Tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam 1975-1985 - Trường Đại học Khoa học Huế

Khám phá tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985 qua góc nhìn lý luận và lịch sử văn học.

Tác giả

Luan An

Thể loại

Tóm tắt luận án tiến sĩ

Năm xuất bản

Số trang

54

Thời gian đọc

9 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

40 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam 1975-1985 bản lề lịch sử
Số trang:
54 trang
Trường:
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
Chuyên ngành:
Văn học Việt Nam
Tác giả:
Năm:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam 1975 1985 bản lề lịch sử

Giai đoạn 1975-1985 giữ vị trí đặc biệt trong lịch sử văn học. Chiến tranh kết thúc. Đất nước bước vào kỷ nguyên hòa bình và tái thiết. Nền văn học đứng trước yêu cầu chuyển đổi tư duy thẩm mỹ. Nhu cầu phản ánh đời sống thường nhật thay thế cho nhiệm vụ tuyên truyền cổ động. Đây là giai đoạn thơ ca thời kỳ chuyển tiếp 1975-1985 vận động mạnh mẽ. Các tác giả không còn nhìn hiện thực qua lăng kính đơn tuyến. Hiện thực được soi chiếu từ nhiều góc độ phức tạp. Thơ ca phản ánh niềm vui chiến thắng đan xen nỗi lo toan cơm áo. Tư duy nghệ thuật thơ vận động theo quy luật nội tại của nghệ thuật. Thơ vừa kế thừa truyền thống yêu nước, vừa mở đường cho những thể nghiệm mới. Những tên tuổi như Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Chế Lan Viên đặt nền móng cho giai đoạn này. Tác phẩm của họ ghi lại chân thực biến động tinh thần của thời đại.

1.1. Vị trí bản lề của thơ ca thời kỳ chuyển tiếp

Nền thơ mười năm đầu sau chiến tranh đóng vai trò cầu nối lịch sử. Thơ ca tiếp nhận di sản của giai đoạn 1945-1975. Đồng thời, thơ ca tích lũy năng lượng sáng tạo mới. Cảm hứng sử thi hào hùng dần lắng xuống. Thay vào đó, cảm hứng nhân văn và đạo đức thế sự trỗi dậy. Thơ hướng sự chú ý vào cuộc sống đời thường. Con người cá nhân xuất hiện với đầy đủ trăn trở, âu lo. Các nhà thơ không né tránh những góc khuất hay tổn thất sau ngày toàn thắng. Thơ ca ghi nhận sự va đập giữa lý tưởng và hiện thực kinh tế khó khăn. Mọi chuẩn mực thẩm mỹ cũ bắt đầu được xem xét lại. Sự chuyển hướng này diễn ra tự nhiên, phù hợp quy luật phát triển nghệ thuật. Thơ ca tạo tiền đề vững chắc cho cuộc cách tân sâu rộng sau năm 1986.

1.2. Giá trị tiền đề và bước đệm đổi mới văn học

Thơ ca giai đoạn này đóng vai trò là bước đệm đổi mới văn học vô cùng quan trọng. Các thể nghiệm nghệ thuật xuất hiện liên tục trên thi đàn. Nhà thơ mở rộng biên độ đề tài và cảm xúc. Họ tìm kiếm các hình thức biểu đạt phi truyền thống. Những cách tân về nhịp điệu, hình ảnh, cấu trúc được thử nghiệm táo bạo. Tính chất đơn giọng của thời chiến nhường chỗ cho cấu trúc đa thanh. Những hạt mầm đổi mới nảy nở âm thầm qua từng thi phẩm. Thơ dự báo sâu sắc về những chuyển biến xã hội thời kỳ tiền Đổi mới. Các tác giả dám nhìn thẳng vào sự thật đời sống. Tác phẩm thơ trở thành diễn đàn trao đổi tư tưởng cởi mở. Giai đoạn 1975-1985 đã chuẩn bị đầy đủ nền tảng tư duy cho văn học thời kỳ mở cửa.

II. Chuyển dịch cảm hứng thơ Việt Nam 1975 1985 sang thế sự

Cảm hứng nghệ thuật có bước ngoặt căn bản trong mười năm hậu chiến. Thơ ca thoát khỏi mô hình ngợi ca một chiều. Xu hướng chuyển dịch cảm hứng sử thi sang thế sự đời tư định hình rõ nét. Thơ không chỉ nói về dân tộc, giai cấp hay tập thể. Thơ bắt đầu chạm vào số phận từng cá nhân nhỏ bé. Hiện thực đời thường với nỗi nhọc nhằn mưu sinh đi vào từng câu chữ. Giọng thơ hạ từ âm hưởng hào sảng xuống trầm lắng, suy tư. Các đề tài chiến tranh được nhìn nhận lại bằng con mắt điềm tĩnh. Nhà thơ quan tâm đến vết thương tâm hồn và sự mất mát vô hình. Cuộc sống hòa bình đặt ra những thử thách đạo đức mới. Thơ trở thành tiếng nói cảnh tỉnh và sẻ chia với con người giữa đời thường nhiều gian truân.

2.1. Quá trình chuyển dịch cảm hứng sử thi sang đời tư

Không gian sử thi kỳ vĩ thu hẹp lại thành không gian đời tư gần gũi. Thơ không còn tập trung miêu tả những đoàn quân ra trận. Góc nhìn hướng về căn nhà nhỏ, ngõ phố, đồng quê thời bình. Những mối quan hệ gia đình, bạn bè, tình yêu được khám phá tinh tế. Nỗi lo cơm áo gạo tiền trở thành nguồn cảm hứng nghệ thuật chân thực. Thơ Nguyễn Duy, Hữu Thỉnh, Lưu Quang Vũ phản ánh sắc sảo những bức bối thường nhật. Con người trong thơ đối diện với sự xói mòn của lý tưởng và giá trị đạo đức. Thơ ca dũng cảm lên án thói cơ hội, giả dối và sự tha hóa. Cảm hứng đời tư giúp thi ca gắn bó máu thịt với đời sống nhân dân. Nghệ thuật trở về với bản chất mộc mạc nguyên sơ.

2.2. Sự xuất hiện của tâm thức hậu chiến trong thi ca

Sau niềm vui đại thắng, tâm thức hậu chiến trong thi ca bộc lộ sâu sắc. Các nhà thơ chiến sĩ bắt đầu nhìn lại quá khứ đau thương. Ký ức bom đạn không còn mang sắc màu lãng mạn hóa. Nỗi ám ảnh về những đồng đội ngã xuống hiện lên xót xa, day dứt. Sự hy sinh được đo đếm bằng nỗi đau của người mẹ, người vợ góa bụa. Thơ Hoàng Nhuận Cầm, Anh Ngọc, Thu Bồn thấm đẫm hoài niệm chiến trường. Nỗi buồn thời hậu chiến mang giá trị thanh lọc tâm hồn. Thơ ca thức tỉnh trách nhiệm của người sống đối với người đã khuất. Đồng thời, thơ phản ánh sự bỡ ngỡ của người lính khi bước vào đời sống kinh tế thị trường sơ khai. Tâm thức hậu chiến tạo nên chiều sâu nhân văn cho giai đoạn này.

