Luận án tiến sĩ: Yếu tố ảnh hưởng chức năng thất trái & huyết động BN lọc màng bụng

Tài liệu: Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến chức năng thất trái và các thông số huyết động ở bệnh nhân lọc màng bụng liên tục ngoại trú luận án tiến sĩ. Tả

Chuyên ngành
Y học
Tác giả

Luan An

Thể loại

Nghiên cứu

Số trang

158

Thời gian đọc

24 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt nội dung

I.Bệnh thận mạn Tổng quan điều trị thay thế

Bệnh thận mạn giai đoạn cuối (BTMGĐC) là thách thức sức khỏe toàn cầu. Hàng triệu người mắc bệnh thận mạn (BTM) trên thế giới, nhiều trường hợp tiến triển đến BTMGĐC. Điều trị thay thế thận suy bao gồm ghép thận, thận nhân tạo và lọc màng bụng. Số lượng bệnh nhân cần điều trị dự kiến tăng gấp đôi vào năm 2020. Dù có tiến bộ trong lọc máu, tỷ lệ tử vong vẫn cao, gấp 20-30 lần dân số chung. Biến chứng tim mạch là nguyên nhân tử vong hàng đầu, chiếm 43-52%. Các yếu tố nguy cơ tim mạch truyền thống như tăng huyết áp và đái tháo đường đóng vai trò quan trọng. Nhu cầu nghiên cứu sâu về các biến chứng này trên bệnh nhân lọc màng bụng là cấp thiết.

1.1. Bệnh thận mạn Tình hình toàn cầu và tiến triển

Bệnh thận mạn (BTM) ảnh hưởng đến 9-13% dân số thế giới. Con số này cho thấy mức độ phổ biến của bệnh. Hầu hết bệnh nhân BTM sẽ tiến triển đến giai đoạn cuối (BTMGĐC). Lúc này, điều trị thay thế thận là bắt buộc. Dự báo cho thấy gánh nặng bệnh tật tiếp tục gia tăng. Mỗi bệnh nhân điều trị thay thế đại diện cho 100 người mắc BTM trong cộng đồng. Tỷ lệ tử vong ở nhóm bệnh nhân này đặc biệt cao, đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt.

1.2. Các phương pháp điều trị thay thế thận suy

Ghép thận, thận nhân tạo chu kỳ, và lọc màng bụng là các lựa chọn điều trị thay thế thận suy. Thận nhân tạo từng là phương pháp chính tại Việt Nam. Từ đầu những năm 2000, lọc màng bụng liên tục ngoại trú (LMB) phát triển mạnh. Phương pháp này ngày càng phổ biến, giúp nhiều bệnh nhân kéo dài tuổi thọ. Sự gia tăng số bệnh nhân LMB cần được chú ý, đặc biệt về các biến chứng liên quan.

II.Lọc màng bụng Tầm quan trọng và biến chứng

Lọc màng bụng (LMB) trở thành một lựa chọn điều trị thay thế thận suy quan trọng. Phương pháp này giúp nhiều bệnh nhân cải thiện chất lượng cuộc sống và tăng cơ hội kéo dài tuổi thọ. Tuy nhiên, bệnh nhân LMB vẫn đối mặt với nhiều biến chứng nghiêm trọng. Các biến chứng này bao gồm thiếu máu, nhiễm trùng, cường cận giáp thứ phát, và suy dinh dưỡng. Đáng chú ý, biến chứng tim mạch chiếm tỷ lệ tử vong cao nhất. Khoảng 11% bệnh nhân LMB tử vong mỗi năm. Gần 50% các trường hợp tử vong này do bệnh tim mạch. Rối loạn thất trái là nguyên nhân chính gây tử vong do tim mạch. Các nghiên cứu cần tập trung vào các biến đổi chức năng tim mạch ở bệnh nhân LMB.

2.1. Lọc màng bụng Lựa chọn phổ biến tại Việt Nam

Lọc màng bụng (LMB) đã trở nên phổ biến ở Việt Nam. Khoảng 1700 bệnh nhân được điều trị bằng LMB vào năm 2014. Bệnh viện Bạch Mai có khoảng 250 bệnh nhân. Phương pháp này cung cấp giải pháp hiệu quả cho nhiều người. Nó giúp kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối. Sự tiện lợi của LMB tại nhà là một ưu điểm, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.

