Luận án: Lâm sàng, điện sinh lý thần kinh, điều trị CTS vô căn ở người lớn
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, điện sinh lý thần kinh và điều trị hội chứng ống cổ tay vô căn ở người trưởng thành.
Số trang
177
Thời gian đọc
27 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Mục lục chi tiết
Tóm tắt nội dung
I.Tìm hiểu về Hội chứng ống cổ tay vô căn Thực trạng và thách thức
Hội chứng ống cổ tay là bệnh lý chèn ép dây thần kinh giữa. Đây là một trong những bệnh thần kinh ngoại vi phổ biến nhất. Tỷ lệ hiện mắc ở Hoa Kỳ đang tăng. Từ 1-5% dân số mắc bệnh hàng năm. Phần lớn các trường hợp là hội chứng ống cổ tay vô căn. Bệnh gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng.
1.1. Thực trạng và mức độ phổ biến của CTS
Hội chứng ống cổ tay (CTS) có tỷ lệ mắc cao. Ước tính từ 1% đến 5% dân số Hoa Kỳ mắc bệnh mỗi năm. Xu hướng này đang gia tăng theo thời gian. Đa số các trường hợp CTS được xếp vào loại vô căn. Điều này có nghĩa là không xác định được nguyên nhân cụ thể. CTS gây ảnh hưởng lớn đến sức khỏe cộng đồng.
1.2. Hậu quả và tác động của Hội chứng ống cổ tay
Chèn ép dây thần kinh giữa dẫn đến nhiều triệu chứng. Đau, tê, và giảm cảm giác ở bàn tay là phổ biến. Nặng hơn, có thể xuất hiện teo cơ. Chức năng vận động của bàn tay bị suy giảm. Nếu không điều trị kịp thời, tổn thương có thể vĩnh viễn. Thiệt hại kinh tế từ chi phí điều trị và mất sức lao động rất đáng kể. Phát hiện sớm và điều trị hiệu quả là cần thiết.
II.Chẩn đoán Hội chứng ống cổ tay Vai trò điện sinh lý
Chẩn đoán hội chứng ống cổ tay dựa vào lâm sàng. Điện sinh lý thần kinh là phương pháp xác định chính xác. Phương pháp này giúp đánh giá mức độ tổn thương của dây thần kinh giữa. Các kỹ thuật điện chẩn đoán cung cấp thông tin khách quan.
2.1. Đánh giá lâm sàng và triệu chứng đặc trưng CTS
Các triệu chứng lâm sàng là cơ sở ban đầu để chẩn đoán. Bệnh nhân thường có biểu hiện tê, dị cảm ở ngón cái, trỏ, giữa và nửa ngón áp út. Đau có thể lan lên cẳng tay. Yếu cơ ở vùng ô mô cái có thể xuất hiện. Cảm giác da ô mô cái thường không bị ảnh hưởng. Các nghiệm pháp lâm sàng như Phalen và Tinel cũng hỗ trợ.
2.2. Điện chẩn đoán xác định và phân loại mức độ tổn thương
Điện sinh lý thần kinh là tiêu chuẩn vàng. Đo dẫn truyền thần kinh đánh giá tốc độ và biên độ. Điện cơ đồ giúp phát hiện tổn thương cơ. Các kết quả này xác nhận chẩn đoán hội chứng ống cổ tay. Đồng thời, chúng phân loại mức độ nặng của tổn thương dây thần kinh giữa. Điều này định hướng cho chiến lược điều trị phù hợp.
III.Điều trị Hội chứng ống cổ tay Từ bảo tồn đến phẫu thuật
Điều trị hội chứng ống cổ tay có hai hướng chính. Đó là điều trị nội khoa và phẫu thuật. Lựa chọn phương pháp phụ thuộc vào mức độ bệnh. Tình trạng lâm sàng và kết quả điện sinh lý quyết định.
3.1. Các phương pháp điều trị bảo tồn CTS hiệu quả
Điều trị bảo tồn áp dụng cho các trường hợp nhẹ và trung bình. Nẹp cổ tay được sử dụng để giữ cổ tay ở vị trí trung lập. Điều này giảm áp lực lên dây thần kinh giữa. Tiêm corticosteroid vào ống cổ tay cũng là một lựa chọn. Corticosteroid giúp giảm viêm và phù nề. Vật lý trị liệu và thay đổi thói quen làm việc cũng hỗ trợ.
3.2. Chỉ định và kỹ thuật phẫu thuật giải phóng ống cổ tay
Phẫu thuật giải phóng ống cổ tay được chỉ định khi điều trị bảo tồn thất bại. Phẫu thuật cũng dành cho các trường hợp nặng. Mục tiêu là cắt dây chằng ngang cổ tay. Việc này giúp giảm áp lực chèn ép dây thần kinh giữa. Kỹ thuật này thường mang lại hiệu quả cao. Phục hồi chức năng sau phẫu thuật là cần thiết.
IV.Nghiên cứu toàn diện CTS Lâm sàng điện sinh lý hiệu quả điều trị
Các nghiên cứu trước đây thường tập trung vào một khía cạnh. Một nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng mới đang được tiến hành. Nghiên cứu này đánh giá toàn diện. Nó bao gồm đặc điểm lâm sàng, điện sinh lý và điều trị.
4.1. Mục tiêu và phạm vi của nghiên cứu lâm sàng mới
Nghiên cứu này nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị. Nó tập trung vào đặc điểm lâm sàng của hội chứng ống cổ tay vô căn. Điện sinh lý của dây thần kinh giữa cũng được đánh giá. Mối liên quan giữa lâm sàng và điện sinh lý được phân tích.
4.2. Đánh giá đa chiều và so sánh hiệu quả các phương pháp điều trị
Một mục tiêu quan trọng là đánh giá hiệu quả điều trị. Các phương pháp điều trị hội chứng ống cổ tay khác nhau được so sánh. Điều này giúp xác định phác đồ tối ưu. Nghiên cứu góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
V.Giải phẫu dây thần kinh giữa và cấu trúc ống cổ tay
Ống cổ tay là một cấu trúc giải phẫu phức tạp. Nó chứa dây thần kinh giữa và nhiều gân cơ. Sự chật hẹp của ống cổ tay dễ gây chèn ép. Cấu tạo giải phẫu là yếu tố quan trọng trong sinh bệnh học.
5.1. Cấu tạo chi tiết ống cổ tay và các thành phần liên quan
Ống cổ tay được giới hạn bởi dây chằng ngang cổ tay ở phía trên. Phía dưới và hai bên là các xương cổ tay. Bên trong ống cổ tay, dây thần kinh giữa đi cùng với chín gân cơ gấp. Các gân cơ này bao gồm bốn gân gấp ngón nông, bốn gân gấp ngón sâu, và gân gấp ngón cái dài. Cấu trúc bó chặt này dễ làm tăng áp lực.
5.2. Chức năng và đường đi của dây thần kinh giữa qua cổ tay
Dây thần kinh giữa xuất phát từ đám rối thần kinh cánh tay. Nó đi qua cánh tay và cẳng tay trước khi vào ống cổ tay. Trước khi vào ống, dây thần kinh giữa tách ra nhánh cảm giác da gan bàn tay. Tại bàn tay, dây giữa chi phối cảm giác ngón cái, trỏ, giữa và một phần ngón nhẫn. Về vận động, nó điều khiển các cơ giun 1-2 và một số cơ ô mô cái.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (177 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộ1 ĐẶT VẤN ĐỀ Hội chứng ống cổ tay là bệnh lý của dây thần kinh giữa bị chèn ép trong ống cổ tay, đây là hội chứng hay gặp nhất trong các bệnh lý chèn ép dây thần kinh ngoại vi. Ở Hoa Kỳ tỷ lệ hiện mắc hàng năm của hội chứng ống cổ tay vào khoảng 1 - 5% dân số và có xu hướng tăng dần, từ 258/100.000 người trong những năm 1981 - 1985 tăng lên tới 424/100.000 người vào những năm 2000 - 2005 [1]. Phần lớn hội chứng ống cổ tay là nguyên phát hay còn gọi là hội chứng ống cổ tay vô căn (Idiopathic Carpal Tunnel Syndrome). Hậu quả của việc chèn ép dây thần kinh giữa là gây ra đau, tê, giảm hoặc mất cảm giác vùng da bàn tay thuộc chi phối của dây thần kinh này, nặng hơn nữa có thể dẫn đến teo cơ, làm giảm chức năng vận động của bàn tay.
Nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời bệnh có thể khỏi hoàn toàn, ngược lại nếu để muộn sẽ làm giảm khả năng phục hồi của dây thần kinh, để lại tổn thương và di chứng kéo dài ảnh hưởng rất nhiều đến sinh hoạt và công việc, gây thiệt hại đáng kể cho bản thân và gia đình người bệnh cũng như cho xã hội. Cũng theo thống kê ở Hoa Kỳ năm 1998, thiệt hại về kinh tế bao gồm chi phí cho điều trị và thời gian phải nghỉ việc trung bình của mỗi bệnh nhân mắc hội chứng ống cổ tay ước tính vào khoảng 30. Với sự phát triển của Y học cùng các kỹ thuật thăm dò cận lâm sàng hiện đại đã giúp cho các thầy thuốc tìm hiểu rõ hơn về cơ chế bệnh sinh, nguyên nhân gây bệnh cũng như đạt được những tiến bộ đáng kể trong chẩn đoán và điều trị hội chứng ống cổ tay. Chẩn đoán hội chứng ống cổ tay hiện nay vẫn chủ yếu dựa vào các triệu chứng lâm sàng và được xác định bằng phương pháp thăm dò điện sinh lý của dây thần kinh giữa.
Điều trị hội chứng ống cổ tay bao gồm hai phương pháp chính: điều trị nội khoa và phẫu thuật giải phóng chèn ép dây thần kinh giữa. Việc điều trị hội chứng này phụ thuộc 2 vào mức độ nặng của bệnh trên lâm sàng cũng như mức độ tổn thương của dây thần kinh giữa trên điện sinh lý thần kinh. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây hội chứng ống cổ tay ngày càng được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu nhiều hơn. Tuy nhiên các công trình nghiên cứu thường chỉ tập trung vào một khía cạnh của hội chứng ống cổ tay như nghiên cứu về lâm sàng, cận lâm sàng hoặc là nghiên cứu về phương pháp điều trị hội chứng này.
Chưa có nghiên cứu nào đánh giá được một cách toàn diện về cả lâm sàng, điện sinh lý và điều trị hội chứng ống cổ tay cũng như chưa có tác giả nào tiến hành nghiên cứu so sánh hiệu quả của các phương pháp điều trị với nhau. Chính vì vậy với mục đích nhằm nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị hội chứng ống cổ tay, qua đó góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống cho người bệnh chúng tôi đã tiến hành đề tài “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, điện sinh lý thần kinh và điều trị hội chứng ống cổ tay vô căn ở người trưởng thành”. Mục tiêu nghiên cứu: 1. Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và điện sinh lý của dây thần kinh giữa trong hội chứng ống cổ tay vô căn ở người trưởng thành.
Nghiên cứu mối liên quan giữa lâm sàng với điện sinh lý của dây thần kinh giữa trong hội chứng ống cổ tay vô căn ở người trưởng thành. Đánh giá hiệu quả của một số phương pháp điều trị hội chứng ống cổ tay vô căn ở người trưởng thành. 3 Chương 1 TỔNG QUAN 1. GIẢI PHẪU DÂY THẦN KINH GIỮA VÀ ỐNG CỔ TAY Dây thần kinh giữa được tạo nên bởi bó ngoài và bó trong của đám rối thần kinh cánh tay (từ rễ cổ C5 đến rễ ngực D1).
Dây giữa đi từ hõm nách xuống đến cánh tay, cẳng tay và chui qua ống cổ tay tới bàn tay. Ống cổ tay được cấu tạo bởi dây chằng ngang cổ tay (transverse carpal ligament) nằm ở bên trên, các xương cổ tay phía dưới và hai bên. + Phía trên hay trần của ống cổ tay là dây chằng ngang cổ tay, dây chằng này bắt đầu từ củ của xương thang và xương thuyền, chạy ngang cổ tay đến bám vào móc của xương đậu và xương móc. Dây chằng ngang ống cổ tay có chiều dài trung bình khoảng từ 26mm đến 34mm [3].
+ Phía ngoài ống cổ tay là xương thuyền và xương thang. + Phía trong ống cổ tay là xương đậu và móc xương móc. + Phía dưới hay sàn của ống cổ tay là các xương cổ tay. Trong ống cổ tay dây thần kinh giữa đi cùng với chín gân cơ bao gồm bốn gân cơ gấp các ngón nông, bốn gân cơ gấp các ngón sâu và gân cơ gấp ngón cái dài, gân cơ này nằm phía sau ngoài dây giữa và sát với thành phía bên xương quay của ống cổ tay [3].
Chính do cấu tạo giải phẫu được bao bọc xung quanh chủ yếu bởi các gân cơ, dây chằng và xương nên dây thần kinh giữa rất dễ bị tổn thương khi có những nguyên nhân làm tăng áp lực trong ống cổ tay (hình 1.1: Hình giải phẫu cắt ngang qua ống cổ tay [4] Ở cổ tay, dây thần kinh giữa tách ra nhánh cảm giác da gan bàn tay trước khi chui vào ống cổ tay, nhánh này chi phối cảm giác cho da vùng ô mô cái. Ở bàn tay dây giữa chia ra các nhánh vận động và cảm giác. + Cảm giác: Chi phối vùng da của ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa và nửa ngón nhẫn. Trong hội chứng ống cổ tay bệnh nhân thường có rối loạn cảm giác theo chi phối này nhưng không ảnh hưởng đến cảm giác da vùng ô mô cái.
+ Vận động ở bàn tay: Chi phối các cơ giun thứ nhất và thứ hai, cơ đối chiếu ngón cái, cơ dạng ngắn ngón cái. Khi tổn thương có thể thấy các dấu hiệu khó dạng ngón cái kèm theo teo cơ ô mô cái. Một số trường hợp nhánh vận động lại tách ra khỏi dây giữa ngay trong ống cổ tay và chạy xuyên qua dây chằng ngang cổ tay nên rất dễ bị tổn thương trong khi phẫu thuật cắt dây chằng ngang cổ tay để giải phóng dây thần kinh giữa [5]. CƠ CHẾ BỆNH SINH CỦA HỘI CHỨNG ỐNG CỔ TAY 1.
Tăng áp lực trong ống cổ tay Tăng áp lực trong ống cổ tay đóng vai trò rất quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của hội chứng ống cổ tay. Bình thường áp lực trong ống cổ tay dao động từ 2 đến 10 mmHg [6]. Khi thay đổi tư thế của cổ tay như gấp ngửa quá mức hoặc khi có lực tác động từ bên ngoài vào sẽ làm tăng áp lực bên trong ống cổ tay gây chèn ép vào dây thần kinh giữa và dẫn đến tổn thương dây thần kinh này. Áp lực tác động đến dây thần kinh giữa trong ống cổ tay bao gồm áp lực thủy tĩnh của nội dịch và của các thành phần mô xung quanh, áp lực thủy tĩnh có thể tăng dần theo thời gian do các bao hoạt dịch bị dầy lên trong khi đó thì thể tích của khoang ống cổ tay lại không thay đổi [7].
Áp lực trong ống cổ tay cũng thay đổi tuỳ theo vị trí của cổ tay, ngửa cổ tay tối đa làm tăng áp lực lên 10 lần còn gấp cổ tay làm tăng áp lực lên khoảng 8 lần [8],[9]. Các cơ xung quanh ống cổ tay cũng có vai trò nhất định trong việc làm tăng áp lực trong ống cổ tay và gây chèn ép lên dây thần kinh giữa. Một số trường hợp khi các cơ giun bám thấp gần với dây chằng ngang cổ tay bị phì đại do sự vận động liên tục của các ngón tay cũng có thể làm tăng áp lực trong ống cổ tay [10]. Cơ gan tay dài được các tác giả cho là một yếu tố nguy cơ đối với sự hình thành hội chứng ống cổ tay, khi gân cơ này hoạt động sẽ làm tăng áp lực trong ống cổ tay nhiều hơn bất cứ gân cơ nào khác.
Hơn thế nữa cơ này bám vào mạc gan bàn tay phủ lên trên ống cổ tay nên có thể ép vào ống cổ tay và dẫn đến hội chứng ống cổ tay [11]. Tổn thương dây thần kinh giữa trong hội chứng ống cổ tay Trong các nghiên cứu thực nghiệm trên động vật thì với áp lực 30mmHg trên dây thần kinh trong vòng 2 giờ đã bắt đầu gây ra tổn thương dây thần kinh và làm thay đổi cấu trúc của mô tế bào thần kinh kéo dài ít nhất 6 một tháng. Một loạt các biến đổi xảy ra khi dây thần kinh bị chèn ép như phù trong bó sợi thần kinh, thoái hóa mất myelin, các phản ứng viêm, thoái hóa sợi trục và dầy các màng của bó sợi thần kinh. Mức độ thoái hóa của sợi trục thường tương quan với mức độ phù nề trong bó sợi thần kinh.
Ở người, tăng áp lực trong ống cổ tay có thể gây ra tổn thương thoái hoá mất myelin của dây thần kinh giữa. Tổn thương mất myelin này lúc đầu có thể xuất hiện ở một số điểm, về sau có thể lan rộng ra toàn bộ cả đoạn dẫn đến hiện tượng nghẽn dẫn truyền thần kinh [6]. Khi dây thần kinh bị chèn ép kéo dài sẽ làm giảm tưới máu của hệ thống mao mạch xung quanh bó sợi thần kinh, gây nên tình trạng thiếu máu cục bộ và rối loạn chuyển hoá trong dây thần kinh, kèm theo có sự thâm nhập của các tế bào viêm và protein qua hàng rào máu – thần kinh sẽ dẫn đến phù trong bó sợi thần kinh, hậu quả cuối cùng là gây ra thoái hóa mất myelin, viêm sợi thần kinh và thoái hoá sợi trục [6]. Sự dầy dính của dây thần kinh giữa trong hội chứng ống cổ tay Bình thường dây thần kinh giữa vẫn chuyển động trong ống cổ tay, có thể trượt lên trên tới 9,6mm khi gấp cổ tay và kém hơn một chút khi ngửa cổ tay [12].
Sự chuyển động của dây giữa phụ thuộc vào các màng bao xung quanh dây thần kinh, giúp cho nó tránh khỏi tổn thương do bị kéo căng quá mức trong các vận động của khớp cổ tay. Trong các trường hợp bị chèn ép lâu ngày sẽ dẫn đến tình trạng xơ hoá làm hạn chế sự chuyển động của dây thần kinh giữa trong ống cổ tay, gây nên những tổn thương cho bao dây thần kinh, tạo ra các sẹo và làm cho dây thần kinh giữa bị dính vào tổ chức xung quanh.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Nghiên cứu lâm sàng, điện sinh lý, điều trị CTS vô căn" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, điện sinh lý thần kinh và điều trị hội chứng ống cổ tay vô căn ở người trưởng thành.
Luận án "Nghiên cứu lâm sàng, điện sinh lý, điều trị CTS vô căn" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Nghiên cứu lâm sàng, điện sinh lý, điều trị CTS vô căn" thuộc chuyên ngành Y học. Danh mục: Y Học Lâm Sàng.
Luận án "Nghiên cứu lâm sàng, điện sinh lý, điều trị CTS vô căn" có bao nhiêu trang?
Luận án "Nghiên cứu lâm sàng, điện sinh lý, điều trị CTS vô căn" có 177 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Nghiên cứu lâm sàng, điện sinh lý, điều trị CTS vô căn" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.