Luận án tiến sĩ nghiên cứu tác nhân đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng và kết quả đi
Luận án tiến sĩ nghiên cứu tác nhân và đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng bệnh lý
Số trang
155
Thời gian đọc
24 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Mục lục chi tiết
Tóm tắt nội dung
I.
Viêm phổi là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi. Tình hình này đặc biệt nghiêm trọng ở các nước đang phát triển. Dịch HIV đã làm tăng đáng kể tần suất, mức độ nặng và tỷ lệ tử vong do viêm phổi ở trẻ. Việc hiểu rõ gánh nặng bệnh tật là cần thiết để đưa ra các biện pháp can thiệp hiệu quả. Các số liệu thống kê cho thấy sự khác biệt rõ rệt về nguy cơ và tiên lượng giữa trẻ nhiễm HIV và không nhiễm HIV.
1.1. Gánh nặng viêm phổi ở trẻ dưới 5 tuổi.
Mỗi năm, khoảng 4 triệu trẻ em trên thế giới tử vong vì viêm phổi. Hầu hết các ca tử vong xảy ra ở khu vực miền nam sa mạc Sahara, theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới. Trước kỷ nguyên điều trị ARV, viêm phổi do vi khuẩn khá thường gặp ở trẻ nhiễm HIV. Nhờ áp dụng điều trị ARV, tỷ lệ viêm phổi ở trẻ nhiễm HIV đã giảm, tương tự như trẻ không nhiễm HIV. Tuy nhiên, trẻ em nhiễm HIV vẫn có nguy cơ tử vong do viêm phổi cao gấp 40 lần so với các trẻ khác.
1.2. Tỷ lệ tử vong viêm phổi ở trẻ nhiễm HIV.
Khoảng 2 triệu trẻ dưới 5 tuổi tử vong mỗi năm do viêm phổi tại những nước có tỷ lệ mắc HIV cao. Ở Nam Phi, khoảng 50% trẻ nhập viện vì viêm phổi nhiễm HIV. Tỷ lệ tử vong do viêm phổi trên trẻ nhiễm HIV tại bệnh viện là 7%, so với 1,5% ở trẻ không nhiễm HIV. Chỉ có 54% trẻ viêm phổi/HIV đáp ứng tốt với điều trị, trong khi tỷ lệ này ở trẻ không nhiễm HIV là 80%. Tại Châu Phi, trẻ nhiễm HIV nhập viện vì viêm phổi nặng chiếm 55-65%, với tỷ lệ tử vong tới 20-34%, cao gấp 3-6 lần so với trẻ không nhiễm HIV.
1.3. Viêm phổi mạn tính và tái diễn ở trẻ HIV.
Trẻ mắc bệnh phổi mãn tính dễ có nhiều đợt viêm phổi cấp tính. Tỷ lệ mắc bệnh viêm đường hô hấp dưới cấp tính ở trẻ nhiễm HIV kèm theo viêm phổi kẽ mạn tính cao hơn ở trẻ không nhiễm HIV tới 10 lần. Viêm phổi tái diễn là một vấn đề đáng lo ngại. Việc quản lý và phòng ngừa các đợt cấp tính là cực kỳ quan trọng đối với nhóm trẻ này. Nâng cao nhận thức về tình trạng bệnh lý mãn tính giúp cải thiện chất lượng sống.
II.
Xác định được nguyên nhân gây viêm phổi góp phần rất quan trọng trong điều trị và phòng bệnh. Điều này đặc biệt đúng đối với trẻ nhiễm HIV/AIDS có hệ miễn dịch suy yếu. Nhiễm khuẩn gặp ở tất cả các hệ cơ quan, tuy nhiên viêm phổi là phổ biến nhất. Thực trạng chẩn đoán tác nhân gây bệnh còn gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi sự đầu tư về trang thiết bị và nghiên cứu.
2.1. Vi khuẩn phổ biến gây viêm phổi ở trẻ HIV.
Viêm phổi chiếm 67% tổng số nhiễm trùng ở trẻ nhiễm HIV. Trong số các tác nhân, phế cầu và tụ cầu vàng là vi khuẩn Gram dương hay gặp nhất. Klebsiella pneumoniae là vi khuẩn Gram âm thường xuyên được tìm thấy. Nghiên cứu tại Thái Lan cho thấy trong số bệnh nhân HIV/AIDS trẻ em nhập viện, 69% có viêm phổi. Trong số đó, 22% là viêm phổi tái diễn, nhấn mạnh tính dai dẳng của bệnh lý.
2.2. Khó khăn trong chẩn đoán tác nhân viêm phổi.
Ở hầu hết các cơ sở y tế, ngay cả tại các bệnh viện tuyến trung ương, còn nhiều khó khăn về máy móc và trang thiết bị để chẩn đoán nguyên nhân. Chi phí xét nghiệm còn cao, gây trở ngại cho việc tiếp cận dịch vụ. Các nghiên cứu về nguyên nhân và điều trị viêm phổi/HIV còn ít và chưa đầy đủ. Điều này dẫn đến việc chẩn đoán nguyên nhân viêm phổi/HIV gặp nhiều khó khăn, thường phải dựa vào kinh nghiệm lâm sàng.
2.3. Vai trò của X quang và lâm sàng trong chẩn đoán.
Chẩn đoán nguyên nhân viêm phổi/HIV hiện chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng. Dấu hiệu X-quang phổi cũng là một yếu tố quan trọng hỗ trợ chẩn đoán. Mặc dù vậy, phương pháp này chưa thể xác định chính xác tác nhân gây bệnh. Do đó, việc nghiên cứu nguyên nhân và kết quả điều trị viêm phổi/HIV ở trẻ em là rất cần thiết, nhằm nâng cao hiệu quả chẩn đoán.
III.
Đại dịch HIV/AIDS hiện là mối quan tâm của toàn nhân loại. Dịch bệnh này tác động nghiêm trọng đến mọi khía cạnh của đời sống xã hội. Nó ảnh hưởng tới kinh tế, chính trị, văn hóa của mọi quốc gia. Tình hình đại dịch HIV/AIDS trên thế giới vẫn đang diễn biến rất phức tạp, đòi hỏi nỗ lực chung từ cộng đồng quốc tế.
3.1. Thống kê toàn cầu về người nhiễm HIV AIDS.
Ước tính có 35,3 triệu (32,2 - 38,8 triệu) người sống chung với HIV. Có 2,1 triệu người lớn và 240.000 trẻ em nhiễm mới HIV năm 2013. Số lượng người chết vì AIDS là 1,6 triệu (1,4 - 1,9 triệu) người. 12,9 triệu người đang được điều trị ARV, chiếm 37% (35 - 39%) tổng số người nhiễm HIV. Tuy nhiên, mới chỉ có 24% (22 - 26%) trẻ em nhiễm HIV được điều trị để kéo dài cuộc sống. Theo ước tính của UNAIDS, trung bình mỗi ngày thế giới có thêm khoảng 7.000 người nhiễm HIV mới.
3.2. Sự dịch chuyển của dịch HIV AIDS trên thế giới.
Năm 2006, thế giới có khoảng 39,5 - 42 triệu người nhiễm HIV/AIDS. Trong đó, người lớn là 37,2 triệu, phụ nữ là 17,7 triệu người và trẻ em dưới 15 tuổi là 2,3 triệu người. HIV đang phát triển mạnh ở các nước đang phát triển. Dịch đang hoành hành ở Châu Phi, khoảng 30% dân số Châu Phi bị nhiễm HIV/AIDS. Tuy nhiên, dịch đang có xu hướng chuyển dịch mạnh về Châu Á, gây ra những thách thức mới cho khu vực này.
3.3. Tình hình HIV AIDS tại khu vực Châu Á.
Tới năm 2007, khoảng 9 triệu người Châu Á đã nhiễm HIV kể từ khi HIV xuất hiện trong khu vực. Gần 2,6 triệu nam giới, 950.000 nữ giới và 330.000 trẻ em đã chết vì AIDS. Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia là các nước có số người nhiễm HIV tăng mạnh. Tới năm 2008, Trung Quốc đã có trên 1,5 triệu người nhiễm HIV. Tình hình này đòi hỏi các quốc gia Châu Á phải tăng cường các biện pháp phòng chống dịch.
IV.
Tại Việt Nam, HIV/AIDS là một vấn đề sức khỏe cộng đồng nghiêm trọng. Tình trạng này có ảnh hưởng sâu sắc đến tỷ lệ mắc và mức độ nặng của viêm phổi ở trẻ em. Các bệnh viện tuyến trung ương đã ghi nhận tỷ lệ cao trẻ nhiễm HIV nhập viện vì viêm phổi. Điều này nhấn mạnh nhu cầu cấp thiết về nghiên cứu và cải thiện công tác chẩn đoán, điều trị.
4.1. Thống kê viêm phổi HIV tại bệnh viện tuyến trung ương.
Tại Bệnh viện Nhi Đồng 1, 73% bệnh nhân HIV/AIDS nhập viện vì viêm phổi. Tại Bệnh viện Nhi Đồng 2, tỷ lệ viêm phổi/HIV/AIDS được ghi nhận là 70,9%. Bệnh viện Nhi Trung ương cũng cho thấy hầu hết trẻ nhiễm HIV/AIDS nhập viện điều trị vì nhiễm trùng cơ hội nặng, trong đó 70% là viêm phổi. Những số liệu này cho thấy viêm phổi là biến chứng phổ biến nhất ở trẻ nhiễm HIV tại các cơ sở y tế lớn.
4.2. Tỷ lệ tử vong và thách thức điều trị ở Việt Nam.
Tỷ lệ tử vong do viêm phổi trên trẻ nhiễm HIV/AIDS tại Bệnh viện Nhi Trung ương lên tới 15%. Điều này cho thấy mức độ nghiêm trọng của bệnh và thách thức trong điều trị. Hiện nay, phần lớn trẻ nhiễm HIV ở nước ta sống tại cộng đồng và ở trại trẻ mồ côi. Đa số trẻ đến khám và theo dõi tại cơ sở y tế vì các bệnh nhiễm trùng cơ hội, mà hay gặp nhất là viêm phổi. Điều kiện sống và tiếp cận y tế là những yếu tố cần được quan tâm.
4.3. Nhu cầu nghiên cứu về viêm phổi trẻ HIV tại Việt Nam.
Nghiên cứu về nguyên nhân và kết quả điều trị viêm phổi/HIV ở trẻ em là rất cần thiết tại Việt Nam. Thực trạng ở hầu hết các cơ sở y tế còn nhiều khó khăn về máy móc, trang thiết bị. Chi phí xét nghiệm còn cao. Các nghiên cứu về nguyên nhân và điều trị viêm phổi/HIV còn ít và chưa đầy đủ. Do đó, việc chẩn đoán nguyên nhân viêm phổi/HIV gặp nhiều khó khăn, chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng và dấu hiệu X-quang. Cần có thêm các nghiên cứu toàn diện hơn.
V.
Nghiên cứu này được tiến hành nhằm giải quyết những khoảng trống kiến thức hiện có về viêm phổi ở trẻ em nhiễm HIV. Các mục tiêu cụ thể được đặt ra để cung cấp dữ liệu khoa học. Mục tiêu nhằm hỗ trợ công tác chẩn đoán, điều trị và phòng ngừa. Việc xác định các yếu tố ảnh hưởng sẽ cải thiện kết cục lâm sàng cho bệnh nhân.
5.1. Xác định tác nhân gây bệnh viêm phổi ở trẻ HIV.
Mục tiêu đầu tiên của nghiên cứu là xác định các tác nhân gây viêm phổi. Tập trung vào trẻ nhiễm HIV/AIDS đang điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương. Việc xác định chính xác căn nguyên giúp lựa chọn phác đồ điều trị kháng sinh phù hợp. Điều này giảm thiểu tình trạng kháng thuốc và cải thiện hiệu quả điều trị.
5.2. Mô tả đặc điểm lâm sàng X quang và miễn dịch.
Nghiên cứu mô tả chi tiết đặc điểm lâm sàng của viêm phổi ở trẻ HIV. Đồng thời, đánh giá hình ảnh X-quang phổi và mức độ suy giảm miễn dịch theo từng căn nguyên thường gặp. Thông tin này cung cấp cái nhìn toàn diện về biểu hiện bệnh. Nó giúp các bác sĩ lâm sàng nhận diện sớm và phân loại mức độ nặng của bệnh dựa trên các chỉ số cận lâm sàng.
5.3. Nghiên cứu yếu tố liên quan đến tử vong.
Mục tiêu quan trọng khác là nghiên cứu các yếu tố liên quan đến tử vong do viêm phổi ở trẻ nhiễm HIV/AIDS. Việc xác định các yếu tố nguy cơ này cho phép xây dựng các chiến lược can thiệp sớm. Nó cải thiện quản lý bệnh nhân và giảm thiểu tỷ lệ tử vong. Thông tin này cũng đóng góp vào việc phát triển các hướng dẫn điều trị hiệu quả hơn.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (155 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộ1 ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm phổi là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển, đặc biệt dịch HIV đã làm tăng tần suất, mức độ nặng và tử vong ở trẻ em bị viêm phổi [1],[2]. Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới, mỗi năm thế giới có khoảng 4 triệu trẻ em chết vì viêm phổi, hầu hết là ở các nước đang phát triển tại khu vực miền nam sa mạc Sahara [3]. Thời kỳ trước khi có điều trị ARV, ở trẻ HIV viêm phổi do vi khuẩn khá thường gặp, nhờ áp dụng điều trị ARV, tỷ lệ viêm phổi ở trẻ HIV giảm xuống còn tương tự như trẻ không nhiễm HIV [4]. Tuy nhiên, trẻ em nhiễm HIV có nguy cơ tử vong vì bệnh viêm phổi cao gấp 40 lần các em khác [5].
Khoảng 2 triệu TE dưới 5 tuổi tử vong vì viêm phổi mỗi năm ở những nước có tỷ lệ mắc HIV cao và khoảng 50% trẻ em nhập viện vì viêm phổi ở Nam Phi bị nhiễm HIV [2]. Trẻ mắc bệnh phổi mãn tính dễ có nhiều đợt viêm phổi cấp tính, tỷ lệ mắc bệnh viêm đường hô hấp dưới cấp tính ở trẻ nhiễm HIV kèm theo viêm phổi kẽ mạn tính cao hơn ở trẻ không nhiễm HIV tới 10 lần [6]. Tỷ lệ tử vong do viêm phổi trên trẻ HIV ở bệnh viện là 7% so với 1,5% ở trẻ không nhiễm HIV; chỉ có 54% trẻ viêm phổi/HIV đáp ứng tốt với điều trị so với 80% ở trẻ không nhiễm HIV [7]. Ở Châu Phi trẻ HIV nhập viện vì viêm phổi nặng chiếm 55-65%, tỷ lệ tử vong tới 20-34% - cao gấp 3-6 lần so với trẻ không nhiễm HIV [8].
Nhiễm khuẩn gặp ở tất cả các hệ cơ quan, tuy nhiên viêm phổi là phổ biến nhất (67%), trong đó phế cầu và tụ cầu vàng là vi khuẩn gram dương hay gặp nhất và K. pneumonia là vi khuẩn gram âm hay gặp nhất [9]. Nghiên cứu tại Thái Lan cho thấy trong số bệnh nhân HIV/AIDS trẻ em vào viện thì 69% có viêm phổi, 22% là viêm phổi tái diễn [10]. Tại Việt Nam ở Bệnh viện Nhi Đồng 1, bệnh nhân HIV/AIDS nhập viện vì viêm phổi gặp 73% [11]; tại bệnh viện Nhi đồng 2, viêm phổi/HIV/AIDS 2 gặp 70,9% [12], tại Bệnh viện Nhi Trung ương hầu hết trẻ HIV/AIDS nhập viện điều trị vì nhiễm trùng cơ hội nặng, trong đó 70% là viêm phổi và tử vong tới 15% [13].
Hiện nay, phần lớn trẻ nhiễm HIV ở nước ta sống tại cộng đồng và ở trại trẻ mồ côi, đa số trẻ đến khám và theo dõi tại cơ sở y tế vì các bệnh nhiễm trùng cơ hội mà hay gặp nhất là viêm phổi [14]. Việc xác định được nguyên nhân gây viêm phổi góp phần rất quan trọng trong điều trị, phòng bệnh - đặc biệt đối với trẻ HIV/AIDS. Nhưng thực trạng ở hầu hết các cơ sở y tế - ngay cả ở các bệnh viện tuyến trung ương còn có nhiều khó khăn về máy móc trang thiết bị cũng như chi phí xét nghiệm còn cao, các nghiên cứu về nguyên nhân và điều trị viêm phổi /HIV còn ít và chưa đầy đủ nên việc chẩn đoán nguyên nhân viêm phổi/HIV gặp nhiều khó khăn, chủ yếu dựa vào triệu chứng lâm sàng, dấu hiệu X-quang. Do đó việc nghiên cứu nguyên nhân và kết quả điều trị viêm phổi/HIV ở trẻ em là rất cần thiết.
Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu tác nhân, đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và kết quả điều trị viêm phổi ở trẻ em nhiễm HIV" nhằm các mục tiêu sau: 1. Xác định tác nhân gây viêm phổi ở trẻ HIV/AIDS tại bệnh viện Nhi Trung ương. Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh X-quang phổi và mức độ suy giảm miễn dịch theo căn nguyên thường gặp. Nghiên cứu các yếu tố liên quan đến tử vong do viêm phổi ở trẻ HIV/AIDS.
3 Chương 1 TỔNG QUAN 1. Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới và Việt Nam 1. Một số nét chính về hình ảnh đại dịch HIV/AIDS trên thế giới Nhiễm HIV/AIDS hiện là mối quan tâm của toàn nhân loại vì đại dịch này tác động nghiêm trọng đến mọi khía cạnh của đời sống xã hội, làm ảnh hưởng tới kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội của mọi quốc gia. Hiện nay, đại dịch HIV/AIDS trên thế giới vẫn đang diễn biến rất phức tạp, ước tính 35,3 triệu (32,2 - 38,8 triệu) người sống chung với HIV.
Có 2,1 triệu người lớn và 240.000 trẻ em nhiễm mới HIV năm 2013, số lượng người chết vì AIDS là 1,6 triệu (1,4 - 1,9 triệu) người. 12,9 triệu người đang được điều trị ARV chiếm 37% (35 - 39%) tổng số người nhiễm HIV, tuy nhiên mới chỉ có 24% (22 - 26%) trẻ em nhiễm HIV được điều trị kéo dài cuộc sống [15]. Theo ước tính của UNAIDS, trung bình mỗi ngày thế giới có thêm khoảng 7.000 người nhiễm HIV [16]. Năm 2006 thế giới có khoảng 39,5 - 42 triệu người nhiễm HIV/AIDS, trong đó người lớn là 37,2 triệu, phụ nữ là 17,7 triệu người và trẻ em dưới 15 tuổi là 2,3 triệu người.
HIV đang phát triển mạnh ở các nước đang phát triển. Dịch đang hoành hành ở châu Phi nhưng đang có xu hướng chuyển dịch mạnh về châu Á. Trong đó, khoảng 30% dân số châu Phi bị nhiễm HIV/AIDS [17]. Tới năm 2007 đã có khoảng 9 triệu người châu Á đã nhiễm HIV kể từ khi HIV xuất hiện trong khu vực và gần 2,6 triệu nam giới, 950.000 nữ giới và 330.000 trẻ em đã chết vì AIDS.
Trung Quốc, Ấn Độ, Inđônexia là các nước có số người nhiễm HIV tăng mạnh. Tới năm 2008 Trung Quốc đã có trên 1,5 triệu người nhiễm HIV, chết do AIDS khoảng 30. Campuchia với dân số 13 triệu, nhiễm HIV/AIDS 178. Tình hình nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam Tại Việt Nam trường hợp HIV/AIDS đầu tiên ở thành phố Hồ Chí Minh tháng 12 năm 1990.
Đến 01/1999 các trường hợp nhiễm HIV/AIDS đã được phát hiện ở tất cả 61/61 tỉnh trong cả nước. Năm 2000 số nhiễm HIV/AIDS được báo cáo là 34.008, trong đó nam chiếm tới 84,64%, nữ chỉ chiếm 15,36%, số mới nhiễm là 11.174, bệnh nhân AIDS là 4.728, chết do AIDS là 2. Số liệu thống kê của Cục Phòng chống HIV/AIDS - Bộ Y tế cho biết, tính đến tháng 9 năm 2014 cả nước hiện có trên 247.000 người nhiễm HIV còn sống, trong đó có trên 52.700 bệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS, đã có hơn 53.000 người tử vong do AIDS, có gần 89.000 người nhiễm HIV đang được điều trị ARV chiếm 36% tổng số người nhiễm HIV, có gần 4.500 trẻ em được điều trị kháng vi rút chiếm hơn 90% số trẻ em nhiễm HIV [19]. Hiện nay, sự lây truyền HIV qua quan hệ tình dục có xu hướng gia tăng, kéo theo sự tăng số nhiễm HIV ở phụ nữ và trẻ em, đồng thời cảnh báo việc kiểm soát lây nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư ngày càng trở nên khó khăn hơn [20].
Với rất nhiều cố gắng trong những năm qua, Việt Nam đã thực hiện được 3 giảm: giảm số người mới nhiễm HIV, giảm số người chuyển sang AIDS và giảm số người tử vong do AIDS, đã kiềm chế được tình hình lây nhiễm HIV trong cộng đồng dân cư ở mức 0,26%, thấp hơn so với kế hoạch đề ra trong chiến lược Quốc gia phòng chống AIDS năm 2010 và tầm nhìn 2020 [21]. Tuy nhiên tình hình dịch nhiễm HIV vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, hàng năm cả nước vẫn phát hiện hơn 10.000 người mới nhiễm HIV, khoảng 5000 người chuyển sang AIDS, hơn 2000 người tử vong do AIDS [22]. Vấn đề điều trị đã được tập trung đầu tư song số người được điều trị đặc hiệu bằng thuốc ARV vẫn còn chưa bao phủ hết, chi phí điều trị vẫn còn ở mức cao trong khi đó bệnh nhân nhiễm HIV thường ở gia đình nghèo, không có công ăn việc làm hoặc nghiện chích ma túy. Một số thuốc điều trị nhiễm trùng cơ 5 hội còn phải nhập của nước ngoài, xét nghiệm chẩn đoán nhiễm trùng cơ hội còn bị hạn chế do giá thành cao, do năng lực phòng xét nghiệm còn yếu và trang bị của các labo còn thiếu [20].
Cấu trúc, sự xâm nhập và nhân lên của HIV [23] Hình 1. Cấu trúc của HIV [23] 1. Cấu trúc của HIV HIV có đặc điểm chung của họ retroviridae. Dưới kính hiển vi điện tử, HIV là một phần tử hình cầu xù xì với đường kính 100 nm.
Vi rút chứa một lõi sẫm màu hình nón có chiều dài khoảng 100 nm và chiều rộng khoảng 50 nm thon dần về chóp nón là 40 nm. Quan sát gần hơn, bề mặt HIV bao phủ bởi 72 gai nhú. Hạt vi rút hoàn chỉnh (virion) có cấu trúc gồm 3 lớp. - Lớp vỏ ngoài (vỏ pepton): Lớp này là 1 màng lipid kép có kháng nguyên chéo với màng nguyên sinh chất tế bào.
Gắn lên màng này là các nhú. Đó là các phân tử Glycoprotein có trọng lượng phân tử 160 kilodalton (gp160). Nó gồm có 2 phần: 6 + Glycoprotein màng ngoài có trọng lượng phân tử là 120 kilodalton (gp120). Gp120 là kháng nguyên dễ biến đổi nhất, gây khó khăn cho phản ứng bảo vệ cơ thể và chế vaccin phòng bệnh.
+ Glycoprotein xuyên màng có trọng lượng phân tử 41 kilodalton. + Lớp trong hình trụ, cấu tạo bởi các phân tử có trọng lượng phân tử là 24 kilodalton (p24). Đây là kháng nguyên rất quan trọng để chẩn đoán nhiễm HIV/AIDS. - Lõi: Là những thành phần bên trong của vỏ capsid, bao gồm: Hai phân tử ARN đơn, đó là bộ gen di truyền HIV (genom).
Genom của HIV chứa 3 gen cấu trúc: + Gen Gag (group specific antigen) là các gen mã hoá cho các kháng nguyên đặc hiệu của capsid của vi rút. + Gen EnV (envelop) mã hoá cho glycoprotein lớp vỏ pepton của HIV. Sự xâm nhập vào tế bào và nhân lên của HIV trong cơ thể người - Sự hấp phụ lên bề mặt tế bào: HIV bám vào bề mặt tế bào cảm thụ nhờ sự phù hợp giữa Receptor tế bào với gp120 của nó. Trong đa số các trường hợp, các receptor này là các phân tử CD4 của tế bào lympho T hỗ trợ hoặc một số tế bào khác như bạch cầu đơn nhân lớn, đại thực bào và một số tế bào dòng lympho.
7 - Sự xâm nhập vào tế bào: Sau khi đã bám vào các receptor của tế bào vật chủ, phân tử gp41 của HIV cắm sâu vào màng tế bào. Nhờ đó genom của HIV chui vào bên trong tế bào. Vì vậy giai đoạn này còn gọi là “cắm neo và hoà màng”.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Luận án tiến sĩ nghiên cứu tác nhân đặc điểm lâm sàng cận lâ" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án tiến sĩ nghiên cứu tác nhân và đặc điểm lâm sàng cận lâm sàng bệnh lý
Luận án "Luận án tiến sĩ nghiên cứu tác nhân đặc điểm lâm sàng cận lâ" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Luận án tiến sĩ nghiên cứu tác nhân đặc điểm lâm sàng cận lâ" thuộc chuyên ngành Y học. Danh mục: Y Học Lâm Sàng.
Luận án "Luận án tiến sĩ nghiên cứu tác nhân đặc điểm lâm sàng cận lâ" có bao nhiêu trang?
Luận án "Luận án tiến sĩ nghiên cứu tác nhân đặc điểm lâm sàng cận lâ" có 155 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Luận án tiến sĩ nghiên cứu tác nhân đặc điểm lâm sàng cận lâ" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.