nghiên cứu sâu hơn trong lĩnh vực quản lý kinh tế nông nghiệp và phát triển bền vững.
- Bộ phận Nghiên cứu & Phát triển (R&D) của ngành công nghiệp (Industry R&D): Các ứng dụng thực tiễn và khuyến nghị chính sách của luận án có thể định hướng chiến lược R&D cho các doanh nghiệp nông nghiệp. Ví dụ, việc tập trung khuyến khích "nghiên cứu các giống lúa mới, chất lượng cao" và "ứng dụng công nghệ cao vào nuôi, khai thác và chế biến tôm" sẽ giúp các doanh nghiệp phát triển sản phẩm có lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế, đặc biệt là các mặt hàng như gạo, ngao, tôm, thịt.
- Các nhà hoạch định chính sách (Policy makers): Luận án cung cấp "các khuyến nghị chính sách" dựa trên bằng chứng thực nghiệm và so sánh quốc tế, rất hữu ích cho các cơ quan quản lý nhà nước.
- Cấp tỉnh (Thái Bình): Cụ thể, các khuyến nghị về "xây dựng, ban hành chính sách quy hoạch nông nghiệp", "tiếp tục xây dựng, ban hành chính sách tích tụ ruộng đất" và "xây dựng chính sách khuyến khích phát triển nông nghiệp hữu cơ" sẽ là lộ trình hành động trực tiếp.
- Cấp Trung ương: Kiến nghị "sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật" như Luật Đất đai và Luật Đấu thầu sẽ tháo gỡ các vướng mắc pháp lý, tạo hành lang thuận lợi cho đầu tư vào nông nghiệp bền vững trên toàn quốc.
- Lợi ích định lượng:
- Tăng trưởng kinh tế nông nghiệp: Mục tiêu tăng trưởng của kinh tế nông nghiệp Thái Bình "đạt trên 4%/năm trong giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 đạt 4,5%-5%".
- Kim ngạch xuất khẩu: Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng nông sản "giai đoạn 2021-2023 bình quân từ 12%/năm trở lên".
- Thu nhập người dân nông thôn: Nâng mức thu nhập bình quân đầu người tại khu vực nông thôn lên "trên 4,5 triệu đồng/tháng/người" vào năm 2025 và "trên 6,5 triệu đồng/tháng/người" vào năm 2030, đóng góp trực tiếp vào mục tiêu xóa đói giảm nghèo và cải thiện đời sống.
- Tỷ lệ tích tụ ruộng đất: Mục tiêu "tăng tỷ lệ tích tụ ruộng đất quy mô lớn" để đạt mức trên 50% diện tích đất canh tác.
- Giảm tác động môi trường: Đẩy mạnh nông nghiệp hữu cơ và công nghệ cao để "giảm thiểu tối đa tác động xấu tới môi trường".
Những lợi ích này cho thấy luận án không chỉ là một công trình học thuật mà còn là một công cụ thiết yếu để định hình tương lai phát triển bền vững cho nông nghiệp tại Thái Bình và các địa phương tương tự.
Câu hỏi chuyên sâu
Trả lời với các chi tiết CỤ THỂ:
-
Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất (name theory extended): Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là việc xây dựng một khung lý luận chung về chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu bền vững của một địa phương cấp tỉnh. Luận án đã mở rộng lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế (Structural Transformation Theory) của Chenery (1988) và Rostow (1990) bằng cách tích hợp đồng thời ba yếu tố: (i) định hướng xuất khẩu, (ii) các mục tiêu phát triển bền vững (kinh tế, xã hội, môi trường), và (iii) bối cảnh cụ thể của cấp độ địa phương cấp tỉnh. Khác với các nghiên cứu trước đây thường tập trung vào từng khía cạnh riêng lẻ hoặc ở cấp độ vĩ mô, luận án này cung cấp một lăng kính toàn diện và vi mô hơn để phân tích vai trò của chính sách nhà nước trong việc điều tiết quá trình chuyển dịch đa chiều này. Điều này làm sâu sắc thêm hiểu biết về cách các chính sách có thể được thiết kế và đánh giá để đạt được sự tăng trưởng kinh tế bền vững và toàn diện trong ngành nông nghiệp.