2.2. Biến chứng thường gặp ở bệnh nhân lọc màng bụng

Bệnh nhân lọc màng bụng (LMB) phải đối mặt với nhiều biến chứng. Rối loạn lipid máu và tăng huyết áp là phổ biến. Rối loạn chuyển hóa canxi-phospho cũng thường xảy ra. Suy dinh dưỡng là một vấn đề đáng quan tâm. Biến chứng tim mạch là nguyên nhân tử vong hàng đầu. Chức năng thất trái bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Cần nghiên cứu sâu hơn về các biến chứng này để cải thiện điều trị và tiên lượng.

III.Chức năng thất trái huyết động BN lọc màng bụng

Chức năng thất trái và các thông số huyết động ở bệnh nhân lọc màng bụng (LMB) là vấn đề ít được nghiên cứu chuyên sâu tại Việt Nam. Tuy nhiên, các nghiên cứu quốc tế chỉ ra rằng rối loạn chức năng thất trái là nguyên nhân chính gây tử vong tim mạch ở nhóm bệnh nhân này. Tương tự như bệnh nhân thận nhân tạo, bệnh nhân LMB có tỷ lệ tử vong do tim mạch rất cao. Việc tìm hiểu sự biến đổi chức năng thất trái và huyết động là cần thiết. Các yếu tố ảnh hưởng đến tình trạng này cần được xác định rõ. Nghiên cứu sâu giúp cải thiện tiên lượng cho bệnh nhân, giảm gánh nặng bệnh tật và tăng chất lượng sống.

3.1. Rối loạn chức năng thất trái Nguyên nhân tử vong hàng đầu

Khoảng 50% tử vong ở bệnh nhân lọc màng bụng (LMB) là do bệnh tim mạch. Trong đó, rối loạn thất trái chiếm phần lớn. Đây là một vấn đề nghiêm trọng, đòi hỏi sự chú ý đặc biệt đến chức năng thất trái. Sự suy giảm chức năng thất trái ảnh hưởng trực tiếp đến tuổi thọ bệnh nhân. Nâng cao nhận thức về nguy cơ này và có biện pháp can thiệp sớm là cần thiết để cải thiện kết quả điều trị.

3.2. Nghiên cứu chức năng thất trái và huyết động

Nghiên cứu về chức năng thất trái và huyết động ở bệnh nhân lọc màng bụng (LMB) còn hạn chế, đặc biệt tại Việt Nam. Sử dụng siêu âm Doppler tim là phương pháp hiệu quả để đánh giá các rối loạn chức năng tim. Cần tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến chức năng thất trái và huyết động. Mục tiêu là cải thiện quản lý và điều trị bệnh nhân. Việc theo dõi định kỳ các thông số này là quan trọng để phát hiện sớm và can thiệp kịp thời.

IV.Yếu tố ảnh hưởng chức năng thất trái trên BN lọc màng bụng

Nhiều yếu tố tác động đến chức năng thất trái và huyết động ở bệnh nhân lọc màng bụng (LMB). Các yếu tố nguy cơ tim mạch truyền thống đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, các biến chứng đặc thù của bệnh thận mạn giai đoạn cuối cũng góp phần. Tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu là những yếu tố truyền thống cần kiểm soát chặt chẽ. Thiếu máu, cường cận giáp thứ phát, và suy dinh dưỡng là biến chứng thận mạn. Chúng ảnh hưởng tiêu cực đến hệ tim mạch, làm suy giảm chức năng thất trái. Hiểu rõ các yếu tố này giúp xây dựng chiến lược điều trị hiệu quả, giảm tỷ lệ tử vong và cải thiện chất lượng sống cho bệnh nhân.

4.1. Các yếu tố nguy cơ tim mạch truyền thống

Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ chính gây biến chứng tim mạch. Đái tháo đường cũng đóng góp vào bệnh tim mạch ở bệnh nhân lọc màng bụng. Rối loạn lipid máu làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch và ảnh hưởng xấu đến chức năng thất trái. Các yếu tố này cần được quản lý chặt chẽ thông qua thuốc và thay đổi lối sống. Việc kiểm soát tốt giúp bảo vệ chức năng tim và kéo dài tuổi thọ bệnh nhân.

