Luận án tiến sĩ y học: Nghiên cứu gen K13 và đáp ứng Plasmodium falciparum với DHA-PPQ tại Việt Nam
Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học phân tử gen k13, đáp ứng Plasmodium falciparum với dihydroartemisinin-piperaquine tại vùng sốt rét lưu.
Luan An
Luận án
Số trang
171
Thời gian đọc
26 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Nghiên cứu đột biến gen K13 ở Plasmodium falciparum
- Số trang:
- 171 trang
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Nghiên cứu đột biến gen K13 ở Plasmodium falciparum
Ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum là tác nhân nguy hiểm hàng đầu gây tử vong ở người. Các đột biến gen K13 đóng vai trò then chốt trong cơ chế kháng thuốc của ký sinh trùng. Vùng PfKelch13 propeller giữ chức năng điều hòa phản ứng stress tế bào. Đột biến tại miền này làm giảm độ nhạy cảm đối với các dẫn chất artemisinin. Biến đổi di truyền khiến thời gian sạch ký sinh trùng trong máu kéo dài đáng kể. Việc giám sát dịch tễ học phân tử giúp theo dõi sự lan truyền của các chủng kháng. Nghiên cứu tập trung giải trình tự gen K13 từ các vùng lưu hành bệnh. Các địa bàn khảo sát gồm Bình Phước, Gia Lai, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Quảng Trị. Dữ liệu cung cấp cơ sở khoa học xác thực về mức độ biến đổi di truyền.
1.1. Đột biến gen K13 trên miền PfKelch13 propeller
Miền PfKelch13 propeller chứa các điểm đa hình nucleotide quan trọng liên quan đến tính kháng. Đột biến gen K13 tại vùng này là dấu ấn sinh học phân tử tiêu chuẩn được quốc tế công nhận. Chúng chỉ điểm tình trạng kháng artemisinin rõ nét trên lâm sàng. Ký sinh trùng mang đột biến có khả năng sống sót cao sau các đợt điều trị ban đầu. Sự xuất hiện của đột biến C580Y đánh dấu bước ngoặt lớn về dịch tễ học sốt rét. Đột biến này lưu hành phổ biến tại khu vực Tiểu vùng sông Mê Kông. Các biến thể khác như Y493H và R539T cũng được phát hiện rải rác. Kỹ thuật PCR và giải trình tự gen hỗ trợ nhận diện chuẩn xác các đột biến. Việc phát hiện sớm gen đột biến giúp ngăn ngừa nguy cơ bùng phát dịch.
1.2. Phân bố địa lý và biến đổi ký sinh trùng sốt rét
Ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum phân bố phức tạp theo từng vùng địa lý. Các khu vực ven biển Miền Trung, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ là những điểm nóng lưu hành. Tỷ lệ mang đột biến gen K13 có sự phân hóa rõ rệt giữa các tỉnh khảo sát. Bình Phước và Gia Lai ghi nhận tần suất đột biến ở mức cao. Ngược lại, Quảng Trị và Ninh Thuận duy trì tỷ lệ đột biến thấp hơn. Di biến động dân cư và điều kiện tự nhiên thúc đẩy sự phát tán của các chủng đột biến. Ký sinh trùng thích nghi nhanh chóng với áp lực chọn lọc của thuốc sốt rét. Phân tích không gian giúp khoanh vùng nguy cơ và tối ưu hóa nguồn lực phòng chống bệnh.
II. Thực trạng kháng artemisinin và thuốc phối hợp ACT
Thuốc phối hợp ACT là phác đồ hàng đầu điều trị ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum. Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo sử dụng ACT rộng rãi trên toàn cầu. Tuy nhiên, tình trạng kháng artemisinin đã xuất hiện từ năm 2008 tại Pailin, Campuchia. Tình trạng này nhanh chóng lan rộng sang Việt Nam, Lào, Thái Lan và Myanmar. Ký sinh trùng kháng thuốc làm chậm tốc độ đào thải ký sinh trùng trong máu bệnh nhân. Tỷ lệ bệnh nhân còn ký sinh trùng vào ngày D3 tăng cao liên tục. Hiện tượng này làm suy giảm đáng kể hiệu quả điều trị của các phác đồ chuẩn. Giám sát hiệu lực thuốc trở thành nhiệm vụ cấp bách tại các vùng dịch tễ trọng điểm.