-
Đổi mới phương pháp luận (compare với 2+ prior studies): Đổi mới phương pháp luận của luận án nằm ở việc áp dụng một cách hiệu quả phương pháp hỗn hợp (mixed methods) kết hợp giữa khảo sát định lượng chi tiết với phỏng vấn sâu định tính, đặc biệt để đánh giá chính sách ở cấp địa phương.
- So với nghiên cứu của Qian Zhang và cộng sự (2016): Nghiên cứu của Qian Zhang et al. sử dụng "Mô hình khu vực khổng lồ (TERM), một mô hình cân bằng tổng thể tính toán đa vùng" để phân tích định lượng tác động của năng suất lao động và vốn. Phương pháp này mạnh về định lượng và mô phỏng kinh tế vĩ mô nhưng có thể thiếu đi chiều sâu về cảm nhận chủ quan và những rào cản chính sách thực tế từ các bên liên quan.
- So với nghiên cứu của Hashemi Niloofar và Gholamreza Ghaffary (2017): Nghiên cứu này tập trung vào việc "xây dựng qui trình PTBV nông thôn thông qua một số chỉ tiêu PTBV SRDI" và sử dụng "thang đo Likert với giá trị từ 1 đến 5 để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến nhu cầu xã hội và kinh tế địa phương". Phương pháp này mạnh về việc xây dựng chỉ số và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng, nhưng có thể không đi sâu vào phân tích cơ chế và hiệu lực của chính sách cụ thể như luận án này.
- Đổi mới của luận án: Luận án này vượt trội hơn bằng cách tích hợp cả việc đo lường định lượng các tiêu chí chính sách (tính phù hợp, đồng bộ, khả thi, hiệu quả) thông qua khảo sát 425 hộ nông dân và 35 doanh nghiệp/HTX với việc thu thập insights định tính sâu sắc từ 8 chuyên gia cấp tỉnh. Dữ liệu định tính đã làm rõ các nguyên nhân sâu xa của những hạn chế chính sách, ví dụ như "chính sách đất đai của tỉnh còn hạn chế, thiếu đồng bộ đặc biệt là chưa ban hành đề án tích tụ đất đai của tỉnh" hay "tâm lý người dân không muốn cho doanh nghiệp thuê đất do sợ mất đất". Sự kết hợp này mang lại cái nhìn toàn diện, vừa có bằng chứng thống kê về hiệu quả và mức độ phù hợp của chính sách, vừa có sự hiểu biết sâu sắc về các rào cản và cơ hội trong quá trình thực thi, điều mà các nghiên cứu định lượng thuần túy hoặc định tính thuần túy khó có thể đạt được.
-
Phát hiện đáng ngạc nhiên nhất (với data support): Phát hiện đáng ngạc nhiên nhất là mặc dù tỉnh Thái Bình đã đạt được những thành tựu đáng kể trong tăng trưởng nông nghiệp (tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân ngành nông nghiệp giai đoạn 2016-2020 đạt 3.08% vượt so với mục tiêu đề ra là 2,5%), nhưng hiệu quả của các chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp về mặt môi trường, đặc biệt là quy định về bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp, và chính sách xử lý rác thải tại khu vực nông thôn, lại có tính khả thi rất yếu và nhận thức của người dân còn thấp.
- Data support: Khảo sát cho thấy "các hộ nông dân đánh giá tính phù hợp của chính sách ở mức dưới trung bình (2,25/5)" và "được phổ biến các quy định về bảo vệ môi trường trong sản xuất nông nghiệp cả doanh nghiệp/HTX và hộ nông dân đều đánh giá ở mức thấp lần lượt là 2,8/5 và 1,8/5" (Phụ lục 9, 10). Thêm vào đó, "tỉnh chưa xây dựng được chính sách riêng về phát triển nông nghiệp hữu cơ", và "sản xuất nông nghiệp chuyển dịch sang sản xuất nông nghiệp hữu cơ rất chậm". Điều này đáng ngạc nhiên vì phát triển bền vững luôn được nhấn mạnh là trụ cột, nhưng trên thực tế, khía cạnh môi trường lại chưa được các chính sách hỗ trợ hiệu quả và chưa thấm nhuần vào nhận thức của người dân trực tiếp sản xuất.
-
Giao thức tái tạo được cung cấp? Luận án không cung cấp một "giao thức tái tạo (replication protocol)" chi tiết theo nghĩa công khai đầy đủ dữ liệu thô, mã phân tích thống kê hay các bước lặp lại nghiên cứu. Tuy nhiên, luận án đã mô tả khá rõ ràng về:
- Nguồn dữ liệu: Cả thứ cấp (niên giám thống kê, báo cáo của sở, ngành Thái Bình) và sơ cấp (phiếu khảo sát hộ nông dân, doanh nghiệp/HTX, phỏng vấn chuyên gia).
- Phương pháp chọn mẫu: "Chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản, thuận tiện" và "chọn mẫu định mức theo khu vực địa lý" với kích thước mẫu cụ thể (425 hộ, 35 doanh nghiệp/HTX, 8 chuyên gia).
- Công cụ thu thập dữ liệu: Thiết kế 02 mẫu phiếu điều tra khảo sát và 02 mẫu phiếu phỏng vấn sâu với các câu hỏi và thang đo chi tiết (thang đo Likert 5 điểm).
- Phần mềm và kỹ thuật phân tích: Sử dụng SPSS phiên bản 20 để phân tích thống kê mô tả, hệ số Cronbach’s Alpha và hệ số tương quan biến thành phần – biến tổng, với các tiêu chí cụ thể để đánh giá độ tin cậy. Mặc dù không phải là một giao thức tái tạo hoàn chỉnh theo tiêu chuẩn mở, những thông tin này cung cấp đủ chi tiết để một nhà nghiên cứu có thể thực hiện lại một nghiên cứu tương tự (replicate a similar study) trong cùng bối cảnh hoặc bối cảnh tương đồng, với khả năng thu được kết quả so sánh được.
-
Chương trình nghiên cứu 10 năm được vạch ra? Luận án có vạch ra một chương trình nghiên cứu và định hướng phát triển rõ ràng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030, mặc dù không gọi trực tiếp là "chương trình nghiên cứu 10 năm". Mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể (Chương 3) bao gồm:
- Mục tiêu tăng trưởng: "Tăng trưởng kinh tế nông nghiệp đạt trên 4%/năm trong giai đoạn 2021-2025, định hướng đến năm 2030 đạt 4,5%-5%".
- Mục tiêu xuất khẩu: "Tốc độ tăng trưởng XK hàng nông sản giai đoạn 2021-2023 bình quân từ 12%/năm trở lên".
- Cơ cấu ngành: Dịch chuyển cơ cấu ngành với "tỷ trọng dịch vụ nông nghiệp, tỷ trọng thủy sản, giảm tỷ trọng của ngành nông nghiệp với cơ cấu tương ứng trong giai đoạn 2021-2025 là 8%-42% và dưới 50%, đến năm 2030 tỷ trọng của cơ cấu này là 8,5% - 45% - 47,5%".
- Thu nhập nông dân: "Đến năm 2030, đạt trên 6,7 triệu đồng/tháng/người, khu vực nông thôn đạt trên 6,5 triệu đồng/tháng/người". Các giải pháp được đề xuất (Chương 3) cũng có tính chất dài hạn, tập trung vào hoàn thiện chính sách quy hoạch, tích tụ ruộng đất, chính sách khoa học công nghệ, phát triển nông nghiệp hữu cơ, và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho giai đoạn đến năm 2025, định hướng đến năm 2030. Điều này phác thảo một lộ trình nghiên cứu và phát triển chính sách kéo dài, đáp ứng yêu cầu về tầm nhìn 10 năm.
Kết luận
Luận án này đại diện cho một nghiên cứu học thuật nghiêm túc, mang tính cấp thiết và đột phá về "Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu bền vững của tỉnh Thái Bình". Nó đã thực hiện một cách có hệ thống và chặt chẽ, từ việc xác định khoảng trống lý thuyết đến phân tích thực nghiệm và đề xuất giải pháp.
- Đóng góp lý luận cốt lõi: Luận án đã hệ thống hóa và bổ sung một khung lý luận toàn diện về chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu bền vững ở cấp địa phương cấp tỉnh, tích hợp ba trụ cột kinh tế, xã hội, môi trường trong phân tích chính sách công. Đây là sự mở rộng đáng giá cho các lý thuyết chuyển dịch cơ cấu (Chenery, Rostow) và phát triển bền vững (WCED, Susan Baker).
- Đánh giá thực trạng đa chiều: Nghiên cứu cung cấp bức tranh thực trạng chi tiết về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và các chính sách liên quan tại Thái Bình giai đoạn 2010-2020. Dữ liệu thứ cấp (Cục Thống kê tỉnh Thái Bình, Sở Công Thương Thái Bình) cho thấy sự tăng trưởng và dịch chuyển (tốc độ tăng trưởng nông nghiệp đạt 3.08%, thu nhập nông thôn tăng 2,9 lần) nhưng cũng chỉ rõ những hạn chế đáng kể (tỷ trọng thủy sản, lâm nghiệp chưa đạt mục tiêu; tích tụ ruộng đất chậm; sản phẩm xuất khẩu chủ yếu thô, GTGT thấp).
- Phân tích chính sách sâu sắc: Bằng cách sử dụng phương pháp hỗn hợp (khảo sát 425 hộ nông dân, 35 doanh nghiệp/HTX và phỏng vấn 8 chuyên gia), luận án đã phân tích hiệu lực, hiệu quả, tính phù hợp và khả thi của các nhóm chính sách, đặc biệt là nhóm chính sách môi trường bị đánh giá thấp về tính khả thi và mức độ phổ biến (chỉ 1,8/5 điểm từ hộ nông dân).
- Giải pháp và kiến nghị hành động: Luận án đã đề xuất một bộ giải pháp và kiến nghị cụ thể, từ việc sửa đổi Luật Đất đai ở cấp Trung ương để tháo gỡ rào cản tích tụ ruộng đất, đến việc xây dựng chính sách quy hoạch, chính sách riêng về nông nghiệp hữu cơ, và nâng cao năng lực cho đội ngũ hoạch định chính sách ở cấp tỉnh. Các giải pháp này hướng tới mục tiêu định lượng được như tăng trưởng kinh tế nông nghiệp 4-5%/năm, tăng kim ngạch xuất khẩu nông sản 12%/năm, và nâng cao thu nhập nông thôn lên 6,5 triệu đồng/tháng/người vào năm 2030.
- Tác động toàn diện và bền vững: Nghiên cứu này không chỉ là một tài liệu tham khảo quan trọng cho các nhà quản lý và hoạch định chính sách tại Thái Bình mà còn là một mô hình phân tích hữu ích cho các tỉnh khác ở Việt Nam và các nền kinh tế đang phát triển có điều kiện tương đồng, đang nỗ lực cân bằng giữa phát triển kinh tế, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường trong ngành nông nghiệp hướng xuất khẩu.
Luận án đã đóng góp vào sự tiến bộ hệ hình (paradigm advancement) trong nghiên cứu chính sách nông nghiệp bằng cách thúc đẩy một cách tiếp cận đa chiều và bền vững, vượt ra ngoài các chỉ số kinh tế đơn thuần. Nó mở ra ba dòng nghiên cứu mới tiềm năng: (1) nghiên cứu toàn diện chu trình chính sách ở cấp địa phương với dữ liệu đa dạng hơn, (2) ứng dụng các mô hình kinh tế lượng nâng cao để định lượng chính xác tác động chính sách, và (3) nghiên cứu so sánh đa tỉnh về hiệu quả chính sách tích tụ ruộng đất và phát triển nông nghiệp hữu cơ. Với những đóng góp này, luận án có tính liên quan toàn cầu, cung cấp các bài học có thể đo lường được cho các quốc gia đang phát triển khác.
Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộ1 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài luận án Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của Việt Nam, là một trong ba bộ phận (nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ) cấu thành nền kinh tế quốc dân, bình quân giai đoạn 2010-2020 ngành nông nghiệp có mức tăng trưởng đạt 2,85%, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất đạt 3,64%, đóng góp 18,68% GDP (Tổng cục thống kê, 2010- 2020). Sản xuất nông nghiệp đã có bước phát triển vượt bậc, an ninh lương thực được bảo đảm. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CCKT) nông nghiệp là việc thay đổi tỷ lệ của các ngành sản xuất vật chất, dịch vụ trong kinh tế nông nghiệp và các mối quan hệ của các bộ phận cấu thành kinh tế nông nghiệp; đó là sự biến đổi, điều chỉnh nhằm phá vỡ cơ cấu cũ để tạo ra CCKT nông nghiệp mới ổn định, cân đối có chủ đích trên cơ sở phù hợp với các quy luật tự nhiên, kinh tế và xã hội.
Chuyển dịch CCKT nông nghiệp luôn được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm. Tại Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về các văn kiện Đại hội XII của Đảng đã nêu: “Cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, xây dựng nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng sản phẩm, đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm; nâng cao giá trị gia tăng, đẩy mạnh xuất khẩu; có chính sách phù hợp để tích tụ, tập trung ruộng đất” (Đảng cộng sản Việt Nam, 2016). Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” và “Kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp giai đoạn 2017-2020” (Thủ tướng Chính phủ, 2013, 2017) đồng thời ban hành một số chính sách nhằm chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo định hướng đã định. Bởi vậy, CCKT nông nghiệp đã có những chuyển dịch tích cực theo hướng tập trung vào những ngành có lợi thế cạnh tranh, nâng cao giá trị gia tăng (GTGT) cho sản phẩm nông nghiệp phục vụ xuất khẩu (XK).
Kim ngạch XK nông, lâm, thủy sản không ngừng tăng lên, một số mặt hàng đã có vị thế cao trên thị trường quốc tế, góp phần quan trọng trong việc giảm nhập siêu của cả nước, đem lại việc làm và thu nhập cho hàng triệu nông dân. Thái Bình là tỉnh có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển nông nghiệp (với diện tích đất tự nhiên là 158.630 ha, đất đai bằng phẳng, màu mỡ, nổi tiếng “bờ xôi ruộng mật”). Dân số toàn tỉnh là 1. Sau kháng chiến chống Pháp, sản xuất nông nghiệp của tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu, được cả nước biết đến là “quê hương năm tấn”.
Theo xu hướng chung của cả nước, Thái Bình đã thực hiện chuyển dịch CCKT theo hướng phát triển công nghiệp, dịch vụ nhưng chưa gặt hái được thành công như mong đợi. Số lượng khu, cụm công nghiệp của Thái Bình rất ít, quy mô nhỏ, không thu hút được các doanh nghiệp, tập đoàn sản xuất lớn, lĩnh vực dịch vụ cũng không đạt được kết quả cao (Cục thống kê tỉnh Thái Bình, 2019). Chính vì vậy, có thể khẳng định nông nghiệp đã, đang và sẽ là ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Thái Bình. Việc phát triển, chuyển dịch CCKT nông nghiệp để tương xứng với lợi thế của tỉnh đã được đặt ra.
Chính sách là biện pháp can thiệp của nhà nước vào một ngành, một lĩnh vực hay toàn bộ nền kinh tế theo những mục tiêu nhất định, với điều kiện thực hiện và trong một thời hạn xác định. Chính sách là một công cụ quản lý nhà nước. Do vậy, để chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng XK đồng thời bảo đảm các mục tiêu của phát triển bền vững (PTBV), nhà nước sử dụng công cụ chính sách là một tất yếu khách quan. Để thúc đẩy chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng XK, đồng thời bảo đảm các mục tiêu của PTBV, thời gian qua, tỉnh Thái Bình đã chú trọng triển khai thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời xây dựng các chính sách riêng của địa phương.
Năm 2015, Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Thái Bình đã phê duyệt “Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Thái Bình đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”. Do đó, ngành nông nghiệp tỉnh Thái Bình đã gặt hái được những thành tựu đáng khích lệ với tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân giai đoạn 2010 - 2020 đạt 4,05%/năm (Cục thống kê tỉnh Thái Bình, 2010- 2020), góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tuy nhiên, chính sách chuyển dịch CCKT nông nghiệp còn những hạn chế (chưa thúc đẩy chuyển dịch CCKT nông nghiệp như mục tiêu đề ra; đối tượng thụ hưởng chính sách đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn đúng nhưng chưa đủ; chính sách hỗ trợ nông nghiệp của tỉnh chưa sát với nhu cầu thực tế và hiệu quả thực hiện chưa cao; các chính sách tác động vào quá trình chuyển dịch CCKT nông nghiệp nhằm đạt được mục tiêu môi trường chưa được chú trọng…). Do đó, nông nghiệp tỉnh Thái Bình phát triển chưa xứng với tiềm năng, lợi thế và chưa đáp ứng các mục tiêu của PTBV: (i) chuyển dịch CCKT nông nghiệp diễn ra chậm so với chuyển dịch 3 cơ cấu kinh tế chung của Tỉnh; (ii) mô hình tăng trưởng thiên về chiều rộng với ưu thế về lao động giá rẻ và điều kiện tự nhiên thuận lợi; (iii) tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất cao nhưng không ổn định; (iv) quy mô sản xuất nhỏ, diện tích đất trang trại 2,19 ha/trang trại thấp hơn mức bình quân của cả nước; (v) 62,39% số lao động trong ngành nông nghiệp chưa qua đào tạo; (vi) tỷ lệ hộ có nguồn thu lớn nhất từ nông nghiệp chỉ chiếm 29,00% trong khi số hộ sản xuất nông nghiệp là 49,5%, tỷ lệ thu từ nông nghiệp thấp hơn so với cả nước (49%) (Cục thống kê tỉnh Thái bình, 2019); (vii) kim ngạch XK nông sản của tỉnh còn thấp, năm 2020 chỉ đạt 26,77 triệu USD (Sở công thương Thái Bình, 2020) đứng ở mức thấp so với mức bình quân (41 tỷ USD) của cả nước.
Việc chuyển dịch CCKT nông nghiệp của tỉnh Thái Bình thành công sẽ có sức lan toả và là bài học kinh nghiệm cho một số địa phương có điều kiện tương đồng như: Hà Nam, Nam Định, Hải Dương, Hưng Yên…. Chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng XK đồng thời bảo đảm các mục tiêu của PTBV đã trở thành xu hướng tất yếu đối với hầu hết các nền kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa, cạnh tranh quốc tế ngày càng khốc liệt. Tuy nhiên, nghiên cứu về mặt lý thuyết để tạo cơ sở lý luận cho việc phân tích, đánh giá chính sách chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng XK của một quốc gia hoặc một địa phương cấp tỉnh đồng thời bảo đảm các mục tiêu của PTBV thì chưa có nghiên cứu nào đề cập một cách trực diện. Bởi vậy, cần thiết phải hệ thống hóa và xây dựng một khung lý luận chung về chính sách chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng XK đồng thời bảo đảm các mục tiêu PTBV của một địa phương cấp tỉnh trên cơ sở nghiên cứu, phân tích kỹ những đặc thù của ngành, vùng và địa phương.
Việc xây dựng, hoàn thiện khung lý thuyết nhằm định hướng cho chính sách chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng XK bền vững của một quốc gia nói chung và địa phương cấp tỉnh nói riêng là cần thiết, nhất là đối với những địa phương có lợi thế phát triển nông nghiệp trong bối cảnh tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và biến đổi khí hậu đang diễn ra trên toàn cầu. Từ những lý do nêu trên, thời gian tới Thái Bình cần triển khai có hiệu quả các chính sách của Trung ương, bên cạnh đó rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành các chính sách của địa phương để thúc đẩy chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng XK đồng thời phải bảo đảm các mục tiêu của PTBV. Đó là lý do nghiên cứu sinh (NCS) lựa chọn đề tài “Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu bền vững của tỉnh Thái Bình” cho luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành quản lý kinh tế của mình, đề tài này có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan 2.
Các công trình nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Xuất phát từ sự cần thiết, yêu cầu cấp bách phải chuyển dịch CCKT nông nghiệp, đã có nhiều công trình trong và ngoài nước nghiên cứu liên quan đến chuyển dịch CCKT nông nghiệp. Trong đó nổi bật là một số công trình nghiên cứu sau đây: Chenery H. (1988), “Structural transformation” (Chuyển dịch cơ cấu) cho rằng mỗi quốc gia, địa phương cần lựa chọn cho mình một sự chuyển dịch CCKT nông nghiệp một cách có hiệu quả trên cơ sở khai thác tối đa mọi tiềm lực, lợi thế so sánh của từng Quốc gia, từng vùng, từng địa phương. Cùng quan điểm đó Julian M.
Alsoton và Philip G. Pardey (2014), “Agriculture in the Global Economy” (Nông nghiệp trong nền kinh tế toàn cầu) nhận định chuyển dịch CCKT nông nghiệp là tất yếu, có vai trò quan trọng góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và hài hòa các mục tiêu về xã hội. Zhang Hongzhou (2012), “China's Economic Restructuring: Role of Agriculture” (Tái cấu trúc kinh tế Trung Quốc: Vai trò của nông nghiệp) cho rằng quá trình chuyển dịch CCKT nông nghiệp cần: (i) Hình thành các trang trại quy mô lớn, tận dụng lợi thế về quy mô, lao động, vốn để sản xuất ra các sản phẩm chuyên sâu; (ii) Tận dụng lợi thế so sánh của từng vùng để chuyên môn hóa sản xuất nông nghiệp; (iii) Khuyến khích tự do hóa thương mại nội địa và vùng biên. Rostow, Walt W (1990), “The stages of economic growth: A non-communist manifesto” (Các giai đoạn phát triển kinh tế) đã chỉ ra quá trình chuyển dịch CCKT nói chung và CCKT nông nghiệp nói riêng trải qua 5 giai đoạn và mỗi giai đoạn sẽ tương ứng với một CCKT nhất định, nghiên cứu nhấn mạnh mỗi quốc gia, địa phương đều phải trải qua 5 giai đoạn mà không bỏ qua bất kỳ giai đoạn nào, qua mỗi giai đoạn CCKT sẽ chuyển dịch theo hướng tích cực, hiệu quả hơn.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Chính sách chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Thái Bình (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/kinh-te-nong-nghiep/kinh-te-nong-nghiep-7051/luan-an-tien-si-kinh-te-chinh-sach-chuyen-dich-co-cau-kinh-te-nong-nghiep-theo-huong-xuat-khau-ben-vung-cua-tinh-thai-binh
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Chính sách chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Thái Bình" nghiên cứu về vấn đề gì?
Tài liệu: Luận án tiến sĩ kinh tế chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu bền vững của tỉnh thái bình. Tải miễn phí tại TaiLieu.V
Luận án "Chính sách chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Thái Bình" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Chính sách chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Thái Bình" thuộc chuyên ngành Kinh tế. Danh mục: Kinh Tế Nông Nghiệp.
Luận án "Chính sách chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Thái Bình" có bao nhiêu trang?
Luận án "Chính sách chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Thái Bình" có 208 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Chính sách chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp Thái Bình" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.