4.2. Biến chứng thận mạn tác động lên tim mạch

Thiếu máu gây gánh nặng cho tim, làm tăng công cơ tim. Cường cận giáp thứ phát ảnh hưởng đến chuyển hóa xương và trực tiếp lên cơ tim. Suy dinh dưỡng làm suy yếu cơ tim và giảm khả năng phục hồi. Ứ đọng các sản phẩm chuyển hóa độc hại gây tổn thương mạch máu và tim. Rối loạn cân bằng nước, điện giải cũng có hại. Rối loạn hormon như renin và erythropoietin cũng tác động tiêu cực, góp phần vào suy giảm chức năng thất trái và biến chứng huyết động.

V.Hiểu rõ suy thận giai đoạn cuối và bệnh lý

Bệnh thận mạn (BTM) và suy thận giai đoạn cuối là tình trạng nghiêm trọng, đòi hỏi sự hiểu biết sâu sắc. Việc hiểu rõ định nghĩa, phân loại và cơ chế bệnh sinh là cực kỳ quan trọng để quản lý hiệu quả. BTM được chẩn đoán dựa trên tổn thương thận kéo dài hoặc mức lọc cầu thận (MLCT) giảm. Khi MLCT xuống dưới 15ml/phút, bệnh nhân được chẩn đoán suy thận giai đoạn cuối. Lúc này, điều trị thay thế thận là bắt buộc để duy trì sự sống. Cơ chế bệnh sinh liên quan đến sự mất dần các nephron chức năng. Điều này dẫn đến các hậu quả đa dạng trên toàn cơ thể, bao gồm cả hệ tim mạch.

5.1. Định nghĩa bệnh thận mạn và suy thận giai đoạn cuối

Bệnh thận mạn (BTM) được xác định khi có tổn thương thận kéo dài 3 tháng. Hoặc mức lọc cầu thận (MLCT) dưới 60ml/phút trong ít nhất 3 tháng. Phân loại theo KDOQI dựa vào MLCT. Giai đoạn 5 là suy thận giai đoạn cuối, khi MLCT dưới 15ml/phút. Điều trị thay thế là chỉ định bắt buộc ở giai đoạn này để duy trì sự sống và chức năng cơ thể.

5.2. Cơ chế bệnh sinh và hậu quả suy giảm chức năng thận

Cơ chế bệnh sinh BTM dựa trên thuyết nephron nguyên vẹn. Các nephron bị tổn thương sẽ mất chức năng dần. Số lượng nephron chức năng giảm dần theo thời gian. Khi giảm 75%, các triệu chứng suy thận mạn bắt đầu xuất hiện. Hậu quả bao gồm ứ đọng sản phẩm chuyển hóa độc hại. Rối loạn cân bằng nước, điện giải cũng xảy ra nghiêm trọng. Rối loạn bài tiết hormon như renin, erythropoietin, dihydroxy cholecalciferol là phổ biến. Điều này dẫn đến tăng huyết áp, thiếu máu, cường cận giáp, ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe tổng thể.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến chức năng thất trái và các thông số huyết động ở bệnh nhân lọc màng bụng liên tục ngoại trú luận án tiến sĩ

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (158 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

1 ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh thận mạn giai đoạn cuối (BTMGĐC) là vấn đề sức khỏe toàn cầu. Nhiều nghiên cứu tại Mỹ, châu Âu, châu Á cho thấy có khoảng 9-13% dân số thế giới mắc bệnh thận mạn (BTM). Hầu hết những bệnh nhân này (BN) sớm hay muộn cũng tiến triển đến BTMGĐC và cần phải điều trị thay thế bằng ghép thận hoặc lọc máu (thận nhân tạo và lọc màng bụng) [1]. Hiện nay, trên thế giới có khoảng 1,5 triệu người mắc BTMGĐC đang được điều trị thay thế bằng một trong những biện pháp trên và ước đoán con số này sẽ tăng lên gấp đôi vào năm 2020.

Người ta dự báo rằng, cứ mỗi một BN được điều trị thay thế thì có tới 100 người mắc BTM ở các giai đoạn đang sinh sống trong cộng đồng [2]. Mặc dù các biện pháp lọc máu đã có nhiều tiến bộ vượt bậc nhưng tỷ lệ tử vong ở nhóm BN này vẫn cao hơn gấp 20 – 30 lần so với nhóm dân số chung cùng giới, lứa tuổi và chủng tộc [3]. Những BN điều trị thay thế thận suy có nhiều biến chứng đa dạng như thiếu máu, nhiễm trùng, cường cận giáp thứ phát, suy dinh dưỡng. trong đó biến chứng tim mạch là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu, chiếm 43 - 52 % các trường hợp [4], [5].

Bên cạnh một số yếu tố nguy cơ tim mạch truyền thống như tăng huyết áp (THA), tăng cholesterol, đái tháo đường (ĐTĐ). Tại Việt Nam, từ lâu hầu hết các bệnh nhân BTMGĐC được điều trị thay thế đều lựa chọn phương pháp thận nhân tạo (TNT) chu kỳ và một số ít hơn 2 được ghép thận. Đến đầu những năm 2000, phương pháp lọc màng bụng liên tục ngoại trú (gọi tắt là lọc màng bụng - LMB) được triển khai áp dụng để điều trị thay thế thận suy tại một số bệnh viện lớn. Hiện nay phương pháp điều trị này ngày càng phổ biến với gần 1700 BN (2014) (trong đó khoa Thận Bệnh viện Bạch mai có khoảng 250 BN), nhờ đó nhiều BN có cơ hội được kéo dài tuổi thọ.

Đã có một số đề tài nghiên cứu về biến chứng trên nhóm BN này như rối loạn lipid máu, THA, rối loạn chuyển hóa canxi – phospho, suy dinh dưỡng.nhưng chưa có nghiên cứu nào thực sự đi sâu tìm hiểu về biến chứng tim mạch trên nhóm BN này. Trong khi đó, một số nghiên cứu trên thế giới cho thấy, tương tự như BN thận nhân tạo, BN lọc màng bụng cũng có tỷ lệ tử vong rất cao với khoảng 11% tử vong mỗi năm, trong đó xấp xỉ 50% là do bệnh tim mạch và chủ yếu là các rối loạn thất trái (TT) [8]. Vậy thì chức năng thất trái cũng như các thông số huyết động biến đổi ra sao, những yếu tố nào ảnh hưởng đến tình trạng này trên bệnh nhân LMB, vấn đề này thực sự còn được ít tác giả trong nước đề cập đến. Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến chức năng thất trái và các thông số huyết động ở bệnh nhân lọc màng bụng liên tục ngoại trú”, nhằm 2 mục tiêu: 1.

Nghiên cứu các rối loạn chức năng thất trái và các thông số huyết động ở bệnh nhân lọc màng bụng liên tục ngoại trú bằng phương pháp siêu âm Doppler tim và một số yếu tố ảnh hưởng đến các rối loạn này. Tìm hiểu sự thay đổi chức năng thất trái và các thông số huyết động ở một số bệnh nhân sau 1 năm lọc màng bụng liên tục ngoại trú. 3 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. BỆNH THẬN MẠN VÀ SUY THẬN GIAI ĐOẠN CUỐI 1.

Định nghĩa bệnh thận mạn và suy thận mạn giai đoạn cuối [9]. Bệnh nhân được chẩn đoán là mắc BTM khi: hoặc là có tổn thương thận ≥ 3 tháng, hoặc là có mức lọc cầu thận (MLCT) < 60ml/p/1,73m2 kéo dài ≥ 3 tháng có kèm theo hoặc không kèm theo tổn thương thận. Phân loại bệnh thận mạn dựa vào mức lọc cầu thận theo KDOQI [9] Giai MLCT Định nghĩa đoạn (ml/phút/1,73m2) MLCT bình thường hoặc tăng 1 Hồng cầu niệu, microalbumin niệu, protein >90 niệu Thay đổi trên hình ảnh hoặc mô bệnh học Các triệu chứng trên 2 89-60 Giảm chức năng thận 3 Suy thận vừa 59-30 4 Suy thận nặng 29-15 5 Suy thận giai đoạn cuối-cần điều trị thay thế <15 Khi BTM tiến triển đến giai đoạn 5 (MLCT < 15ml/phút), BN được chẩn đoán là suy thận giai đoạn cuối và có chỉ định điều trị thay thế thận suy. Cơ chế bệnh sinh của bệnh thận mạn và suy thận mạn tính Cơ chế sinh bệnh của BTM được giải thích dựa trên cơ sở lý luận của thuyết Neprhron nguyên vẹn [10], [11].