III. Khám phá cái tôi trong thơ Việt Nam 1975 1985 đa chiều

Quan niệm về con người có bước tiến mang tính đột phá. Con người không còn là biểu tượng lý tưởng hóa đơn thuần. Thơ ca khám phá cái tôi trữ tình đa chiều với nhiều cung bậc phức tạp. Con người vừa cao cả vừa đời thường, vừa kiên cường vừa yếu đuối. Bản ngã cá nhân được tôn trọng và giải phóng khỏi cái chung trừu tượng. Thơ đi sâu vào thế giới nội tâm u uẩn, đầy mâu thuẫn. Ý thức tự vấn và phản tỉnh trở thành động lực sáng tác chính. Các nhà thơ lắng nghe tiếng nói sâu kín bên trong tâm thức. Thơ nữ của Ý Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Dư Thị Hoàn đem lại giọng điệu nhạy cảm, tha thiết. Sự thức tỉnh của cái tôi cá nhân khẳng định bước chuyển quan trọng của tư duy thẩm mỹ hiện đại.

3.1. Sự hình thành cái tôi trữ tình đa chiều sâu sắc

Nhân vật trữ tình trong thơ không còn độc thoại những chân lý có sẵn. Cái tôi cá nhân tự đối thoại với chính mình để tìm kiếm chân lý. Ý thức cá nhân thức tỉnh kéo theo sự đa dạng trong cách nhìn cuộc đời. Con người tự nhận thức về sự hữu hạn của kiếp người giữa vũ trụ vô tận. Cái tôi dám bộc lộ nỗi cô đơn, hoang mang trước những ngã rẽ cuộc sống. Sự phân thân của chủ thể sáng tạo tạo nên cấu trúc tâm lý đa tầng. Nhà thơ không đứng trên cao để phán xét hiện thực. Họ hòa mình vào đám đông, cùng chia sẻ nỗi đau và khát vọng. Cái tôi trữ tình trở nên bao dung, thấu hiểu và giàu lòng trắc ẩn hơn bao giờ hết.

3.2. Mạch nguồn chiêm nghiệm và triết luận nhân sinh

Khuynh hướng chiêm nghiệm và triết luận thơ phát triển vô cùng mạnh mẽ. Tác phẩm thơ hướng tới những đúc kết sâu sắc về quy luật tồn tại. Chế Lan Viên, Nguyễn Khoa Điềm, Hữu Thỉnh đưa triết lý vào từng hình tượng nghệ thuật. Thơ đặt ra những câu hỏi lớn về lẽ sống, sự thật và thời gian. Mạch ngầm suy tư về thân phận con người xuyên suốt nhiều thi phẩm tiêu biểu. Nhà thơ trăn trở về số phận cá nhân sau những biến thiên dữ dội của lịch sử. Con người nhỏ bé vật lộn với quy luật nghiệt ngã của đời sống. Chất triết luận không khô khan mà thấm đẫm cảm xúc chân thành. Chiêm nghiệm nhân sinh giúp nâng tầm tư tưởng của thi ca giai đoạn 1975-1985.

IV. Sự nở rộ của trường ca thơ Việt Nam 1975 1985 hiện đại

Một điểm nhấn nổi bật của giai đoạn này là sự nở rộ của thể loại trường ca hiện đại. Thể loại trường ca phát triển vượt bậc cả về số lượng lẫn chất lượng nghệ thuật. Đây là phương thức thích hợp nhất để bao quát tầm vóc lịch sử và những trăn trở thời đại. Các tác phẩm tiêu biểu ra đời liên tiếp: Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh, Những người đi tới biển của Thanh Thảo, Trường ca sư đoàn của Nguyễn Đức Mậu, Ba bão của Thu Bồn. Trường ca không chỉ ghi lại chiến công hào hùng. Thể loại này mở rộng dung lượng để tái hiện hiện thực đa chiều và số phận con người. Trường ca thời kỳ này kết hợp nhuần nhuyễn giữa yếu tố tự sự và trữ tình, chất sử thi và chất triết lý sâu xa.

4.1. Sự nở rộ của thể loại trường ca hiện đại đa giọng

Trường ca thời kỳ này từ bỏ lối kết cấu chương hồi biên niên sử cứng nhắc. Cấu trúc tác phẩm chuyển sang tổ chức theo dòng ý thức và cảm xúc chủ thể. Tính chất phức điệu, đa thanh chi phối toàn bộ thi phẩm. Nhiều giọng điệu cùng đan cài: giọng tráng ca, bi ca, tự sự, đối thoại đời thường. Thanh Thảo sử dụng các thủ pháp cắt dán, liên tưởng đứt đoạn kiểu điện ảnh. Thu Bồn tạo dựng những xung đột kịch tính nghẹt thở. Hữu Thỉnh đem vào trường ca chất trữ tình đằm thắm của làng quê Việt Nam. Không gian và thời gian trong trường ca có sự xáo trộn linh hoạt giữa quá khứ, hiện tại và tương lai. Thể loại trường ca thực sự đạt đến đỉnh cao thi pháp mới.

4.2. Khát vọng tổng kết chiến tranh và thân phận người

Trường ca sau năm 1975 mang sứ mệnh tổng kết một chặng đường lịch sử khốc liệt. Các tác giả nhìn lại cuộc chiến tranh vệ quốc với độ lùi thời gian cần thiết. Họ không chỉ ca ngợi chiến thắng vĩ đại. Tác phẩm đào sâu vào cái giá của hòa bình và sự mất mát vô bờ. Thân phận người lính, người mẹ, đứa trẻ mồ côi hiện lên xót xa và bi tráng. Tác phẩm đặt ra vấn đề bảo vệ nhân phẩm và giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Chiến tranh kết thúc nhưng cuộc chiến chống lại sự suy đồi tinh thần bắt đầu. Trường ca trở thành tượng đài nghệ thuật tôn vinh lòng quả cảm và lòng nhân ái của con người Việt Nam.

V. Đổi mới thi pháp ngôn ngữ thơ Việt Nam 1975 1985 độc đáo

Sự chuyển biến về tư duy nội dung dẫn tới cuộc cách tân hình thức nghệ thuật toàn diện. Thơ ca 1975-1985 chứng kiến sự phá vỡ các khuôn mẫu thi pháp cổ điển. Nhà thơ tự do lựa chọn các thể thơ không vần, thơ tự do, văn xuôi hóa câu thơ. Nhịp điệu thơ linh hoạt theo dòng chảy tâm trạng biến động. Điểm nhìn nghệ thuật di chuyển linh hoạt từ vĩ mô sang vi mô, từ khách quan sang chủ quan. Không gian nghệ thuật mở rộng ra cõi tâm linh và tiềm thức. Thời gian nghệ thuật đa chiều, đảo lộn trật tự tuyến tính. Những tìm tòi này tạo nên diện mạo tươi mới và hiện đại cho nền thi ca dân tộc, đáp ứng nhu cầu thưởng thức của công chúng thời đại mới.

5.1. Cuộc đổi mới thi pháp và cấu trúc câu thơ tự do

Nhu cầu diễn tả cảm xúc phức tạp thúc đẩy đổi mới thi pháp và cấu trúc câu thơ. Câu thơ truyền thống êm ả nhường chỗ cho những câu thơ gãy khúc, vắt dòng táo bạo. Nhà thơ sử dụng các thủ pháp trùng điệp, tương phản, nghịch lý nhằm tăng cường sức nén biểu cảm. Cấu trúc câu thơ mở rộng biên độ, dung nạp ngôn ngữ đời sống thô ráp. Thi pháp thơ không gian - thời gian biến đổi linh hoạt. Không gian tâm trạng thay thế cho không gian địa lý ước lệ. Thời gian hiện tại đan xen với ký ức và những dự cảm tương lai bất định. Cách tân cấu trúc câu thơ giúp giải phóng năng lượng ngôn từ, tạo nên những giai điệu nội tâm phong phú và mới mẻ.

5.2. Hệ thống ngôn ngữ giàu tính biểu tượng đối thoại

Hệ thống ngôn ngữ thơ giàu tính biểu tượng và đối thoại xác lập phong cách nghệ thuật thời kỳ này. Từ ngữ không còn mang tính minh họa đơn thuần cho tư tưởng chính trị. Từ ngữ trở thành những biểu tượng đa nghĩa, kích thích liên tưởng sáng tạo của độc giả. Hình tượng cỏ cây, dòng sông, đất đai, ánh sáng mang sức chứa triết học sâu sắc. Lời thơ tăng cường tính đối thoại đa chiều giữa tác giả và nhân vật, giữa các nhân vật với nhau. Ngôn ngữ khẩu ngữ, tiếng nói đời thường hòa nhập tự nhiên vào thi phẩm. Thơ mở rộng đối thoại với bạn đọc về những vấn đề nhức nhối của thời cuộc. Ngôn từ thơ đạt đến độ cô đọng, sắc bén và giàu sức khơi gợi.

Mục lục chi tiết luận án

MỞ ĐẦU
1. Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985
1.1. Những nghiên cứu về thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985
1.1.1. Những nghiên cứu về thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985
1.1.2. Những nghiên cứu riêng về tác giả, tác phẩm
1.2. Nhận xét tình hình nghiên cứu và hướng triển khai đề tài
1.2.1. Nhận xét tình hình nghiên cứu
1.2.2. Hướng triển khai đề tài
2. Chương 2: VẤN ĐỀ TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ VÀ DIỆN MẠO THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985
2.1. Vấn đề tư duy nghệ thuật thơ
2.1.1. Khái niệm tư duy và tư duy nghệ thuật
2.1.2. Tư duy nghệ thuật thơ
2.2. Bối cảnh lịch sử và nhu cầu đổi mới thơ ca
2.2.1. Khái lược về bối cảnh lịch sử
2.2.2. Nhu cầu đổi mới thơ ca
2.3. Diện mạo thơ nhìn từ lực lượng sáng tạo và các bước ngoặt thơ
2.3.1. Nhìn từ lực lượng sáng tạo đồng hành
2.3.2. Nhìn từ các bước ngoặt chuyển mình
3. Chương 3: Tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985 nhìn từ hệ đề tài và cảm hứng thẩm mỹ
4. Chương 4: Tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985 nhìn từ phương thức thể hiện
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tóm tắt tư duy nghệ thuật thơ việt nam giai đoạn 1975 1985

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (54 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC NGUYỄN HỮU CÔNG TƯ DUY NGHỆ THUẬT THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985 Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 9.21 TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN Huế, 2023 Công trình được hoàn thành tại TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC, ĐẠI HỌC HUẾ Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS HỒ THẾ HÀ Phản biện 1:……………………………. Luận án sẽ được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Đại học Huế Vào ngày….năm 2023 Có thể tìm hiểu luận án tại: Thư viện Quốc gia Việt Nam Thư viện Trường Đại học Khoa học Huế 1 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1. Thơ Việt Nam hậu chiến 1975-1985 được xem là giai đoạn bản lề chuyển từ thời chiến sang thời bình, từ khuynh hướng sử thi - chính trị sang khuynh hướng đời tư - thế sự; từ giọng cao sang giọng trầm; từ ngợi ca đất nước với cảm hứng chính là lãng mạn, hào hùng sang ngợi ca cuộc sống mới với cảm hứng đạo đức nhân văn mới.

Thơ giai đoạn này đã kịp để lại những giá trị thi pháp riêng với những tác giả, tác phẩm tiêu biểu, có sức sống và hiệu quả nghệ thuật mạnh mẽ theo tư duy nghệ thuật riêng. Tìm hiểu thơ giai đoạn này, chúng tôi muốn khẳng định thành tựu hợp quy luật của nó xuất phát từ cái nhìn khoa học và biện chứng để thấy bản chất thi ca của mỗi giai đoạn bao giờ cũng có tính kế thừa và cách tân theo một dòng chảy thống nhất nhưng khác nhau về kiểu tư duy, về quan niệm nghệ thuật, đặc biệt là quan niệm về cuộc sống và con người. Mục đích của đề tài là khẳng định vị trí và thành tựu của thơ giai đoạn 1975-1985 trong tính kế thừa, phát triển của thơ giai đoạn 1945-1975, là tiền đề cho thơ giai đoạn đổi mới từ 1986 đến nay. Đó là lý do chúng tôi chọn Tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985 làm đề tài và đối tượng nghiên cứu cho Luận án của mình.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2. Đối tượng nghiên cứu Luận án tập trung khảo sát các tác phẩm thơ của một số nhà thơ tiêu biểu đại diện cho những thi pháp nổi bật trong mười năm đầu sau chiến tranh làm đối tượng khảo sát chính. Cụ thể: nhà thơ Hữu Thỉnh, Nguyễn Khoa Điềm, Chế Lan Viên, Thu Bồn, Thanh Thảo, Nguyễn Duy, Lưu Quang Vũ, Ý Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lê Thị Kim, Lê Thị Mây, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Dư Thị Hoàn, Nguyễn Quang Thiều, Phùng Khắc Bắc, Nguyễn Trọng Tạo, Trúc Thông, Y Phương, Anh Ngọc, Võ Văn Trực. Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu của luận án là chỉ ra những đặc điểm cơ bản của tư duy nghệ thuật thơ giai đoạn 1975-1985 ở cảm hứng nghệ 2 thuật, biểu hiện cụ thể thành các đề tài/ phạm vi hiện thực của đời sống được phản ánh vào tác phẩm và một số phương thức thể hiện đặc sắc.

Cụ thể là ở điểm nhìn nghệ thuật, ở ngôn ngữ, ở không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật. Hướng tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 3. Hướng tiếp cận Đề tài tiếp cận theo hướng vận dụng lý thuyết về tư duy nghệ thuật thơ để nghiên cứu đặc trưng thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985 đặt trong tiến trình vận động của thơ Việt Nam hiện đại, nhằm chỉ ra tư duy thơ ở bình diện nội dung và hình thức mang tính quan niệm của từng yếu tố tham gia cấu thành tác phẩm theo yêu cầu của thi pháp học. Phương pháp nghiên cứu Từ hướng tiếp cận trên, để giải quyết nhiệm vụ khoa học của đề tài, chúng tôi sử dụng kết hợp một số phương pháp chủ yếu như: Phương pháp loại hình, phương pháp thống kê - phân loại, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp so sánh, đối chiếu.

Đóng góp của luận án - Chỉ ra những đặc trưng cơ bản về nội dung nghệ thuật và hình thức nghệ thuật của thơ Việt Nam 1975-1985. - Khẳng định những thành tựu, hạn chế và khẳng định giá trị của thơ giai đoạn này trong dòng chảy của nền thơ Việt Nam hiện đại. Cấu trúc luận án Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Nội dung của luận án được triển khai trong bốn chương: Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985 Chương 2.

Vấn đề tư duy nghệ thuật thơ và diện mạo thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985 Chương 3. Tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam giai đoạn 1975- 1985 nhìn từ hệ đề tài và cảm hứng thẩm mỹ Chương 4. Tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam giai đoạn 1975- 1985 nhìn từ phương thức thể hiện 3 Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THƠ VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1975-1985 1. Những nghiên cứu về thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985 1.

Những nghiên cứu về thơ Việt nam giao đoạn 1975-1985 Có khá nhiều ý kiến, bài viết kết hợp nghiên cứu một cách khái quát về nội dung, phương thức nghệ thuật của thơ sau năm 1975 nói chung và có những bài nghiên cứu riêng về thơ giai đoạn 1975-1985. Những bài viết đó tập trung trong các công trình: Văn học Việt Nam thế kỷ XX - Những vấn đề lịch sử và lý luận (Nxb Giáo dục, 2004) của Phan Cự Đệ, Văn học Việt Nam sau 1975 - Những vấn đề nghiên cứu và giảng dạy của nhiều tác giả (Nxb Giáo dục, 2005), Văn học Việt Nam sau 1975 và việc giảng dạy trong nhà trường (Nxb Giáo dục, 2009) của Nguyễn Văn Long, Văn học 1975-1985 tác phẩm và dư luận (Nxb Hội Nhà văn, 1997) của nhóm tác giả Vân Trang, Hoàng Ngô, Bảo Hưng, Thơ trữ tình Việt Nam 1975-1990 (Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, 1998) của Lê Lưu Oanh, Về một đặc trưng thi pháp thơ Việt Nam 1945-1995 (Nxb Khoa học xã hội, 1999) của Vũ Văn Sỹ, Thơ Việt Nam hiện đại (Nxb Lao động, 2002) của nhóm tác giả Phong Lê, Vũ Văn Sỹ, Bích Thu, Lưu Khánh Thơ và nhiều công trình khác… Nghiên cứu văn học 1975-1985 với tư cách là một giai đoạn khởi động của văn học thời kỳ hậu chiến, các nhà nghiên cứu đều chỉ ra những đóng góp của văn học giai đoạn này trong tiến trình vận động của văn học Việt Nam. Bên cạnh đó, trong các công trình nghiên cứu và giáo trình lý luận văn học đề cập đến tư duy nghệ thuật thơ, phải kể đến tác phẩm Tư duy thơ và tư duy thơ hiện đại Việt Nam của Nguyễn Bá Thành. Các tác giả Nguyễn Phan Cảnh (Ngôn ngữ thơ), Bùi Công Hùng (Quá trình sáng tạo thi ca), Hà Công Tài (Chiếm lĩnh sự thật và con đường đổi mới thơ)… đã có nhiều góc độ khác nhau để nghiên cứu thơ và tư duy thơ trong tiến trình vận động, phát triển của thơ Việt Nam hiện đại.

Bên cạnh đó, hàng loạt những công trình nghiên cứu về thi pháp ra đời: Giáo trình thi pháp học (Trần Đình Sử), Thi pháp thơ Tố Hữu (Trần Đình Sử), Thi pháp thơ Huy Cận (Trần Khánh Thành), Thi pháp hiện đại (Đỗ Đức Hiểu), Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên (Hồ Thế Hà)… đã đưa lại những thành công nhất định trong nghiên cứu, 4 sáng tạo nghệ thuật. Lý thuyết thi pháp học đã được vận dụng một cách đồng bộ để nghiên cứu nghệ thuật thơ, tư duy thơ. Những nghiên cứu riêng về tác giả, tác phẩm Bên cạnh những công trình nghiên cứu chung như trên, xuất hiện ngày càng nhiều những công trình nghiên cứu riêng về tác giả, tác phẩm. Các tác giả được chọn để nghiên cứu nhiều nhất giai đoạn này là những nhà thơ tiêu biểu, có đóng góp về thi pháp thể loại trên hành trình hiện đại như: Hữu Thỉnh, Thanh Thảo, Nguyễn Khoa Điềm, Chim Trắng, Võ Văn Trực, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Ý Nhi, Lâm Thị Mỹ Dạ, Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh, Lê Thị Mây, Vũ Quần Phương, Y Phương, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Trọng Tạo, Phạm Sỹ Sáu, Nguyễn Quang Thiều … Có thể nói đây là “những cánh chim báo bão” đem lại những khám phá và dự báo về sự đổi mới thi ca.

Sáng tác của họ được bạn đọc đón nhận với cái nhìn đa chiều, trong phạm vi luận án, chúng tôi quan tâm đến những nghiên cứu ghi nhận những dấu hiệu đổi mới mà họ đã mang lại trong thơ giai đoạn 1975-1985. Các nhà nghiên cứu, phê bình quan tâm nghiên cứu kịp thời về thơ của các tác giả giai đoạn này có Mã Giang Lân, Trần Đình Sử, Lý Hoài Thu, Nguyễn Bá Thành, Hồ Thế Hà, Chu Văn Sơn, Lã Nguyên, Lý Hoài Thu, Bích Thu. với những bài viết cụ thể, chỉ ra được những đặc trưng nghệ thuật riêng của từng tác giả, tác phẩm theo hướng tiếp cận thi pháp học, phong cách học, ngôn ngữ học và mỹ học tiếp nhận hiện đại… 1. Nhận xét tình hình nghiên cứu và hướng triển khai đề tài 1.

Nhận xét tình hình nghiên cứu Thứ nhất: Thơ Việt Nam 1975-1985 là giai đoạn ngắn, nhưng có tính chất bước ngoặt, bản lề cho hai giai đoạn thơ của cùng một dòng chảy liên tục từ thời chiến sang thời hậu chiến. Những đặc điểm bản chất của thơ giai đoạn này đã diễn ra hợp qui luật, có kế thừa, phát huy và bổ sung những nội dung và phương thức nghệ thuật mới, làm thành diện mạo và thành tựu mới, dù vậy, nó vẫn còn một số hạn chế do quán tính của thơ ca thời chiến tác động. Thứ hai: Thơ Việt Nam 1975-1985 đã trở thành đối tượng tiếp cận, được các nhà lý luận, phê bình và các nhà nghiên cứu văn học quan tâm, bàn luận. Tuy nhiên, các công trình và bài viết chưa có sự 5 bao quát một cách đầy đủ, toàn diện về thơ giai đoạn này, đặc biệt là diện mạo thơ và vấn đề tư duy nghệ thuật thơ.

Gương mặt các nhà thơ và tập thơ riêng cũng chưa được nghiên cứu đầy đủ, chưa chú ý đến thi pháp cá nhân và sự đổi mới của từng tác giả, từng thi phẩm… Thứ ba: Nghiên cứu thơ Việt Nam giai đoạn này, các công trình nghiêng về phê bình tác giả, tác phẩm nhiều hơn là nghiên cứu tổng quan, tổng kết cả phong trào. Các hướng tiếp cận và phương pháp vận dụng để nghiên cứu cũng chưa thật sự đa dạng. Chủ yếu là nghiên cứu theo hướng thi pháp học, bình giảng, phân tích tác phẩm nghiêng về xã hội học văn học. Các phương pháp hiện đại như Mỹ học tiếp nhận, Phong cách học, Ngôn ngữ học, Phê bình sinh thái… chưa được quan tâm vận dụng tối đa.

Nghiên cứu theo lý thuyết hệ hình cũng chưa được cập nhật. Vì vậy, chưa thấy được sự chuyển đổi cái nhìn nghệ thuật, đặc biệt là tư duy nghệ thuật một cách mới mẻ của các nhà thơ lớn, có định hướng và tiên phong đổi mới.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Nguyễn Hữu Công (2023). Tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam 1975-1985 [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế]. LuanAn.net. https://luanan.net/van-hoc/van-hoc-viet-nam/tu-duy-nghe-thuat-tho-viet-nam-giai-doan-1975-1985

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam 1975-1985" nghiên cứu về vấn đề gì?

Khám phá tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam giai đoạn 1975-1985 qua góc nhìn lý luận và lịch sử văn học.

Luận án "Tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam 1975-1985" được bảo vệ tại trường nào?

Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế. Năm bảo vệ: 2023.

Luận án "Tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam 1975-1985" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam 1975-1985" thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam. Danh mục: Văn Học Việt Nam.

Luận án "Tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam 1975-1985" có bao nhiêu trang?

Luận án "Tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam 1975-1985" có 54 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Tư duy nghệ thuật thơ Việt Nam 1975-1985" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter