Luận án tiến sĩ về thực trạng thiếu máu và hiệu quả can thiệp cho phụ nữ mang thai tại Củ Chi

Luận án: Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng thiếu máu ở phụ nữ mang thai tại huyện củ chi thành phố hồ chí minh và hiệu quả một số biện pháp can thiệp. Xem t

Tác giả

Luan An

Số trang

135

Thời gian đọc

21 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

40 Point

Tóm tắt nội dung

I. Thiếu Máu Thai Kỳ Thực Trạng Hậu Quả Nghiêm Trọng

Thiếu máu thai kỳ là vấn đề sức khỏe cộng đồng toàn cầu. Tình trạng này ảnh hưởng đến hàng triệu phụ nữ mang thai. Nó gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho cả mẹ và thai nhi. Việc hiểu rõ thực trạng và hậu quả của thiếu máu là bước đầu tiên để triển khai các biện pháp can thiệp hiệu quả.

1.1. Tỷ lệ thiếu máu thai kỳ toàn cầu và tại Việt Nam

Tổ chức Y tế Thế giới báo cáo 50% phụ nữ mang thai trên thế giới bị thiếu máu. Các nước phát triển ghi nhận tỷ lệ khoảng 18%. Các nước đang phát triển có tỷ lệ cao hơn, từ 35-75%. Thiếu máu do thiếu sắt là loại phổ biến. Nó chiếm 25-35% ở các nước đang phát triển và 5-8% ở các nước phát triển. Tại Việt Nam, 36,8% phụ nữ mang thai thiếu máu, theo Viện Dinh dưỡng Quốc gia. Thiếu máu trực tiếp hoặc gián tiếp làm tăng tỷ suất tử vong mẹ, đặc biệt ở các quốc gia đang phát triển.

1.2. Hậu quả thiếu máu thai kỳ cho mẹ và thai nhi

Thiếu máu ở phụ nữ mang thai gây nhiều hậu quả nặng nề. Đối với mẹ, nguy cơ sẩy thai tăng cao. Nhau tiền đạo, nhau bong non có thể xảy ra. Cao huyết áp thai kỳ và tiền sản giật là biến chứng tiềm ẩn. Ối vỡ sớm, băng huyết sau sinh cũng thường gặp. Mẹ dễ bị nhiễm trùng hậu sản. Đối với con, thiếu máu gây nhẹ cân, sinh non tháng. Suy thai, thời gian điều trị hồi sức kéo dài. Tăng tỷ suất và bệnh suất sơ sinh. Con của bà mẹ thiếu máu sớm thai kỳ có nguy cơ bệnh tim mạch cao hơn.

1.3. Thiếu máu do thiếu sắt Vấn đề sức khỏe cộng đồng

Thiếu máu dinh dưỡng là vấn đề sức khỏe cộng đồng phổ biến. Phụ nữ mang thai thường gặp nhất. Khi mang thai, khối lượng tuần hoàn tăng gần 50%. Thể tích huyết tương tăng nhanh hơn khối huyết cầu. Điều này làm giảm Hemoglobin (Hb) và Hematocrit (HCT), gây ra thiếu máu. Nhu cầu dinh dưỡng, đặc biệt là sắt, acid folic, Vitamin B12 và Protein, cũng tăng cao. Thiếu hụt các chất này dẫn đến thiếu năng lượng và thiếu máu. Tổ chức Y tế Thế giới định nghĩa thiếu máu là tình trạng giảm số lượng hồng cầu và hàm lượng Hemoglobin, gây thiếu oxy tổ chức.

II. Yếu Tố Nguy Cơ Thiếu Máu Phụ Nữ Mang Thai Củ Chi

Thiếu máu ở phụ nữ mang thai tại Củ Chi chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Các yếu tố này bao gồm điều kiện kinh tế xã hội, trình độ dân trí, và các bệnh lý nền. Việc xác định rõ các yếu tố nguy cơ giúp định hình chiến lược can thiệp phù hợp và bền vững. Nghiên cứu tại Củ Chi tập trung đánh giá những khía cạnh này.

2.1. Các yếu tố liên quan đến thiếu máu dinh dưỡng

Thiếu máu dinh dưỡng xảy ra do mất cân bằng giữa nhu cầu và cung cấp dinh dưỡng. Nhu cầu sắt, acid folic, Vitamin B12, Protein tăng cao trong thai kỳ. Thiếu hụt các yếu tố này gây thiếu năng lượng và thiếu máu. Ngoài ra, điều kiện sống ở vùng nông thôn, miền núi còn khó khăn. Trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán lạc hậu ảnh hưởng. Các bệnh ký sinh trùng, sốt rét, nhiễm giun cũng làm tăng nguy cơ thiếu máu.

2.2. Đặc điểm thiếu máu ở phụ nữ mang thai Củ Chi

Huyện Củ Chi là một vùng ven của thành phố Hồ Chí Minh. Kinh tế địa phương chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Trước đây, các chương trình can thiệp đã triển khai. Các chương trình này nhằm cải thiện tình trạng thiếu máu do thiếu sắt. Tuy nhiên, hoạt động chủ yếu là tuyên truyền uống viên sắt. Hiệu quả đạt được chưa cao và chưa bền vững. Điều này cho thấy sự cần thiết của các biện pháp can thiệp toàn diện hơn.

2.3. Thách thức trong chăm sóc tiền sản tại nông thôn

Chương trình phòng chống thiếu máu đã được triển khai rộng khắp. Mục tiêu là 80% phụ nữ mang thai được bổ sung sắt ít nhất 3 tháng. Các hoạt động bao gồm truyền thông và cấp phát viên sắt. Tuy nhiên, vùng nông thôn như Củ Chi đối mặt nhiều khó khăn. Vấn đề dinh dưỡng và phòng chống thiếu máu còn hạn chế. Điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn, trình độ dân trí thấp là rào cản. Những yếu tố này ảnh hưởng đến việc tiếp cận và tuân thủ chăm sóc tiền sản hiệu quả.

III. Phòng Chống Thiếu Máu Các Biện Pháp Can Thiệp Hiện Có

Việt Nam đã và đang triển khai nhiều chương trình quốc gia để phòng chống thiếu máu thai kỳ. Các chương trình này tập trung vào bổ sung sắt cho bà bầu và giáo dục dinh dưỡng. Mặc dù đạt được những hiệu quả nhất định, vẫn còn những hạn chế cần được khắc phục, đặc biệt là trong việc huy động cộng đồng tham gia.

3.1. Chương trình bổ sung sắt cho bà bầu quốc gia

Chương trình phòng chống thiếu máu dinh dưỡng đã triển khai. Nó hoạt động rộng khắp các địa phương ở Việt Nam. Mục tiêu là trên 80% phụ nữ mang thai. Họ cần được bổ sung sắt cho bà bầu hoặc thuốc bổ máu. Thời gian bổ sung ít nhất 3 tháng trong thai kỳ. Các hoạt động chính bao gồm truyền thông kiến thức. Kết hợp cấp phát viên sắt cho phụ nữ mang thai. Việc phân phối được thực hiện thông qua Trung tâm Y tế và trạm y tế cơ sở.

3.2. Hiệu quả ban đầu của can thiệp dinh dưỡng thai phụ

Đã có nhiều nghiên cứu về phòng chống thiếu máu ở phụ nữ có thai. Các giải pháp như tiếp thị xã hội đến chăm sóc dinh dưỡng. Bổ sung sắt và tăng cường sử dụng viên đa vi chất dinh dưỡng. Những can thiệp này đã đạt được hiệu quả nhất định. Kiến thức và thực hành của phụ nữ mang thai cải thiện. Về bệnh thiếu máu và việc sử dụng viên sắt. Tỷ lệ bao phủ viên đa vi chất tăng. Điều này giảm thiếu máu do thiếu sắt và tăng nồng độ vi chất trong máu.

3.3. Hạn chế trong huy động cộng đồng phòng thiếu máu

Mặc dù đạt hiệu quả, việc triển khai các hoạt động can thiệp còn hạn chế. Chưa chú trọng nhiều đến các biện pháp về tổ chức. Huy động sự tham gia của cộng đồng còn yếu. Đây là điểm cần cải thiện trong các chương trình. Tại Củ Chi, các hoạt động của chương trình trước đây cũng chưa đạt hiệu quả cao. Tính bền vững của các can thiệp chưa đảm bảo. Cần có cách tiếp cận toàn diện, có sự tham gia tích cực từ cộng đồng.

IV. Chiến Lược Can Thiệp Dinh Dưỡng Giảm Thiếu Máu Thai Kỳ

Nghiên cứu tại Củ Chi đã xây dựng một chiến lược can thiệp cụ thể. Chiến lược này nhằm giải quyết vấn đề thiếu máu thai kỳ. Nó tập trung vào việc cải thiện kiến thức, thực hành dinh dưỡng và tăng cường sử dụng vi chất. Các giải pháp này được thiết kế để mang lại hiệu quả bền vững cho dinh dưỡng thai phụ và sức khỏe cộng đồng.

4.1. Mục tiêu nghiên cứu tại huyện Củ Chi

Nghiên cứu được tiến hành tại huyện Củ Chi. Mục tiêu đầu tiên là mô tả thực trạng. Xác định các yếu tố nguy cơ thiếu máu thai kỳ ở phụ nữ mang thai. Tập trung vào 3 tháng đầu thai kỳ (năm 2011). Mục tiêu thứ hai là đánh giá hiệu quả. Hiệu quả của một số biện pháp can thiệp phòng chống thiếu máu ở phụ nữ có thai (2011-2012). Đây là phản ứng với hiệu quả chưa cao của các chương trình trước đó.

4.2. Biện pháp cải thiện kiến thức và thực hành

Cải thiện kiến thức của phụ nữ mang thai là trọng tâm. Kiến thức về bệnh thiếu máu và tầm quan trọng của sắt. Các hoạt động truyền thông cần đa dạng và phù hợp. Chúng phải phù hợp với văn hóa địa phương. Khuyến khích thực hành bổ sung sắt cho bà bầu. Việc sử dụng viên đa vi chất dinh dưỡng cũng quan trọng. Giáo dục dinh dưỡng thai phụ giúp tăng cường hiểu biết. Đặc biệt về chế độ ăn uống cân đối.

4.3. Tăng cường sử dụng viên đa vi chất dinh dưỡng

Bổ sung sắt cho bà bầu là biện pháp thiết yếu. Viên đa vi chất dinh dưỡng cung cấp nhiều khoáng chất quan trọng. Bao gồm sắt, acid folic, Vitamin B12. Tăng cường bao phủ và sử dụng viên đa vi chất. Điều này cải thiện tình trạng thiếu vi chất. Cần có chiến lược phân phối hiệu quả. Đảm bảo phụ nữ mang thai dễ dàng tiếp cận sản phẩm. Sự hỗ trợ từ cộng đồng giúp đảm bảo tuân thủ. Nó giúp giảm tỷ lệ thiếu máu phụ nữ mang thai Củ Chi.

V. Hiệu Quả Nghiên Cứu Thiếu Máu Ở Phụ Nữ Mang Thai Củ Chi

Nghiên cứu tại Củ Chi đã cung cấp những kết quả đáng giá. Nó làm rõ thực trạng thiếu máu và hiệu quả của các can thiệp dinh dưỡng cho thai phụ. Những phát hiện này không chỉ giúp địa phương mà còn đóng góp vào việc xây dựng các chiến lược phòng chống thiếu máu ở phụ nữ có thai bền vững trên quy mô lớn hơn.

5.1. Đánh giá thực trạng thiếu máu tại Củ Chi

Nghiên cứu đã mô tả rõ ràng tình trạng thiếu máu. Nó xác định các yếu tố nguy cơ thiếu máu thai kỳ cụ thể. Đặc biệt là ở phụ nữ mang thai tại huyện Củ Chi. Dữ liệu thu thập là cơ sở quan trọng. Nó giúp hoạch định chính sách y tế địa phương. Nghiên cứu nhấn mạnh tầm quan trọng của chăm sóc tiền sản phù hợp. Việc hiểu rõ bối cảnh địa phương là chìa khóa để thiết kế can thiệp hiệu quả.

5.2. Kết quả can thiệp hiệu quả giảm thiếu máu

Nghiên cứu đã đánh giá các biện pháp can thiệp dinh dưỡng cho thai phụ. Các biện pháp này nhằm phòng chống thiếu máu ở phụ nữ có thai. Các giải pháp đã chứng minh hiệu quả. Kiến thức và thực hành của phụ nữ mang thai cải thiện. Tỷ lệ thiếu máu giảm rõ rệt. Nồng độ vi chất trong máu tăng lên. Điều này cho thấy tiềm năng của các can thiệp có mục tiêu. Đặc biệt là bổ sung sắt cho bà bầu và giáo dục dinh dưỡng.

5.3. Bài học về phòng chống thiếu máu bền vững

Nghiên cứu Củ Chi cung cấp nhiều bài học quan trọng. Cần kết hợp đa dạng các giải pháp. Không chỉ truyền thông và cấp phát đơn thuần. Cần huy động cộng đồng tham gia tích cực. Các can thiệp phải phù hợp với bối cảnh địa phương. Giải quyết các thách thức kinh tế và xã hội cụ thể. Phòng chống thiếu máu ở phụ nữ có thai đòi hỏi nỗ lực bền vững. Cần sự phối hợp liên ngành để đạt hiệu quả cao nhất.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng thiếu máu ở phụ nữ mang thai tại huyện củ chi thành phố hồ chí minh và hiệu quả một số biện pháp can thiệp

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (135 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

1 ĐẶT VẤN ĐỀ Theo Tổ chức Y tế Thế giới, có tới 50% phụ nữ mang thai trên thế giới bị thiếu máu, các nước công nghiệp phát triển chiếm khoảng 18%, các nước đang phát triển chiếm tỷ lệ từ 35-75%. Trong đó thiếu máu thiếu sắt chiếm khoảng 25-35% ở các nước đang phát triển và 5-8% ở các nước phát triển [68], [81]. Thiếu máu ở phụ nữ mang thai là vấn đề lớn về sức khỏe cộng đồng tại nhiều quốc gia. Điều tra của Viện Dinh dưỡng Quốc gia cho thấy 36,8% phụ nữ mang thai tại Việt Nam thiếu máu [62].

Một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, thiếu máu đã làm tăng tỷ suất tử vong mẹ ở các nước đang phát triển. Thiếu máu ở phụ nữ mang thai có thể gây nhiều hậu quả nặng nề cho cả mẹ và con. Mẹ dễ bị sẩy thai, nhau tiền đạo, nhau bong non, cao huyết áp thai kỳ, tiền sản giật, ối vỡ sớm, băng huyết sau sinh, nhiễm trùng hậu sản. Con bị nhẹ cân, sinh non tháng, suy thai, thời gian điều trị hồi sức kéo dài, tăng tỉ suất và bệnh suất sơ sinh hơn so với trẻ không thiếu máu.

Con những bà mẹ thiếu máu giai đoạn sớm thai kỳ có nguy cơ bệnh tim mạch cao hơn trẻ khác. Ở nước ta, chương trình phòng chống thiếu máu dinh dưỡng đã được triển khai rộng khắp ở tất cả các địa phương với mục tiêu trên 80% phụ nữ mang thai được bổ sung viên sắt hoặc thuốc bổ máu ít nhất 3 tháng trong thai kỳ. Các hoạt động chính được triển khai gồm truyền thông kiến thức phòng chống thiếu máu kết hợp cấp phát viên sắt cho phụ nữ mang thai thông qua các Trung tâm Y tế quận, huyện và các trạm y tế xã, phường [13]. Tuy nhiên, vẫn còn những khó khăn hạn chế trong vấn đề dinh dưỡng phòng chống thiếu máu ở phụ nữ mang thai tại các vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa - nơi mà đời sống kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán lạc hậu, đi kèm theo là các bệnh ký sinh trùng, sốt rét, nhiễm giun vẫn còn điều kiện để phát triển và gây bệnh.

2 Ở Việt Nam đã có một số nghiên cứu về phòng chống thiếu máu cho phụ nữ mang thai như tiếp thị xã hội đến chăm sóc dinh dưỡng, bổ sung sắt, tăng cường sử dụng viên đa vi chất trong thời kỳ mang thai. Các giải pháp can thiệp đã đạt những hiệu quả nhất định như cải thiện được kiến thức và thực hành của phụ nữ mang thai về bệnh thiếu máu và viên sắt; tăng tỷ lệ bao phủ viên đa vi chất dinh dưỡng; đạt hiệu quả về giảm thiếu máu, giảm tỷ lệ thiếu vi chất và tăng nồng độ vi chất trong máu. Tuy nhiên, việc triển khai các hoạt động can thiệp chưa chú trọng nhiều đến các biện pháp về tổ chức, về huy động sự tham gia của cộng đồng [15], [22], [45], [51]. Củ Chi là huyện vùng ven của thành phố Hồ Chí Minh, kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, huyện có 1 thị trấn và 20 xã, gần 324.

Trước đây đã triển khai một số chương trình can thiệp nhằm cải thiện tình trạng thiếu máu do thiếu sắt ở phụ nữ mang, song các hoạt động của chương trình chủ yếu ở mức tuyên truyền vận động phụ nữ mang thai uống viên sắt, hiệu quả đạt được chưa cao và chưa bền vững. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu thực trạng thiếu máu ở phụ nữ mang thai tại huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh và hiệu quả một số biện pháp can thiệp”. Mục tiêu nghiên cứu: 1) Mô tả thực trạng và xác định một số yếu tố liên quan đến thiếu máu của phụ nữ mang thai trong 3 tháng đầu thai kỳ tại huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh (2011). 2) Đánh giá hiệu quả một số biện pháp can thiệp phòng chống thiếu máu cho phụ nữ mang thai tại huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh (2011- 2012).

3 CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1. THIẾU MÁU DINH DƯỠNG Ở PHỤ NỮ TRONG THỜI KỲ MANG THAI 1. Thiếu máu trong thai nghén Khi mang thai, cơ thể người mẹ có những thay đổi về giải phẫu và sinh lý bởi sự đáp ứng với nội tiết nhau thai và nhu cầu lớn lên của thai nhi [7]. Vào tháng thứ 7 của thai kỳ, khối lượng tuần hoàn tăng thêm gần 50% so với trước khi mang thai, do thể tích huyết tương và khối huyết cầu đều tăng làm thể tích máu toàn phần tăng lên.

Nhưng do thể tích huyết tương tăng cao hơn thể tích khối huyết cầu, hàm lượng Hemoglobin (Hb) và tỷ lệ Hematocrit (HCT) sẽ giảm, gây nên tình trạng thiếu máu [7]. Đồng thời sự gia tăng nhu cầu và chuyển hoá đường, đạm, mỡ, vitamin, khoáng chất cũng rất cao [11]. Nếu mất sự cân bằng và không đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể thì sẽ dẫn đến tới thiếu hụt năng lượng và các chất dinh dưỡng. Quan trọng nhất là sự thiếu hụt của 4 yếu tố: Sắt, Acid folic, Vitaminh B12 và Protein, vì sẽ dẫn đến hậu quả thiếu năng lượng và thiếu máu.

Bởi vậy, tình trạng thiếu máu dinh dưỡng (TMDD) là một trong những vấn đề về sức khoẻ cộng đồng hay gặp nhất ở phụ nữ mang thai (PNMT) [26]. Khái niệm về thiếu máu Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), thiếu máu là tình trạng giảm số lượng hồng cầu, giảm hàm lượng Hb trong một đơn vị thể tích máu, gây tình trạng thiếu oxy tổ chức, trong đó sự thiếu hụt Hb là quan trọng nhất. Thiếu máu là hiện tượng bệnh lý hay gặp trong thai nghén, xảy ra khi mất sự cân bằng giữa hai quá trình sản xuất hồng cầu với nhu cầu tăng về số lượng hồng cầu và khối lượng máu [132]. Bệnh thiếu máu ảnh hưởng đến gần một nửa số phụ nữ mang thai trên thế giới: tỷ lệ trung bình là 52% ở các nước đang phát triển so với 23% ở các 4 nước phát triển.

Các nguyên nhân phổ biến nhất của thiếu máu là do nghèo đói, không đủ sắt và vi chất dinh dưỡng khác, sốt rét, bệnh giun móc, sán máng, nhiễm HIV và bệnh lý Hemoglobin là những yếu tố thêm vào [14]. Quan niệm về thiếu máu ở phụ nữ mang thai Trước đây các tác giả Âu - Mỹ, lấy tiêu chuẩn như sau [123]: - Hb từ 13,7 - 14 g/dl Bình thường - Hb > 11 g/dl Không thiếu máu - Hb từ 10 - 11 g/dl Thiếu máu sinh lý - Hb < 10 g/dl Thiếu máu thực sự Ở Việt Nam từ năm 1972 nhiều tác giả đã vận dụng tiêu chuẩn trên để áp dụng cho PNMT như sau [11]: - Hb >= 10,5 g/dl Bình thường - Hb từ 9,5 - 10,4 g/dl Thiếu máu sinh lý - Hb < 9,5 Thiếu máu thật sự Hiện nay, WHO đưa tiêu chuẩn thiếu máu như sau: - Mức Hb <120g/l với phụ nữ không mang thai - Mức Hb <110g/l với PNMT Tiêu chuẩn này vẫn được sử dụng rộng rãi cho đến hiện nay [14],[123]. Phân loại thiếu máu - Theo mức độ, thiếu máu có 3 mức độ: nhẹ , vừa, nặng - Theo hình thái và tính chất của HC: thiếu máu HC nhỏ, HC lớn, HC kích thước bình thường và thiếu máu nhược sắc, đẳng sắc và ưu sắc. - Theo nguyên nhân: + Do thiếu nguyên liệu tạo máu: thiếu sắt, acid folic, vitamin B12, protein.

Đây là những nguyên nhân gây thiếu máu chủ yếu trong thai nghén, thực chất đó là loại TMDD [5], [17], [57], [130]. 5 + Do chảy máu, mất máu cấp hoặc mạn tính, như: sảy thai băng huyết, sinh đẻ nhiều, bệnh sốt rét, giun sán, chủ yếu là giun móc… Ngoài ra còn các nguyên nhân khác như: tan máu, bệnh lý cơ quan tạo máu, giảm chức năng tuỷ xương, do huỷ HC, loạn sản tuỷ, bệnh HC khổng lồ [5], [17], [57]. Phân loại thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ trong thời kỳ mang thai Loại thiếu máu phổ biến nhất ở PNMT là TMDD. Các yếu tố dinh dưỡng chủ yếu có liên quan với quá trình tạo máu là sắt, acid folic, vitamin B12, và protein.

Thông thường sự bổ sung các chất dinh dưỡng tối cần thiết này ở PNMT thông qua ăn uống là không đáp ứng được đầy đủ. So sánh nhu cầu hàng ngày của các vi chất dinh dưỡng giữa phụ nữ mang thai và phụ nữ không mang thai (19-50 tuổi) Vi chất Phụ nữ Phụ nữ không Giới hạn tiêu thụ dinh dưỡng mang thai mang thai tối đa Iron 27mg 18mg 45mg Zinc 10-11mg 8mg 35-40mg Calcium 1.100μg Selenium 65μg 60μg 400μg Vitamin A 800μg 700μg 3000μg Vitamin B - thiamin 1,4mg 1,1mg - riboflavin 1,4mg 1,1mg - niacin 18,0mg 14,0mg 35mg - vitamin B6 1,9mg 1,9mg 50mg - vitamin B12 2,6μg 2,6μg - folate 600μg 400μg 1.000mg Vitamin C 60mg 45mg 1.000mg Vitamin D 5μg 5μg 80μg Vitamin E 7mg 7mg 300mg Nguồn: Australian Family Physician Vol 38, No. 12, December 2009 [71] 6 Qua bảng 1.1 thấy, nhu cầu về các vi chất dinh dưỡng đều tăng cao ở phụ nữ mang thai, trong đó đặc biệt là: iron, zinc, calcium, Vitamin A… 1. Thiếu máu do thiếu sắt ở phụ nữ mang thai - Nguyên nhân thiếu máu do thiếu sắt (TMTS) ở PNMT là do lượng sắt đưa vào giảm, trong khi nhu cầu tăng cao, do nôn nghén nhiều, giảm nồng độ toan dịch vị, chế độ ăn uống nghèo nàn, thiếu thức ăn có nguồn gốc thực vật [7], [11], [57], [87], [96], [101], [114].

- Trên lâm sàng, sự thiếu sắt có thể diển ra lâu dài trước khi thiếu máu thực sự xuất hiện, chỉ khi lượng Hb giảm rõ rệt làm giảm khả năng vận chuyển oxy tới các tổ chức mới gây ra các triệu chứng thực thể [37], [73], [102]. - Triệu chứng cận lâm sàng: Đây là loại thiếu máu nhược sắc, Hb giảm nhiều hơn giảm số lượng HC [5]. TMTS làm tăng nguy cơ thiếu vitamin A , B12, C và E , thiếu acid folic, và riboflavin [57], [120]. Sắt huyết thanh giảm dưới 500µg/l, ferritin huyết thanh giảm dưới 30µg/l và chỉ số bão hòa transferin cũng giảm dưới 16% [6], [11], [74], [101], [114], [126].

Thiếu máu do thiếu acid folic ở phụ nữ mang thai Axit folic (folat, vitamin B9) là chất cần thiết góp phần tạo HC và có ảnh hưởng đến sự tổng hợp AND và RNA, liên quan mật thiết đến quá trình phân chia nhân và nhân đôi tế bào. Thiếu axit folic ở PNMT sẽ gây khiếm khuyết ống tủy và nguy cơ dị tật đốt sống của thai nhi [17], [57], [89], [97].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Nghiên cứu thiếu máu ở phụ nữ mang thai Củ Chi và can thiệp hiệu quả" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án: Luận án tiến sĩ nghiên cứu thực trạng thiếu máu ở phụ nữ mang thai tại huyện củ chi thành phố hồ chí minh và hiệu quả một số biện pháp can thiệp. Xem t

Luận án "Nghiên cứu thiếu máu ở phụ nữ mang thai Củ Chi và can thiệp hiệu quả" có bao nhiêu trang?

Luận án "Nghiên cứu thiếu máu ở phụ nữ mang thai Củ Chi và can thiệp hiệu quả" có 135 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Nghiên cứu thiếu máu ở phụ nữ mang thai Củ Chi và can thiệp hiệu quả" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter