Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm huyệt ủy trung và ảnh hưởng của điện châm huyệt đối với bệnh nhân yêu cước thống thể thận hư
Nghiên cứu luận án tiến sĩ về điện châm huyệt ủy trung và ảnh hưởng đối với bệnh nhân thận hư.
Luan An
Số trang
149
Thời gian đọc
23 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
40 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Tổng quan vị trí giải phẫu huyệt ủy trung chi dưới
- Số trang:
- 149 trang
- Chuyên ngành:
- Y học cổ truyền
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Tổng quan vị trí giải phẫu huyệt ủy trung chi dưới
Huyệt vị đóng vai trò cốt lõi trong hệ thống kinh lạc. Đây là nơi hội tụ và vận hành của khí huyết toàn thân. Y học cổ truyền coi huyệt là cửa ngõ giao tiếp giữa tạng phủ và môi trường bên ngoài. Nghiên cứu hiện đại chứng minh huyệt vị có tính chất lý hóa đặc thù. Vùng da tại huyệt luôn có điện trở thấp hơn vùng mô lân cận. Khả năng dẫn truyền dòng điện tại đây ghi nhận mức độ cao vượt trội. Huyệt ủy trung là điểm kích thích trọng yếu ở chi dưới. Kích thích đúng vị trí giải phẫu huyệt ủy trung mang lại giá trị trị liệu to lớn. Thao tác chuẩn xác tác động trực tiếp lên hệ thần kinh ngoại biên. Tín hiệu xung truyền thẳng về tủy sống và vỏ não. Quá trình này giúp tái lập cân bằng nội môi nhanh chóng. Việc xác định chính xác mốc giải phẫu là bước khởi đầu quyết định thành công của thủ thuật châm cứu lâm sàng.
1.1. Xác định vị trí giải phẫu huyệt ủy trung ở nếp khoeo chân
Vị trí giải phẫu huyệt ủy trung nằm chính giữa nếp gấp khoeo chân. Điểm này nằm giữa gân cơ bán gân và gân cơ nhị đầu đùi. Dưới da là mạng lưới tổ chức liên kết dày đặc. Vùng này chứa động mạch khoeo, tĩnh mạch khoeo và dây thần kinh chày sau. Kỹ thuật châm kim đòi hỏi độ chính xác cao về hướng và độ sâu. Kim châm thẳng góc chín mươi độ qua bề mặt da. Độ sâu mũi kim dao động từ một đến một phẩy năm thốn. Bác sĩ cần tránh xuyên trực tiếp vào bó mạch khoeo chân. Khi đắc khí, người bệnh có cảm giác tê tức lan xuống cẳng chân. Cảm giác này báo hiệu kích thích đã tác động trúng nhánh thần kinh. Vị trí giải phẫu chuẩn xác đảm bảo an toàn tuyệt đối cho người bệnh. Thao tác chuẩn giúp tối ưu hóa hiệu quả điều trị bệnh lý chi dưới.
1.2. Đặc tính sinh học và điện trở da tại huyệt hợp kinh bàng quang
Huyệt ủy trung là huyệt hợp kinh bàng quang với ký hiệu quốc tế UB40. Bề mặt da vùng huyệt sở hữu nhiều đặc tính sinh học đặc thù. Điện trở bề mặt da tại đây giảm rõ rệt so với các vùng lân cận. Cường độ dòng điện chạy qua da vùng huyệt đạt giá trị cao hơn. Nhiệt độ da tại huyệt phản ánh tình trạng vi tuần hoàn cục bộ. Khi tạng phủ hoặc kinh lạc có bệnh, các thông số này lập tức biến đổi. Bệnh nhân yêu cước thống thường có sự thay đổi rõ rệt về ngưỡng dẫn điện. Việc đo đạc các chỉ số lý sinh cung cấp bằng chứng khách quan. Thầy thuốc dựa vào đó để chẩn đoán mức độ bế tắc kinh khí. Kích thích điện châm tại huyệt hợp giúp khôi phục điện thế màng tế bào. Quá trình này thúc đẩy lưu thông máu và nuôi dưỡng mô tổn thương.
II. Ý nghĩa câu yêu bối ủy trung cầu trong trị liệu y học
Câu khẩu quyết yêu bối ủy trung cầu đúc kết kinh nghiệm ngàn năm của y học cổ truyền. Câu ca này trích từ tác phẩm kinh điển Tứ tổng huyệt ca. Nội dung khẳng định huyệt ủy trung là chủ huyệt điều trị mọi chứng đau vùng lưng và thắt lưng. Kinh túc thái dương bàng quang chạy dọc từ đầu qua toàn bộ vùng lưng xuống chi dưới. Mọi rối loạn dọc theo đường kinh này đều có thể điều chỉnh qua huyệt ủy trung. Y học hiện đại giải thích nguyên lý này qua mối liên hệ tiết đoạn thần kinh. Kích thích huyệt vị vùng khoeo chân tạo cung phản xạ ức chế dẫn truyền cảm giác đau lên não. Phương pháp này mang lại hiệu quả vượt trội trong điều trị thực tế. Châm cứu học hiện đại đã chứng minh tính đúng đắn của kinh nghiệm cổ xưa.
2.1. Nguồn gốc học thuyết kinh túc thái dương bàng quang cổ truyền
Kinh túc thái dương bàng quang là đường kinh dài nhất trong cơ thể con người. Kinh mạch khởi đầu từ khóe mắt trong, đi lên đỉnh đầu rồi phân nhánh xuống vùng cổ gáy. Từ đây, đường kinh chạy dọc hai bên cột sống thắt lưng xuống mặt sau đùi và cẳng chân. Kinh bàng quang có mối quan hệ biểu lý mật thiết với tạng thận. Thận chủ cốt tủy và quản lý chức năng vận động vùng thắt lưng. Khi thận khí suy yếu hoặc tà khí phong hàn thấp xâm nhập, kinh khí bàng quang sẽ bị bế tắc. Hiện tượng này dẫn tới chứng đau lưng và co cứng cơ nghiêm trọng. Huyệt ủy trung thuộc hành Thổ, là nơi hội tụ kinh khí sung mãn nhất. Tác động vào huyệt giúp khai thông bế tắc kinh lạc dọc toàn bộ vùng lưng.
2.2. Ứng dụng châm cứu giảm đau thắt lưng cơ năng theo tứ tổng huyệt
Phương pháp giảm đau thắt lưng cơ năng bằng châm cứu áp dụng rộng rãi trên lâm sàng. Đau lưng cơ năng thường phát sinh do ngồi sai tư thế, thoái hóa hoặc làm việc quá sức. Tác động huyệt ủy trung giúp giãn cơ vân cục bộ và giảm áp lực nội đĩa đệm. Cung phản xạ tủy kích hoạt phản ứng thư giãn cơ co thắt dọc cột sống. Người bệnh cảm nhận cơn đau dịu đi nhanh chóng ngay sau khi rút kim. Phương pháp này không gây tác dụng phụ như các loại thuốc kháng viêm giảm đau thông thường. Khả năng vận động cúi ngửa của cột sống thắt lưng cải thiện rõ rệt. Áp dụng đúng nguyên tắc yêu bối ủy trung cầu giúp rút ngắn liệu trình phục hồi. Bệnh nhân nhanh chóng trở lại sinh hoạt bình thường mà không cần dùng thuốc kéo dài.
III. Tác dụng điện châm giảm đau thần kinh tọa hiệu quả cao
Điện châm là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa kỹ thuật châm kim cổ truyền và dòng điện xung hiện đại. Phương pháp điện châm giảm đau mang lại tác động sâu và liên tục vào các thụ thể thần kinh. Bệnh lý đau dây thần kinh hông to tương đương với chứng yêu cước thống trong y học cổ truyền. Đau thần kinh tọa gây cảm giác buốt nhức dọc từ thắt lưng xuống mông, đùi và bàn chân. Sử dụng dòng điện xung kích thích trực tiếp lên huyệt ủy trung giúp cắt đứt đường truyền cảm giác đau. Phương pháp này tạo ra tác động đồng thời lên cơ, mạch máu và thần kinh. Điện châm giúp giải phóng chèn ép rễ thần kinh hiệu quả. Đây là giải pháp bảo tồn hàng đầu được áp dụng rộng rãi tại các cơ sở y tế.
3.1. Phương pháp điện châm điều trị đau thần kinh tọa thể thận hư
Kỹ thuật điều trị đau thần kinh tọa thể thận hư đòi hỏi quy trình châm cứu nghiêm ngặt. Thể bệnh này có đặc điểm đau âm ỉ vùng thắt lưng, chân yếu mỏi và sợ lạnh. Bác sĩ tiến hành sát trùng da và châm kim vào huyệt ủy trung cùng các huyệt bổ trợ. Dây điện cực nối trực tiếp vào đốc kim với độ tiếp xúc an toàn. Cường độ dòng điện tăng từ từ đến khi người bệnh thấy co cơ nhẹ mà không đau rát. Thời gian lưu kim kéo dài từ hai mươi đến ba mươi phút cho mỗi lần trị liệu. Điện cực kích thích liên tục giúp bồi bổ chính khí và trục xuất phong hàn thấp. Liệu trình điều trị thường kéo dài mười đến mười lăm ngày liên tục. Phương pháp này cải thiện chức năng thận và nâng cao sức đề kháng của cơ thể.
3.2. Hiệu quả phục hồi vận động và cải thiện chỉ số lâm sàng
Hiệu quả phục hồi vận động sau điện châm thể hiện qua nhiều chỉ số lâm sàng khách quan. Độ linh hoạt của cột sống thắt lưng gia tăng đáng kể sau từng đợt điều trị. Góc nâng chân thẳng trong nghiệm pháp Lasegue tăng từ ba mươi độ lên trên bảy mươi độ. Dấu hiệu co cứng cơ cạnh sống thắt lưng giảm rõ rệt khi thăm khám thực thể. Thang điểm đau VAS giảm từ mức nặng xuống mức nhẹ hoặc biến mất hoàn toàn. Bệnh nhân có thể tự đi lại, đứng thẳng và sinh hoạt độc lập mà không cần người trợ giúp. Lưu lượng máu nuôi dưỡng vùng khoeo và cẳng chân được cải thiện toàn diện. Kết quả cận lâm sàng ghi nhận tình trạng giảm phù nề xung quanh rễ thần kinh. Tỷ lệ phục hồi vận động đạt mức cao sau một liệu trình điện châm bài bản.
IV. Cơ chế phóng thích endorphin và tần số xung điện châm
Tác dụng trị liệu của điện châm được giải thích rõ nét qua các cơ chế sinh hóa hiện đại. Kích thích điện vào huyệt vị thúc đẩy cơ thể tự sản sinh các hoạt chất giảm đau nội sinh. Nổi bật nhất là cơ chế phóng thích endorphin tại hệ thần kinh trung ương và tủy sống. Các chất này gắn kết vào thụ thể opioid và ức chế truyền tín hiệu đau lên não bộ. Đồng thời, việc lựa chọn tần số xung điện châm đóng vai trò then chốt quyết định loại chất giảm đau được tiết ra. Dòng điện xung làm thay đổi tính thấm màng tế bào và ức chế tiết chất P dẫn truyền đau. Sự kết hợp giữa tần số phù hợp và vị trí huyệt chính xác mang lại hiệu quả cắt cơn đau tức thì. Nghiên cứu khoa học đã làm sáng tỏ nền tảng sinh học vững chắc của châm cứu hiện đại.
4.1. Vai trò của cơ chế phóng thích endorphin trong kiểm soát đau
Cơ chế phóng thích endorphin là mắt xích trung tâm trong quá trình giảm đau do điện châm. Khi kim châm nhận xung điện, các sợi thần kinh cảm giác A-delta và C bị kích thích. Tín hiệu này truyền lên não bộ và kích hoạt vùng chất xám quanh cống não. Tuyến yên và đồi thị lập tức tăng cường bài tiết beta-endorphin và enkephalin vào tuần hoàn não tủy. Nồng độ endorphin trong dịch não tủy và huyết tương tăng cao gấp nhiều lần sau khi điện châm. Hoạt chất này ngăn chặn thụ thể đau ở sừng sau tủy sống một cách tự nhiên. Người bệnh trải nghiệm cảm giác dịu đau sâu sắc và tâm trạng thư giãn, giảm lo âu. Tác dụng giảm đau nội sinh duy trì ổn định kéo dài nhiều giờ sau khi kết thúc buổi điều trị.
4.2. Lựa chọn tần số xung điện châm phù hợp cho từng giai đoạn
Lựa chọn tần số xung điện châm thích hợp quyết định trực tiếp đến đáp ứng sinh học của mô. Tần số thấp từ hai đến mười héc kích thích cơ thể giải phóng chủ yếu beta-endorphin và dynorphin. Tần số này đặc biệt hiệu quả đối với các chứng đau mạn tính và thể bệnh thận hư. Ngược lại, tần số cao từ tám mươi đến một trăm héc kích hoạt giải phóng dynorphin nhanh chóng tại tủy sống. Tần số cao thích hợp để cắt cơn đau cấp tính và chống co thắt cơ dữ dội. Sử dụng dạng sóng xung không đối xứng giúp chống hiện tượng quen điện của hệ thần kinh. Bác sĩ có thể linh hoạt chuyển đổi giữa tần số thấp và cao theo tiến triển của bệnh. Việc điều chỉnh chính xác thông số xung điện mang lại kết quả điều trị tối ưu nhất.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (149 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộ1 ĐẶT VẤN ĐỀ Châm cứu là một phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc dùng để điều trị và phòng ngừa bệnh tật. Cơ sở khoa học của phương pháp này là dựa trên Học thuyết kinh lạc thông qua việc kích thích những “Huyệt vị”, có mối liên hệ mật thiết với các tạng phủ bên trong cơ thể, sẽ làm giải phóng những hóa chất nội sinh có tác dụng nhất định giúp điều chỉnh những rối loạn của cơ thể. Nhưng nghiên cứu sâu về đặc điểm từng loại huyệt rất ít tác giả đề cập và việc sử dụng 1 số huyệt đặc biệt vẫn phải dựa vào những kinh nghiệm của người xưa mà chưa có những luận giải cụ thể [1]. Theo “Tứ tổng huyệt ca” trong Châm cứu đại toàn có câu: "Yêu bối Ủy trung cầu”, nghĩa là khi điều trị các bệnh lý cột sống lưng và chi dưới thì cần phải sử dụng huyệt Ủy trung, bởi vì huyệt Ủy trung là huyệt hợp (ký hiệu quốc tế là UB40) theo ngũ hành đại diện cho Thổ của kinh Túc thái dương bàng quang – là đường kinh đi từ mắt lên đỉnh đầu xuống lưng, sau đó đi xuống chi dưới và có quan hệ biểu lý với tạng thận chủ trị bệnh lý vùng eo lưng [1].
Chứng yêu cước thống của YHCT tương đương với bệnh lý đau dây thần kinh hông to của YHHĐ - một bệnh lý về thần kinh rất thường gặp trên lâm sàng, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của người bệnh nếu không điều trị triệt để. Phần lớn các trường hợp đau thần kinh hông to có thể chữa khỏi bằng nội khoa bảo tồn, đặc biệt là các phương pháp không dùng thuốc như châm cứu. Trong thực tiễn lâm sàng điều trị bệnh yêu cước thống bằng châm cứu, chúng tôi thường gặp nhất là yêu cước thống thể thận hư và thường dùng huyệt Ủy trung để điều trị và thấy có hiệu quả rất tốt, nhưng cho tới nay chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập đến đặc điểm sinh học huyệt Ủy trung, những thay đổi đặc điểm này trên người bệnh và khi có tác động 2 điện châm vào huyệt. Vì thế, để làm sáng tỏ vấn đề này và khẳng định hiệu quả của phương pháp điện châm trong điều trị yêu cước thống thể thận hư, chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm huyệt Ủy trung và ảnh hưởng của điện châm huyệt này đối với bệnh nhân yêu cước thống thể thận hư”.
Mục tiêu của công trình nghiên cứu này nhằm: 1. Tìm hiểu hình dáng, diện tích của huyệt Ủy trung trên bề mặt da, cường độ dòng điện qua da và nhiệt độ da vùng huyệt trên người trưởng thành bình thường. So sánh cường độ dòng điện, nhiệt độ da vùng huyệt Ủy trung giữa bệnh nhân yêu cước thống thể thận hư và người trưởng thành bình thường. Đánh giá tác dụng của điện châm huyệt Ủy trung lên các chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng ở bệnh nhân yêu cước thống thể thận hư.
3 Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Quan niệm của y học cổ truyền và các nghiên cứu của y học hiện đại về huyệt vị Theo tài liệu xưa của Y học cổ truyền, “Huyệt” là nơi ra vào lưu hành của thần khí, không phải là da, gân, xương. “Huyệt” là nơi mạch khí phát ra, là nơi khí của tạng phủ xuất ra ở 12 kinh mạch và là khí phủ. Người xưa dùng nhiều danh từ khác nhau để gọi tên của nơi hội tụ khí huyết của tạng phủ kinh lạc.
Trong sách “Châm cứu giáp kinh” của Hoàng Phủ Mật thì huyệt được gọi là “Khổng huyệt” nghĩa là cái lỗ trống không. Ngoài ra còn nhiều sách dùng danh từ “Thâu huyệt”, “Khí huyệt”, “Du huyệt” [1]. Trên cơ thể có ba loại huyệt chính: Huyệt nằm trên đường kinh (kinh huyệt), huyệt nằm ngoài đường kinh (kỳ huyệt) và A thị huyệt. Trên 12 kinh chính có những huyệt chủ yếu là: 12 huyệt nguyên, 12 huyệt lạc, 12 huyệt bối du, 12 huyệt mộ, 60 ngũ du huyệt, 12 huyệt khích, 8 huyệt hội, 8 giao hội huyệt [1].
Vai trò và tác dụng của huyệt Sách Tố Vấn viết "Người ta có 12 khớp lớn, 365 khe nhỏ chưa kể huyệt của 12 kinh mạch, đều là nơi vệ khí lưu hành. Đó cũng là nơi tà khí vào cơ thể và lưu lại, phải dùng châm, cứu để đuổi tà khí đi”. Như vậy, huyệt vừa là nơi thần khí lưu hành xuất nhập, vừa là nơi tà khí xâm nhập vào cơ thể, vừa là nơi dùng kim hay mồi ngải tác động vào đó để đuổi tà khí ra ngoài [2],[3],[4],[5]. - Về sinh lý: Huyệt có quan hệ chặt chẽ với kinh mạch và tạng phủ mà nó phụ thuộc.
Huyệt là nơi thần khí vận hành qua lại vào ra, nơi tạng phủ kinh lạc dựa vào đó mà thông suốt với phần ngoài cơ thể, làm cho cơ thể thành một khối thống nhất, góp phần duy trì các hoạt động sinh lý của cơ thể luôn ở trong trạng thái bình thường [3]. 4 - Về bệnh lý: Huyệt cũng là cửa ngõ xâm nhập của tà khí lục dâm. Khi sức đề kháng của cơ thể (chính khí) bị suy giảm thì tà khí qua các huyệt này vào gây bệnh cho các đường lạc, nếu bệnh tiến triển nặng hơn tà khí sẽ từ kinh vào sâu trong tạng phủ [3]. - Về chẩn đoán: Khi tạng phủ bị bệnh, có thể có những thay đổi bệnh lý phản ánh ra ở huyệt như đau nhức, hoặc ấn vào đau, hoặc hình thái huyệt bị thay đổi.Thay đổi này là tín hiệu giúp các nhà lâm sàng có thêm tư liệu để quyết định chẩn đoán bệnh [3].
- Về phòng và điều trị bệnh: Huyệt là nơi tiếp nhận những kích thích khác nhau. Tác động lên huyệt một lượng kích thích thích hợp có thể điều hòa được khí, khí hòa thì huyết hòa, khi huyết hòa thì tuần hoàn của huyết trong mạch mới thuận lợi, được chuyển đi để nuôi dưỡng cơ thể, lấy lại thăng bằng âm dương, nghĩa là làm ổn định những rối loạn bệnh lý, lập lại hoạt động sinh lý bình thường của cơ thể [3]. Theo các sách châm cứu chủ yếu thì trên mười bốn kinh mạch chính có 361 tên huyệt, cộng cả hai bên trái phải thì tổng số huyệt vị là 670, bao gồm: - 52 huyệt chỉ có ở giữa (huyệt đơn). - Về số huyệt ngoài kinh và huyệt mới có tổng số là 48 huyệt [6].
Những huyệt trên kinh có tính chất, vị trí, tác dụng, gần giống nhau, được xếp thành từng nhóm và có tên gọi chung. Huyệt Nguyên Đại diện cho đường kinh là nơi khí huyết tập trung nhiều nhất so với vùng huyệt khác. Các huyệt này nằm ở ngay hoặc gần cổ tay, cổ chân, mỗi kinh chính có một huyệt Nguyên [7],[8]. Huyệt Nguyên có quan hệ mật thiết với Tam tiêu.
Tác động vào đó có thể thúc đẩy chức năng của các cơ quan, điều hoà hoạt động nội tạng. Vì thế đối với bệnh của ngũ tạng lục phủ đều lấy huyệt Nguyên của chúng để điều 5 trị. Huyệt Nguyên có tác dụng chữa các chứng hư hay thực của tạng phủ thuộc kinh mạch của huyệt. Ngoài ra qua huyệt Nguyên có thể chẩn đoán được bệnh của tạng phủ và kinh lạc [9],[10].
Huyệt Lạc Là huyệt liên lạc giữa một kinh âm với một kinh dương biểu lý. Huyệt Lạc dùng để trị bệnh ngay tại đường kinh có huyệt đó, vừa có tác dụng chữa bệnh đường kinh có quan hệ biểu lý. Ngoài ra có thể dùng phối hợp với huyệt Nguyên của bản kinh để tăng tác dụng chữa bệnh [9],[10]. Huyệt Du ở lưng Tất cả các huyệt này đều nằm trên kinh túc Thái dương Bàng quang.
Các huyệt này đều mang tên tạng phủ tương ứng, trừ huyệt Du của Tâm bào được gọi là Quyết âm du. Châm vào huyệt Du có tác dụng rất lớn đến những hoạt động của tạng phủ tương ứng. Ngoài ra có thể dựa vào phản ứng không bình thường của huyệt Du để chẩn đoán bệnh ở tạng phủ [9],[10]. Huyệt Mộ Là nơi khí của tạng phủ tụ lại trên vùng bụng ngực.
Khi tạng phủ có bệnh, tại vùng huyệt Mộ tương ứng thường xuất hiện những phản ứng không bình thường. Có thể dùng để điều chỉnh hoạt động quá hưng phấn hoặc quá ức chế của tạng phủ. Qua những phản ứng bất thường của huyệt Mộ có thể chẩn đoán được bệnh ở tạng phủ tương ứng [9],[10]. Huyệt Khích Là nơi kinh khí tụ lại, nằm sâu trong khe gân xương.
Mỗi kinh chính có một huyệt Khích, ngoài ra các mạch Âm duy, Dương duy, Âm kiểu, Dương kiểu, cũng có một huyệt Khích. Tổng cộng có mười sáu huyệt Khích. Thường dùng huyệt Khích để điều trị những chứng bệnh cấp của các kinh hoặc các tạng phủ của kinh đó. Huyệt Khích cũng có thể dùng để chẩn đoán những chứng bệnh cấp tính của tạng phủ mà đường kinh mang tên [9].
Huyệt Ngũ du Mỗi kinh chính có năm huyệt từ đầu mút các chi tới khuỷu tay và đầu gối, đại diện cho sự vận hành kinh khí của từng kinh chính. Huyệt Ngũ du được phân bố theo thứ tự Tỉnh, Huỳnh, Du, Kinh, Hợp [9],[10]. Kinh khí vận hành trong các kinh chính ví như dòng nước chảy, mạnh, yếu, lớn, nhỏ, nông, sâu, ở từng chỗ khác nhau. + Huyệt Tỉnh: Nơi mạch khí khởi giống như nước đầu nguồn bắt đầu chảy ra, mạch khí nông, nhỏ.
+ Huyệt Huỳnh: Mạch khí chảy qua giống như nước đã thành dòng, mạch khí hơi lớn. + Huyệt Du: Mạch khí dồn lại giống như nước chảy liên tục, mạch khí to và sâu hơn. + Huyệt Kinh: Mạch khí chảy giống như dòng nước xiết, mạch khí sâu. + Huyệt Hợp: Mạch khí tụ hợp lại thành dòng vừa to vừa sâu, như các dòng suối hợp thành sông; Là chỗ ra vào của khí.
Huyệt Ngũ du dùng để trị bệnh thuộc đường kinh của huyệt với hiệu quả cao. Mỗi loại huyệt Tỉnh Huỳnh, Du, Kinh, Hợp có tác dụng chữa bệnh riêng. Huyệt Ngũ du được phân loại theo ngũ hành; theo quy luật tương sinh, tương khắc, tương thừa, tương vũ của ngũ hành dùng đặc tính của mỗi huyệt đó để chọn huyệt chữa bệnh. Huyệt ngoài kinh (Kinh ngoại Kỳ huyệt) Là những huyệt không thuộc vào 12 kinh chính và hai mạch Nhâm, Đốc.
Huyệt thường có vị trí ở ngoài các đường kinh, nhưng cũng có một số huyệt nằm trên đường tuần hành của kinh mạch chính song không phải là huyệt của kinh mạch đó. Huyệt ngoài kinh chưa được nói tới trong cuốn Nội kinh, đó là những huyệt do các nhà châm cứu đời sau quan sát và phát hiện dần. Trên lâm sàng chúng có hiệu quả điều trị rõ ràng và có vị trí cố định.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Nghiên cứu đặc điểm huyệt ủy trung và ảnh hưởng của điện châm (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/y-hoc/y-hoc-co-truyen/nghien-cuu-dac-diem-huyet-uy-trung-va-anh-huong-cua-dien-cham-huyet
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Nghiên cứu đặc điểm huyệt ủy trung và ảnh hưởng của điện châm" nghiên cứu về vấn đề gì?
Nghiên cứu luận án tiến sĩ về điện châm huyệt ủy trung và ảnh hưởng đối với bệnh nhân thận hư.
Luận án "Nghiên cứu đặc điểm huyệt ủy trung và ảnh hưởng của điện châm" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Nghiên cứu đặc điểm huyệt ủy trung và ảnh hưởng của điện châm" thuộc chuyên ngành Y học cổ truyền. Danh mục: Y Học Cổ Truyền.
Luận án "Nghiên cứu đặc điểm huyệt ủy trung và ảnh hưởng của điện châm" có bao nhiêu trang?
Luận án "Nghiên cứu đặc điểm huyệt ủy trung và ảnh hưởng của điện châm" có 149 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Nghiên cứu đặc điểm huyệt ủy trung và ảnh hưởng của điện châm" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.