Dù cho tổn thương khởi phát ở cầu thận, hệ mạch thận, hay ở tổ chức ống kẽ thận thì các nephron bị thương tổn 4 nặng cũng sẽ bị loại trừ khỏi vai trò chức năng sinh lý. Không thể có nephron “không cầu” hoặc “không ống” tham gia vào chức năng thận. Vì vậy, chức năng của thận chỉ được đảm nhiệm bởi các nephron nguyên vẹn còn lại. Không may là, số lượng các nephron này tiếp tục bị giảm dần do tiến triển của bệnh.

Khi số lượng nephron chức năng giảm 75% thì MLCT giảm 50% so với mức bình thường và làm xuất hiện các triệu chứng của suy thận mạn. Suy thận mạn tiến triển nhanh hay chậm phụ thuộc vào nguyên nhân, các đợt tiến triển nặng lên của bệnh và chế độ điều trị. Thận có các chức năng điều hòa nội môi và chức năng nội tiết. Khi chức năng thận suy giảm, sẽ gây ra các hậu quả sau: - Ứ đọng các sản phẩm của quá trình chuyển hóa.

- Rối loạn cân bằng nước, điện giải. - Rối loạn bài tiết hormon: renin (gây THA), erythropoietin (gây thiếu máu), dihydroxy cholecalciferol (gây cường cận giáp, loãng xương). Điều trị bệnh thận mạn Mục tiêu của điều trị suy thận mạn: - Đầu tiên: làm dừng lại hoặc làm chậm tốc độ giảm MLCT. - Sau đó: ngăn chặn sự phá hủy thận gây ra bởi những biến cố thêm vào.

- Cuối cùng: duy trì tình trạng dinh dưỡng và ngăn chặn hoặc hạn chế biến chứng của suy thận mạn và hội chứng ure máu cao. Giảm protein niệu bằng thuốc ức chế hệ renin-angiotensin Bất cứ thuốc nào làm giảm protein niệu cũng có tác dụng bảo vệ chức năng thận. Thuốc ức chế hệ renin-angiotensin (ức chế men chuyển hoặc chẹn thụ thể AT1 của angiotensin) có tác dụng bảo vệ thận tốt hơn các thuốc hạ áp khác ở cùng một mức độ hạ áp do làm giảm protein niệu nhiều hơn. Rein [12] và cộng sự (CS) nhận thấy Ramiprin dược dung nạp tốt thậm chí ở BN có chức năng thận giảm nặng.

Kiểm soát huyết áp chăt chẽ Những nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng tình trạng giảm huyết áp (HA) tâm thu (t.thu) / tâm trương (t.trương) <130/80 mmHg có thể làm chậm tiến triển của suy thận. Trong nghiên cứu Modification of Diet in Renal Disease MDRD [13], những BN có HA thấp hơn HA mục tiêu có tốc độ giảm MLCT chậm hơn những BN có mức HA theo quy ước. Tác dụng này còn thể hiện rõ hơn ở những BN có protein niệu cao hơn, gợi ý mục tiêu HA là 125/75 mmHg (trung bình 92) hoặc thấp hơn nữa khi BN có protein niệu >1g/24h. Chế độ ăn giảm protein Hiệu quả có lợi của chế độ ăn giảm protein trong các thử nghiệm lâm sàng cho đến nay vẫn chưa được sáng tỏ.

Tuy nhiên, nên tránh chế độ ăn protein > 1g / kg / ngày và các protein có giá trị sinh học cao ở BN có protein niệu cao kéo dài dai dẳng và có suy thận mạn [9]. Điều trị tăng lipid máu Tăng lipid máu thường gặp ở BN suy thận mạn, đặc biệt ở những người có hội chứng thận hư. Mặc dù một số nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng tăng mỡ máu có thể làm tăng tốc độ tổn thương cầu thận do làm tăng tình trạng xơ vữa hệ thống mạch thận thì mục tiêu cơ bản của điều trị tăng lipid máu hiện nay ở BN suy thận mạn thực sự vẫn là ngăn chặn bệnh xơ vữa mạch máu [9]. Điều trị thiếu máu: Thiếu máu là rất phổ biến ở BN suy thận mạn và là yếu tố tiên lượng cho biến chứng tim mạch, nguy cơ nhập viện và tử vong ở nhóm BN này.