2.1. Biểu hiện lâm sàng và kéo dài ngày D3 sau điều trị
Hiện tượng ký sinh trùng tồn lưu vào ngày D3 là dấu hiệu lâm sàng quan trọng cảnh báo thất bại. Tỷ lệ D3 dương tính phản ánh mức độ kháng artemisinin ngoài thực địa. Tại Bình Phước, tỷ lệ D3 tăng vọt từ mức thấp lên hơn 36%. Gia Lai và Khánh Hòa cũng ghi nhận tỷ lệ D3 lần lượt là 24,1% và 17,4%. Bệnh nhân sạch ký sinh trùng chậm hơn so với các giai đoạn điều trị trước đây. Thời gian đào thải ký sinh trùng kéo dài tạo cơ hội cho thể giao bào phát triển. Muỗi Anopheles hút máu và tiếp tục truyền chủng kháng sang cộng đồng. Thử nghiệm in vivo theo dõi sát diễn biến lâm sàng trong thời gian 28 hoặc 42 ngày.
2.2. Nguy cơ thất bại điều trị thuốc phối hợp ACT
Sự suy giảm nhạy cảm với artemisinin đe dọa nghiêm trọng tính bền vững của thuốc phối hợp ACT. Khi thành phần dẫn chất artemisinin giảm hiệu lực, thuốc đối tác phải gánh áp lực tiêu diệt ký sinh trùng. Thuốc đối tác tồn tại lâu trong máu nhưng dễ bị ký sinh trùng thích nghi và kháng lại. Tình trạng thất bại điều trị muộn xuất hiện ngày càng thường xuyên tại các điểm nóng. Tỷ lệ đáp ứng lâm sàng và ký sinh trùng đầy đủ (ACPR) có xu hướng giảm sút. Nguy cơ bùng phát các đợt sốt rét tái phát gia tăng tại vùng lưu hành. Các chương trình y tế cần theo dõi sát để kịp thời điều chỉnh phác đồ quốc gia.
III. Đánh giá hiệu lực dihydroartemisinin piperaquine
Thuốc phối hợp dihydroartemisinin piperaquine từng là lựa chọn ưu tiên hàng đầu tại Việt Nam. Giai đoạn 2005-2010, thuốc đạt tỷ lệ đáp ứng ACPR vượt trội từ 97,8% đến 100%. Hiệu lực lâm sàng cao giúp kiểm soát tốt các ca bệnh sốt rét nặng và giảm tỷ lệ tử vong. Tuy nhiên, áp lực sử dụng kéo dài dẫn đến sự suy giảm hiệu quả điều trị rõ rệt. Dihydroartemisinin piperaquine hiện đối mặt với tình trạng kháng kép trên cả hai thành phần hoạt chất. Nghiên cứu kết hợp thử nghiệm in vivo và in vitro để đánh giá mức độ kháng thuốc. Kết quả phân tích là cơ sở khoa học then chốt để chuyển đổi sang phác đồ thay thế.
3.1. Thử nghiệm in vivo đánh giá đáp ứng lâm sàng
Thử nghiệm in vivo theo dõi trực tiếp đáp ứng của bệnh nhân với dihydroartemisinin piperaquine. Quy trình đánh giá tuân thủ nghiêm ngặt theo các tiêu chuẩn kỹ thuật của WHO. Mật độ ký sinh trùng được kiểm tra định kỳ từ ngày D0 đến ngày D28 hoặc D42. Tỷ lệ điều trị thất bại sớm và thất bại muộn được ghi nhận chi tiết. Tại các điểm nóng dịch tễ, tỷ lệ sạch ký sinh trùng giảm sút rõ rệt so với giai đoạn trước. Dữ liệu in vivo phản ánh chính xác hiệu lực thực tế của thuốc trên cơ thể người bệnh. Phân tích kiểu gen giúp phân biệt chính xác giữa tái nhiễm chủng mới và tái phát chủng cũ.
3.2. Thử nghiệm in vitro đo độ nhạy cảm ký sinh trùng
Thử nghiệm in vitro đóng vai trò kiểm chứng độ nhạy cảm nội tại của ký sinh trùng sốt rét. Phương pháp này loại bỏ các yếu tố gây nhiễu như miễn dịch người bệnh hay khả năng hấp thu thuốc. Kỹ thuật nuôi cấy dòng ký sinh trùng phân lập từ thực địa tại Gia Lai cung cấp chỉ số IC50 chuẩn xác. Giá trị nồng độ ức chế IC50 tăng cao chứng minh ký sinh trùng đã kháng piperaquine. Thử nghiệm sống sót thể nhẫn (RSA) đo lường khả năng chống chịu đối với artemisinin. Sự kết hợp giữa in vivo và in vitro mang lại bức tranh toàn diện về dịch tễ học kháng thuốc.
IV. Dấu ấn sinh học phân tử giám sát sốt rét kháng thuốc
Dấu ấn sinh học phân tử là công cụ hiện đại hỗ trợ công tác giám sát dịch tễ sốt rét. Phân tích gen giúp phát hiện sớm các đột biến kháng thuốc trước khi bộc lộ thất bại lâm sàng. Kỹ thuật sinh học phân tử cung cấp kết quả nhanh, chính xác và có độ tin cậy cao. Các chỉ điểm di truyền định hướng kịp thời cho các can thiệp y tế dự phòng tại cộng đồng. Việc tích hợp dữ liệu phân tử vào hệ thống giám sát tăng cường khả năng kiểm soát bệnh. Nghiên cứu gen K13 mang lại hiểu biết sâu sắc về cấu trúc quần thể ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum tại Việt Nam.
4.1. Ứng dụng đột biến C580Y trong phát hiện kháng sớm
Đột biến C580Y là dấu ấn phân tử tiêu biểu nhất của tình trạng kháng artemisinin tại Đông Nam Á. Đột biến này làm thay đổi acid amin tại vị trí 580 trên chuỗi polypeptide của miền propeller. Ký sinh trùng mang alen 580Y có ưu thế sinh tồn vượt trội dưới áp lực của thuốc điều trị. Tỷ lệ đột biến C580Y tăng đồng biến với tỷ lệ thất bại điều trị thực tế trên lâm sàng. Xét nghiệm PCR đặc hiệu giúp sàng lọc hàng loạt mẫu máu bệnh nhân nhanh chóng và chính xác. Đây là chỉ số cảnh báo sớm nguy cơ mất tác dụng của các thuốc phối hợp ACT. Giám sát alen 580Y hỗ trợ ngăn chặn sự phát tán của dòng kháng thuốc.
4.2. Tích hợp chỉ điểm di truyền vào chính sách y tế
Chính sách phòng chống sốt rét cần dựa trên dữ liệu dấu ấn sinh học phân tử cập nhật liên tục. Bằng chứng di truyền từ các tỉnh nghiên cứu giúp định hình bản đồ kháng thuốc trên quy mô toàn quốc. Cơ quan quản lý dựa vào chỉ điểm phân tử để quyết định thay thế các phác đồ kém hiệu quả. Thuốc dihydroartemisinin piperaquine đã được thay đổi tại các vùng ghi nhận tỷ lệ đột biến cao. Sự phối hợp giữa nghiên cứu phân tử và thực tế lâm sàng bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Đầu tư vào công nghệ gen nâng cao năng lực giám sát và đẩy nhanh tiến độ loại trừ sốt rét.
V. Cơ chế kháng piperaquine và khuếch đại gen đa vùng
Hiện tượng kháng piperaquine xuất hiện đồng thời với kháng artemisinin tạo nên thách thức đa kháng phức tạp. Cơ chế kháng liên quan trực tiếp đến hiện tượng khuếch đại gen plasmepsin 2/3 ở ký sinh trùng. Sự nhân bản số lượng bản sao gen làm tăng sản xuất enzyme tiêu hóa hemoglobin trong không bào. Ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum nhờ đó vô hiệu hóa tác dụng ức chế của piperaquine. Ngoài ra, các đột biến trên gen pfcrt cũng tham gia vào cơ chế giảm nhạy cảm này. Hiểu rõ cơ chế phân tử giúp giải thích nguyên nhân thất bại điều trị dihydroartemisinin piperaquine tại các điểm nóng dịch tễ.
5.1. Khuếch đại gen plasmepsin 2 3 và tính kháng thuốc
Khuếch đại gen plasmepsin 2/3 là cơ chế di truyền chủ chốt dẫn đến tính kháng piperaquine của ký sinh trùng. Ký sinh trùng chứa nhiều bản sao gen plasmepsin 2/3 có khả năng sống sót trong nồng độ thuốc cao. Kỹ thuật định lượng Real-time PCR được ứng dụng để xác định số lượng bản sao gen chính xác. Sự kết hợp giữa đột biến gen K13 và khuếch đại plasmepsin 2/3 tạo ra dòng ký sinh trùng siêu kháng thuốc. Dòng ký sinh trùng này lan truyền nhanh và gây thất bại điều trị hàng loạt. Định lượng số bản sao gen là tiêu chí bắt buộc trong quy trình đánh giá mức độ kháng thuốc.
5.2. Giải pháp điều trị thay thế trước nguy cơ đa kháng
Trước tình trạng kháng piperaquine lan rộng, các phác đồ thay thế cần được đưa vào áp dụng khẩn cấp. Thuốc phối hợp ACT mới như artesunate-pyronaridine hoặc artemether-lumefantrine đem lại hiệu quả điều trị khả quan. Luân phiên sử dụng các phác đồ giúp giảm bớt áp lực chọn lọc lên quần thể ký sinh trùng. Việc điều trị trực tiếp có giám sát đảm bảo người bệnh tuân thủ đầy đủ liệu trình dùng thuốc. Kết hợp kiểm soát vector truyền bệnh bằng màn tẩm hóa chất và phun tồn lưu diệt muỗi Anopheles. Giám sát liên tục bộ gen ký sinh trùng giúp phát hiện sớm các đột biến kháng mới phát sinh.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (171 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộ1 ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh sốt rét là một bệnh truyền nhiễm, do ký sinh trùng Plasmodium spp. của ngƣời gây nên. Bệnh lây theo đƣờng máu, do muỗi Anopheles spp. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2021), trên toàn thế giới năm 2020 ƣớc tính có khoảng 241 triệu ca mắc sốt rét, 627.000 ngƣời tử vong.
Số mắc sốt rét tăng khoảng 14 triệu ca bệnh và tăng khoảng 69.000 ngƣời tử vong so với năm 2020, trong đó có khoảng 47.000 ngƣời chết liên quan đến việc bị gián đoạn cung cấp các biện pháp phòng chống, chẩn đoán, điều trị bệnh trong bối cảnh đại dịch Covid. Khu vực châu Phi chiếm 90% số ca mắc và tử vong sốt rét trên thế giới [107], [108]. Ở Việt Nam theo số liệu chƣơng trình phòng chống sốt rét năm 2015 cả nƣớc có 9331 bệnh nhân sốt rét trong đó tập chung chủ yếu ở ven biển Miền Trung, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ [28]. Một trong những khó khăn và là một trong những thách thức trong lộ trình loại trừ sốt rét là ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) đã kháng với hầu hết các thuốc đang dùng, ngoại trừ một số thuốc phối hợp có gốc artemisinin và dẫn chất [103].
Artemisinin và dẫn chất là thành phần quan trọng trong thuốc phối hợp (ACTs) để điều trị sốt rét Plasmodium falciparum (P. falciparum) kháng thuốc [28]. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã khuyến cáo sử dụng các loại thuốc ACTs tại nhiều nƣớc, kể cả Việt Nam [103]. Tuy nhiên, đến năm 2005, WHO đã ghi nhận P.
falciparum giảm nhạy với ACTs và đến cuối năm 2008 thì báo cáo P. falciparum biểu hiện kháng artemisinin tại tỉnh Pailin, Campuchia - nơi giáp biên giới với Thái Lan, từ đó lan rộng kháng ra 5 nƣớc thuộc Tiểu vùng sông Mê Kông (Lào, Thái Lan, Myanmar, Việt Nam) [103]. Ở Việt Nam thuốc phối hợp dihydroartemisinin- piperaquin (DHA-PPQ) đƣợc lựa trọn đƣa vào điều trị sốt rét do P. falciparum, giai đoạn từ 2005-2010 tỷ lệ đáp ứng lâm sàng đầy đủ (ACPR) từ 97,8% đến 100%, nhƣng sau đó thời gian cắt ký sinh trùng ngày càng kéo dài, ký sinh trùng ngày D3 đã tăng lên nhanh chóng, năm 2012 là 30,6%, 2 năm 2014 là 36% (Bình Phƣớc) [16], Gia Lai 24,1% (2015) [12], Khánh Hòa 17,4% D3 (2014) [17].
Gần đây, một số đột biến trong gen K13 đã đƣợc xác định nhƣ các chỉ điểm phân tử liên quan chặt chẽ kháng thuốc artemisinin của P. falciparum trong các nghiên cứu lâm sàng cũng nhƣ tại các chủng tại phòng thí nghiệm [40]. Việc kết hợp dữ liệu phân tích chỉ điểm phân tử đột biến gen K13 và hiệu lực thuốc dihydroartemisinin-piperaquin phosphate trên các bệnh nhân là cần thiết, góp phần đánh giá chính xác tình hình P. falciparum kháng thuốc tại các vùng sốt rét lƣu hành.
Ngoài thử nghiệm in vivo và tìm chỉ điểm phân tử, thử nghiệm in vitro đóng vai trò quan trọng giám sát nhạy-kháng trên các mẫu phân lập P. falciparum thu thập tại thực địa, giúp nhận định tình hình kháng chính xác và quan trọng trong thay đổi chính sách thuốc [40]. Với ý tƣởng kết hợp giữa phân tích các đột biến gen K13 và theo dõi hiệu quả điều trị của thuốc sốt rét dihydro artemisinin - piperaquin trên bệnh nhân là cần thiết, góp phần đánh giá chính xác hơn tình hình P. falciparum kháng artemisinin thuốc tại các vùng sốt rét lƣu hành.
Để đánh giá tình hình nhạy- kháng thuốc trên in vivo, in vitro và các chỉ điểm phân tử K13 liên quan kháng trên quần thể P. falciparum, đề tài luận án “Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ học phân tử gen K13 và đáp ứng của Plasmodium falciparum với dihydroartemisinin-piperaquin phosphat ở một số vùng sốt rét lƣu hành tại Việt Nam” đƣợc thực hiện nhằm các mục tiêu sau: Mục tiêu nghiên cứu: 1. Mô tả một số đặc điểm dịch tễ học phân tử đột biến gen K13 của Plasmodium falciparum tại 5 tỉnh Bình Phƣớc, Gia Lai, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Quảng Trị năm 2016 – 2018. Đánh giá đáp ứng của ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum với thuốc dihydroartemisinin - piperaquin phosphat tại các điểm nghiên cứu.
Đánh giá nhạy cảm của ký sinh trùng sốt rét Plasmodium falciparum với thuốc sốt rét bằng kỹ thuật in vitro tại Gia Lai. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình bệnh sốt rét trên thế giới và Việt Nam 1. Sốt rét và một số yếu tố liên quan dịch tễ bệnh sốt rét Sốt rét là một bệnh truyền nhiễm lan truyền qua đƣờng máu gây nên bởi ký sinh trùng Plasmodium spp.
thông qua muỗi Anopheles cái đốt qua da và truyền các thoa trùng ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) vào máu. Bệnh sốt rét tồn tại trong cộng đồng cần có 3 yếu tố: Tác nhân gây bệnh KSTSR, muỗi Anopheles spp. truyền và quần thể ngƣời trong cộng đồng. Ngoài ra, còn một số yếu tố khác ảnh hƣởng đến sự tồn tại và phát triển của bệnh nhƣ môi trƣờng, kinh tế, xã hội.
Trong đó, nguồn bệnh là bệnh nhân sốt rét (BNSR), ngƣời mang KSTSR lạnh hay không triệu chứng. Sốt rét lan truyền từ ngƣời này qua ngƣời khác nhờ trung gian truyền bệnh, đó là muỗi Anopheles spp., có nhiều loại muỗi Anopheles spp. nhƣng hiện nay có ít nhất 62 loài có khả năng truyền bệnh sốt rét ở các vùng trên thế giới [4]. Theo tổ chức Y tế thế giới (TCYTTG) hiện nay có ít nhất 5 loài Plasmodium spp.
gây bệnh cho ngƣời đƣợc ghi nhận, trong đó nghiêm trọng nhất là P. falciparum, số còn lại P. knowlesi có thể gây thể bệnh nhẹ hơn và thƣờng ít dẫn đến tử vong (WHO, 2009) [101]. Việt Nam, có 2 loài chủ yếu P.
falciparum chiếm 60-70% trong cơ cấu, thƣờng gây sốt rét nặng, đa biến chứng và tử vong. vivax chiếm 30-40%, gây sốt rét cách nhật, tái phát xa, loài P. ovale có tỷ lệ thấp, riêng P. knowlesi mới phát hiện vào năm 2008 [4].
Tại Việt Nam có 3 vector chính gồm An. epiroticus và một số vector phụ nhƣ An. Muỗi đốt ngƣời có KST thể giao bào, tiếp đó giao bào phát triển thành thoa trùng trong cơ thể muỗi, khi đó muỗi đốt ngƣời và thoa trùng sẽ từ tuyến nƣớc bọt của 4 muỗi qua ngƣời [4]. Cơ thể cảm thụ gồm ngƣời lành, chƣa có miễn dịch sốt rét hoặc đã có miễn dịch nhƣng đã giảm thấp.
Tình hình mắc sốt rét trên thế giới và Việt Nam Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, ƣớc tính năm 2019 có khoảng 229 triệu trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét ở 87 quốc gia có sốt rét lƣu hành, giảm 3,78% so với năm 2000 (229/238 triệu). Tỷ lệ mắc bệnh sốt rét trên 1.000 dân số nguy cơ giảm từ 80 (năm 2000) xuống 58 (năm 2015) và 57 (năm 2019). Từ năm 2000 đến năm 2015, tỷ lệ mắc bệnh sốt rét toàn cầu đã giảm 27,00% và từ năm 2015 đến năm 2019 số mắc giảm dƣới 2,00%, cho thấy tốc độ giảm đã chậm hơn sau năm 2015. Toàn cầu có 29 quốc gia có số mắc cao nhất chiếm 95,00%, trong đó có 5 quốc gia chiếm cao nhất nhƣ Nigeria (27,00%), Cộng hòa Congo (12,00%), Uganda (5,00%), Mozambique (4,00%) và Niger (3,00%) chiếm khoảng 51,00% tất cả các trƣờng hợp trên toàn cầu [107], [108].
Tại Khu vực Châu Phi ƣớc tính có khoảng 215 triệu trƣờng hợp bệnh sốt rét năm 2019 chiếm khoảng 94,00%; Mặc dù năm 2019 có số mắc thấp hơn so với năm 2000 (204 triệu) và tỷ lệ mắc bệnh sốt rét giảm từ 363 (năm 2000) xuống 225 trƣờng hợp (năm 2019) trên 1000 dân số nguy cơ; Tuy nhiên sự phức tạp về thay đổi lây truyền bệnh một cách nhanh chóng đó chính là sự gia tăng dân số. Dân số sống ở Khu vực Châu Phi tăng từ khoảng 665 triệu năm 2000 lên 1,1 tỷ ngƣời trong năm 2019 [107], [108]. Ở Khu vực Đông Nam Á có số mắc sốt rét chiếm khoảng 3,00% gánh nặng trên toàn cầu. Số trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét giảm 73,00%, từ 23 triệu năm 2000 xuống còn khoảng 6,3 triệu năm 2019.
Tỷ lệ mắc bệnh ở khu vực này giảm 78,00%, từ khoảng 18 trƣờng hợp trên 1000 dân số chung năm 2000 còn 4 trƣờng hợp trong năm 2019 [107]. Ấn Độ đóng góp mức giảm tuyệt đối lớn từ 20 triệu trƣờng hợp năm 2000 xuống còn 5,6 triệu trƣờng hợp năm 2019. Sri Lanka đƣợc chứng nhận không có bệnh sốt rét trong năm 2015 và Timor-Leste báo cáo không có sốt rét trong năm 2018 và 2019 [107], [108]. 5 Các trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét ở Khu vực Đông Địa Trung Hải giảm 26,00%, từ khoảng 7 triệu ngƣời năm 2000 xuống còn 5 triệu trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét năm 2019.
Khoảng một phần tƣ số trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét năm 2019 là P.vivax, chủ yếu ở Afghanistan và Pakistan. Trong giai đoạn 2000 - 2019, tỷ lệ mắc bệnh sốt rét ở Khu vực Đông Địa Trung Hải giảm từ 20 xuống 10 trên 1.000 dân số nguy cơ. Sudan là nƣớc đóng góp hàng đầu cho bệnh sốt rét ở khu vực này, chiếm khoảng 46,00% trƣờng hợp. Quốc gia Iran không có sốt rét nội địa trong năm 2018 và 2019.
Khu vực Tây Thái Bình Dƣơng ƣớc tính có khoảng 1,7 triệu trƣờng hợp vào năm 2019, giảm 43,00% (1,7/3 triệu trƣờng hợp) so với năm 2000. Trong cùng kỳ, tỷ lệ mắc bệnh sốt rét giảm từ 5 xuống còn 2 trƣờng hợp trên 1000 dân số chung. Quốc gia Papua New Guinea chiếm gần 80% tổng số các trƣờng hợp bệnh ở khu vực này vào năm 2019. Trung Quốc không có trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét nội địa từ năm 2017.
Malaysia đã không có trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét trong năm 2018 và 2019 [108]. Tại Khu vực Châu Mỹ, số trƣờng hợp mắc bệnh sốt rét giảm 40,00% (từ 1,5 triệu xuống 0,9 triệu) và tỷ lệ mắc bệnh giảm 57,00% (từ 14 xuống 6). Tiến bộ của khu vực trong những năm gần đây đã bị sự gia tăng số mắc sốt rét ở Venezuela, nơi có khoảng 35.500 trƣờng hợp (năm 2000) tăng lên hơn 467. Brazil, Colombia và Venezuela chiếm hơn 86,00% tổng số mắc sốt rét ở khu vực này [107].
Việt Nam năm 2016 cả nƣớc có 4.161 bệnh nhân sốt rét , năm 2017 có 4.548 bệnh nhân, năm 2018 có 4813 bênh nhân và năm 2019 có 4.665 bệnh nhân đến năm 2020 số bệnh nhân mắc sốt rét giảm mạnh chỉ còn 1. Tỷ lệ cơ cấu ký sinh trùng P. falciparum tại tỉnh Bình Phƣớc năm 2016 có 715 trƣờng hợp chiếm 64,41%, tỉnh Khánh Hòa năm 2016 có 294 trƣờng hợp bệnh nhân P. tỉnh Gia Lai năm 2016 có 269 trƣờng hợp P.
falciparum chiếm 67,27%, tỉnh Ninh Thuận có 252 bệnh nhân P. falciparum chiếm 79,52%, tỉnh Quảng Trị có 46 bệnh nhân P. 6 Quảng trị Gia Lai Khánh Hòa Bình phƣớc Ninh Thuận Hình 1. Phân bố ký sinh trùng sốt rét năm 2016 tại Việt Nam 1.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Nghiên cứu gen K13 và hiệu quả DHA-PPQ ở Plasmodium falciparum (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/y-te-cong-cong/dich-te-hoc/k13-va-dap-ung-cua-plasmodium-falciparum-voi-dihydroartemisinin-piperaquin
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Nghiên cứu gen K13 và hiệu quả DHA-PPQ ở Plasmodium falciparum" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu đặc điểm dịch tễ học phân tử gen k13, đáp ứng Plasmodium falciparum với dihydroartemisinin-piperaquine tại vùng sốt rét lưu.
Luận án "Nghiên cứu gen K13 và hiệu quả DHA-PPQ ở Plasmodium falciparum" có bao nhiêu trang?
Luận án "Nghiên cứu gen K13 và hiệu quả DHA-PPQ ở Plasmodium falciparum" có 171 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Nghiên cứu gen K13 và hiệu quả DHA-PPQ ở Plasmodium falciparum" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.