Nên điều trị thiếu máu cho BN suy thận mạn bằng Erythropoietin người tổng hợp nhằm duy trì mức Hemoglobin ≥ 110g / lít [14]. Các mục tiêu khác Bên cạnh việc làm chậm sự tiến triển của bệnh thận khởi đầu, cần kiểm 6 soát các yếu tố khác để bệnh nhân khỏi bị nguy cơ suy giảm chức năng thận do những tổn thương thận thêm vào như tình trạng thiếu dịch, THA ác tính, nhiễm trùng hoặc tắc nghẽn đường tiết niệu, ngộ độc thuốc, đường máu cao, rối loạn mỡ máu. Chỉ định điều trị thay thế thận suy Hầu hết BN mắc BTM tiến triển đến BTMGĐC và cần điều trị thay thế bằng lọc máu hoặc ghép thận. Việc xác định sớm những BN cần điều trị thay thế là quan trọng, bởi vì việc chuẩn bị chu đáo có thể giảm tỷ lệ bệnh tật và cũng cho phép BN và gia đình chuẩn bị tâm lý tốt.

Chỉ định điều trị thay thế thận suy khi MLCT < 15ml/phút. Việc lựa chọn biện pháp điều trị thay thế nào: lọc máu (TNT hoặc LMB) hoặc ghép thận dựa vào các tiêu chí như nguyên nhân gây bệnh, các bệnh đi kèm, tình trạng tim mạch, điều kiện kinh tế xã hội. LỌC MÀNG BỤNG LIÊN TỤC NGOẠI TRÚ 1. Đại cương về lọc màng bụng Lọc màng bụng là phương pháp lọc máu có sử dụng màng bụng của chính người bệnh như một màng lọc bán thấm để đào thải một số sản phẩm của quá trình chuyển hóa các chất, trong đó có ure, creatinin và một số chất điện giải ra ngoài cơ thể.

Kể từ năm 1976, LMB trong đó chủ yếu là lọc màng bụng liên tục ngoại trú đã trở thành phương thức lọc máu hiệu quả, chiếm 10-15% tổng số lọc máu và là phương pháp lọc máu tại nhà chủ yếu trên toàn cầu [15]. Nguyên tắc của lọc màng bụng Lọc màng bụng là sự trao đổi chất giữa máu của mao mạch màng bụng và dịch lọc trong khoang màng bụng, sự trao đổi này diễn ra qua màng bụng. Các chất tan chuyển động theo các quy luật vật lý: khuếch tán và đối lưu; trong khi nước chuyển động dựa vào chênh lệch áp lực thẩm thấu – được tạo ra bởi các chất thẩm thấu trong dịch lọc. Chỉ định, chống chỉ định của lọc màng bụng 1.

Chỉ định - Suy thận: Suy thận cấp tính và suy thận mạn tính giai đoạn cuối. - Không suy thận: suy tim ứ dịch.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Yếu tố ảnh hưởng chức năng thất trái & huyết động BN lọc màng bụng" nghiên cứu về vấn đề gì?

Tài liệu: Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến chức năng thất trái và các thông số huyết động ở bệnh nhân lọc màng bụng liên tục ngoại trú luận án tiến sĩ. Tả

Luận án "Yếu tố ảnh hưởng chức năng thất trái & huyết động BN lọc màng bụng" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Yếu tố ảnh hưởng chức năng thất trái & huyết động BN lọc màng bụng" thuộc chuyên ngành Y học. Danh mục: Y Học Lâm Sàng.

Luận án "Yếu tố ảnh hưởng chức năng thất trái & huyết động BN lọc màng bụng" có bao nhiêu trang?

Luận án "Yếu tố ảnh hưởng chức năng thất trái & huyết động BN lọc màng bụng" có 158 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Yếu tố ảnh hưởng chức năng thất trái & huyết động BN lọc màng bụng" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter