Luận án nguyên lý đối thoại trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2010 - Hướng đến soi chiếu, khám phá giá trị cách tân

Nghiên cứu chuyên sâu về nguyên lý đối thoại trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986-2010, phân tích xu hướng sáng tác và vai trò trong xây dựng nhân vật.

Chuyên ngành
Ngữ văn
Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án

Số trang

154

Thời gian đọc

24 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Nguyên lý đối thoại Bakhtin và tiểu thuyết đa thanh
Số trang:
154 trang
Trường:
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
Chuyên ngành:
Ngữ văn

Tóm tắt nội dung luận án

I. Nguyên lý đối thoại Bakhtin và tiểu thuyết đa thanh

Lý thuyết đối thoại của Mikhail Bakhtin tạo nên bước ngoặt lớn trong thi pháp học hiện đại. Hệ hình tư duy này bắt nguồn từ triết học nhân bản liên chủ thể. Ý thức con người luôn tồn tại trong trạng thái giao tiếp. Ý thức không phải là một thực thể cô lập. Ý thức luôn hướng về kẻ khác để tự nhận thức chính mình. Mikhail Bakhtin vận dụng tư tưởng triết học này vào việc giải mã thể loại tiểu thuyết. Nghiên cứu chỉ ra tiểu thuyết đa thanh là đỉnh cao của hình thức đối thoại nghệ thuật. Tại đây, tiếng nói của người sáng tạo không còn giữ vị trí độc tôn tuyệt đối. Các nhân vật sở hữu tư tưởng độc lập, ngang quyền và đối thoại bình đẳng với người sáng tạo. Nguyên lý đối thoại Bakhtin mở ra cách hiểu mới về bản chất thể loại văn xuôi. Văn bản tiểu thuyết trở thành một không gian giao tiếp rộng lớn giữa các hệ giá trị văn hóa khác nhau.

1.1. Bản chất triết học liên chủ thể trong tư duy đối thoại

Triết học liên chủ thể xem đối thoại là bản chất cốt lõi của sự tồn tại con người. Con người chỉ thực sự hiện hữu khi bước vào mối quan hệ tương tác với thế giới xung quanh. Không ai có thể tự hoàn thiện nếu thiếu đi cái nhìn phản chiếu từ người khác. Mikhail Bakhtin khẳng định đối thoại là phạm trù nền tảng của mọi hành vi ý thức. Lời nói bao giờ cũng mang tính chất hồi đáp và hướng đích. Tinh thần đối thoại bác bỏ tư duy độc thoại cứng nhắc và lối áp đặt chân lý một chiều. Bản chất này giải phóng con người khỏi nguy cơ bị vật hóa trong các cấu trúc quyền lực áp chế. Ý thức luôn vận động không ngừng qua các cuộc va chạm tư tưởng. Tư duy liên chủ thể đặt nền móng vững chắc cho sự ra đời của những thể loại văn học dân chủ và phóng khoáng.

1.2. Mô hình tiểu thuyết đa thanh qua khảo sát thi pháp

Tiểu thuyết đa thanh thể hiện sự vượt thoát khỏi mô hình tiểu thuyết đơn giọng truyền thống. Cấu trúc tác phẩm dung chứa nhiều thế giới quan và nhiều hệ tư tưởng cùng tồn tại song song. Mỗi nhân vật đại diện cho một tiếng nói đầy đủ thẩm quyền, không bị hòa tan vào ý muốn chủ quan của nhà văn. Người kể chuyện không còn đóng vai trò thẩm phán tối cao nắm giữ mọi phán quyết chân lý. Thay vào đó, tác phẩm thiết lập trường tương tác mở giữa các ý thức độc lập. Nghệ thuật xây dựng tiểu thuyết đa thanh tôn trọng sự khác biệt và tính bất khả tri của tâm lý con người. Đây là hình thức tự sự phản ánh sâu sắc tính chất phức tạp của đời sống hiện đại. Mô hình này đòi hỏi sự giải phóng triệt để về mặt ngôn ngữ và cấu trúc trần thuật.

II. Dân chủ hóa trong văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới

Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đánh dấu cột mốc lịch sử mở ra kỷ nguyên Đổi mới toàn diện. Không khí đổi mới thúc đẩy mạnh mẽ quá trình dân chủ hóa trong văn học. Đời sống văn nghệ chuyển dịch từ khuynh hướng sử thi mang tính ngợi ca sang tinh thần nhận thức lại hiện thực. Văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, tôn trọng sự đa dạng của đời sống xã hội. Nhà văn từ bỏ vai trò người giáo huấn đạo đức để trở thành người bạn đối thoại bình đẳng với công chúng. Văn chương không còn bị chi phối bởi cái nhìn phiến diện hay khuôn mẫu giáo điều. Không gian sáng tạo được mở rộng, tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc cách tân nghệ thuật diễn ra mạnh mẽ. Tiến trình này mang lại diện mạo mới đầy sinh khí cho nền văn xuôi đương đại.

2.1. Tinh thần nhận thức lại và nhu cầu đổi mới tư duy

Tinh thần nhận thức lại trở thành động lực then chốt cho sự phát triển của văn xuôi sau năm 1986. Tiểu thuyết thời kỳ này đảm nhận sứ mệnh xét lại các thang giá trị xã hội cũ. Hiện thực không còn hiện lên qua lăng kính màu hồng đơn giản. Hiện thực được soi chiếu qua muôn mặt đời thường với đầy đủ những góc khuất, bi kịch và mâu thuẫn phức tạp. Nhu cầu đổi mới tư duy thôi thúc người cầm bút khám phá chiều sâu số phận cá nhân. Các cây bút tiêu biểu như Bảo Ninh, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái, Nguyễn Huy Thiệp đã dũng cảm phá vỡ các định kiến cũ. Tác phẩm văn học trở thành diễn đàn tranh luận sôi nổi về các vấn đề nhân sinh bức thiết. Tinh thần phản tư giúp văn học chạm đến bản chất chân thực của kiếp người.

2.2. Sự trỗi dậy của đối thoại tư tưởng trong tiểu thuyết

Đối thoại tư tưởng trở thành trục tư duy trung tâm trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986-2010. Tác phẩm không còn áp đặt một đáp án chân lý có sẵn cho độc giả. Các tư tưởng khác biệt được đặt trong thế cọ xát, đối sánh và tranh biện quyết liệt. Nhà văn chủ động tạo ra những tình huống xung đột nhận thức giữa các nhân vật. Mỗi nhân vật đại diện cho một cách nhìn, một lối sống và một quan niệm riêng biệt về hạnh phúc hay đạo đức. Cuộc đối thoại tư tưởng diễn ra không chỉ giữa các nhân vật với nhau mà còn giữa tác phẩm với thời đại. Điều này kích thích người đọc tự suy ngẫm, phản biện và tìm kiếm câu trả lời cho riêng mình. Văn học nhờ đó thực hiện trọn vẹn chức năng đối thoại xã hội sâu sắc.

III. Nghệ thuật trần thuật đa giọng điệu và tính phức giọng

Nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2010 chứng kiến bước chuyển biến mang tính cách mạng. Tính đơn giọng trong cấu trúc tự sự truyền thống dần bị thay thế bởi nghệ thuật trần thuật đa giọng điệu. Văn bản nghệ thuật là sự đan cài nhịp nhàng giữa nhiều bè âm thanh và sắc thái cảm xúc. Giọng điệu trang nghiêm sử thi nhường chỗ cho giọng trào tiếu, mỉa mai, triết lý, suy tư và hoài nghi. Tính phức giọng tạo nên chiều sâu thẩm mỹ độc đáo cho tác phẩm văn xuôi. Ngôn ngữ trần thuật không còn đóng khung trong sự thuần nhất mà trở nên phong phú, linh hoạt và biến hóa khôn lường. Sự phối hợp đa dạng giữa các bè giọng phản ánh sinh động tính chất đa tạp của đời sống hiện đại.

3.1. Điểm nhìn trần thuật đa chiều và cấu trúc phân mảnh

Tiểu thuyết thời kỳ Đổi mới từ bỏ lối trần thuật toàn tri ngôi thứ nhất độc quyền. Người trần thuật không còn đứng từ vị trí cao hơn để bao quát mọi sự kiện. Thay vào đó, điểm nhìn trần thuật đa chiều được triển khai linh hoạt qua nhiều góc độ quan sát khác nhau. Điểm nhìn có thể chuyển dịch từ người kể chuyện sang nhiều nhân vật trung tâm lẫn thứ yếu. Cấu trúc tự sự phân mảnh xuất hiện nhằm tái hiện thế giới phi tuyến tính và đầy biến động. Thời gian trần thuật bị xáo trộn qua các kỹ thuật hồi ức, đồng hiện và dự cảm tương lai. Việc luân chuyển điểm nhìn liên tục giúp tác phẩm nắm bắt trọn vẹn các khía cạnh ẩn khuất của hiện thực. Độc giả có cơ hội tiếp cận sự kiện dưới nhiều lăng kính thẩm mỹ đa dạng.

3.2. Đối thoại nội tâm nhân vật và tiếng nói lưỡng thanh

Thế giới nội tâm của nhân vật được khai thác sâu sắc qua hình thức đối thoại bên trong. Đối thoại nội tâm nhân vật làm bộc lộ những xung đột giằng xé giữa thiện và ác, giữa bổn phận và dục vọng cá nhân. Tâm trí nhân vật trở thành đấu trường của những luồng suy nghĩ đối lập. Hiện tượng lời lưỡng thanh xuất hiện phổ biến trong lời văn nghệ thuật. Một lời nói có thể mang hai ý hướng nghĩa khác nhau, vừa khẳng định vừa tự hoài nghi và phản bác chính mình. Kỹ thuật dòng ý thức và độc thoại nội tâm giúp soi tỏ những tầng sâu vô thức kín đáo nhất. Nhân vật không còn là những hình mẫu tĩnh tại, đơn giản mà trở thành những sinh thể sống động, đầy mâu thuẫn và luôn biến đổi.

IV. Giải thiêng và giải trung tâm trong văn xuôi đổi mới

Xu hướng giải thiêng và giải trung tâm đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa tiểu thuyết Việt Nam. Các biểu tượng thiêng liêng, bất khả xâm phạm của thời kỳ trước được đưa về chiều kích đời thường bình dị. Con người thần thánh hóa, mẫu mực tuyệt đối bị thay thế bằng con người phàm trần với đầy đủ điểm yếu và dục vọng tự nhiên. Quá trình giải trung tâm xóa bỏ vị trí độc tôn của một chân lý duy nhất hay một trung tâm quyền lực bất biến. Mọi giá trị đều được đem ra khảo nghiệm và chất vấn qua góc nhìn đối thoại đa chiều. Sự sụp đổ của các đại tự sự mở đường cho những câu chuyện nhỏ, những số phận bên lề lên tiếng. Đây là bước tiến quan trọng xác lập quyền tự do sáng tạo nghệ thuật đích thực.

4.1. Giải thiêng các biểu tượng và đưa con người về đời thường

Giải thiêng không đồng nghĩa với thái độ bôi nhọ hay phủ nhận sạch trơn lịch sử. Đây là nỗ lực nhân bản nhằm nhìn nhận con người trong tính toàn vẹn và chân thực nhất. Các nhân vật anh hùng không còn xuất hiện với vẻ ngoài hoàn hảo, không tỳ vết. Tác phẩm miêu tả họ như những cá nhân bình thường biết sợ hãi, biết đau khổ và có những toan tính riêng tư. Yếu tố thân xác, nhục cảm và bản năng con người được miêu tả trực diện, không còn bị né tránh như trước. Những cây bút như Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Võ Thị Hảo đã thể hiện sự sắc bén trong việc hạ bệ các định kiến thần thánh hóa. Cái nhìn trần tục giúp độc giả thấu hiểu sâu sắc hơn về bi kịch và vẻ đẹp đích thực của thân phận con người.

4.2. Khẳng định vị thế tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Giai đoạn 1986-2010 ghi dấu bước trưởng thành vượt bậc của tiểu thuyết Việt Nam trên con đường hội nhập văn học thế giới. Việc tiếp thu và vận dụng sáng tạo lý thuyết đối thoại tạo ra sự đột phá mạnh mẽ về mặt thi pháp. Tiểu thuyết thoát khỏi khuôn mẫu phản ánh giản đơn để vươn tới tầm vóc của một hình thức sáng tạo liên chủ thể độc đáo. Tác phẩm của các nhà văn Đổi mới khẳng định bản lĩnh nghệ thuật tự chủ, tự tin hòa nhập vào dòng chảy mỹ học đương đại. Những tìm tòi về cấu trúc tự sự, giọng điệu và hình tượng nhân vật mở ra nhiều triển vọng mới cho sự phát triển của văn xuôi nước nhà. Di sản nghệ thuật giai đoạn này đặt nền tảng vững chắc cho các thế hệ cầm bút tiếp tục hành trình cách tân thể loại.

Mục lục chi tiết luận án

LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU
1. Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu lí thuyết đối thoại
1.1.1. Khái lược diễn trình nghiên cứu lí thuyết đối thoại trên thế giới
1.1.2. Tình hình tiếp nhận và nghiên cứu lí thuyết đối thoại ở Việt Nam
2. Chương 2: Lí thuyết đối thoại và sự xuất hiện nguyên lí đối thoại trong văn học Việt Nam từ 1986 đến 2010
3. Chương 3: Đối thoại trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2010 trên bình diện ý thức nghệ thuật
4. Chương 4: Đối thoại trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2010 trên bình diện tổ chức trần thuật
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sĩ ngôn ngữ và văn hóa việt nam nguyên lí đối thoại trong tiểu thuyết việt nam từ 1986 đến 2010

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (154 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

LỜI CẢM ƠN Tôi xin trân trọng cảm ơn PGS. TS Nguyễn Đăng Điệp, PGS. TS Bùi Thanh Truyền đã tận tình chỉ dạy, hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành luận án trong điều kiện tốt nhất. Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Khoa Xã hội & Nhân văn, lãnh đạo Trường Đại học Phú Xuân Huế, lãnh đạo Khoa Ngữ văn, Phòng Sau Đại học, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế đã quan tâm, tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án.

Xin được gửi lời cảm ơn sâu sắc đến gia đình, quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp, những người đã luôn động viên, khuyến khích, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện luận án. Tác giả Lê Thị Thúy Hằng MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1. Nguyên lí đối thoại manh nha xuất hiện từ rất lâu trong đời sống cũng như trong nghệ thuật.

Mặc dù mức độ không nhiều nhưng chúng ta bắt gặp trong đối thoại Socrate, những phản ứng lại các trào lưu, chủ nghĩa nghệ thuật phương Tây… Song, với tư cách là một lí thuyết văn học, phải đến Mikhail Bakhtin (1895 - 1975), tinh thần đối thoại mới trở nên tự giác, riết róng. Sự xuất hiện các công trình lí luận của ông những năm 20 thế kỷ XX thu hút quan tâm trong giới nghiên cứu khoa học và trí thức Liên Xô nói riêng, thế giới nói chung. Ở Việt Nam, lí thuyết M. Bakhtin đánh dấu qua nhiều công trình dịch thuật có giá trị và bắt đầu ảnh hưởng, thẩm thấu từ những năm cuối thế kỷ XX, thập niên đầu thế kỷ XXI trong giới nghiên cứu, phê bình và sáng tác.

Căn nguyên làm nên ma lực của M. Bakhtin nằm ở hệ hình tư duy dựa trên nền tảng triết học nhân bản liên chủ thể. Triết học liên chủ thể của ông xem đối thoại là phạm trù nền. Đối thoại là bản chất của ý thức, bản chất của tư duy con người.

Phát triển tinh thần này, khi nghiên cứu khoa học văn học, nhà nghiên cứu đặc biệt chú ý đến tính đối thoại thể loại tiểu thuyết. Thực tế chứng minh lí thuyết Bakhtin ảnh hưởng suốt thế kỷ XX, bước sang thế kỷ XXI vẫn còn nguyên hấp lực và đâu đó hàm chứa những điều bất khả giải. Luận thuyết của nhà triết học, mỹ học và nghiên cứu văn học khi mới xuất hiện có thể gây phản ứng như cách người ta không chấp nhận tư tưởng vượt ngưỡng so với thời đại. Tuy nhiên, đó là điều đã xảy ra và đã được ghi nhận.

Vì vậy, cho đến nay, nếu Bakhtin đủ căn cứ gọi những cuộc đối thoại kiểu Socrate là tiểu thuyết thời Cổ đại thì ông chính là người cấp cho tiểu thuyết hiện đại căn cốt của lí thuyết đối thoại qua khảo sát Dostoievsky và Rabelais. Bởi ở đó, nhà lí luận nhận ra ý nghĩa giải phóng và giải - vật - hóa con người ở hình thức nghệ thuật, tìm ra “con người trong con người” một cách triệt để nhất, thông qua đối thoại. Tư duy đối thoại thực sự trở nên quen thuộc với đời sống văn học. Cuộc “vượt biên” lí thuyết đối thoại Bakhtin bắt gặp trong tiểu thuyết Việt Nam từ sau năm 1986.

Không khí dân chủ của Đại hội VI (1986) giúp cho văn học Việt Nam phát triển trên tinh thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thật. Tiểu thuyết được dịp tỏ rõ chức năng hàng đầu, sứ mệnh của mình là xét lại, nhận thức lại, đánh giá lại tất cả. 1 Tinh thần nhận thức lại tạo tiền đề cho tiếng nói đa thanh, đa âm sắc, đa giọng điệu. Những nhà văn luôn thể hiện ý thức nhận thức lại qua đối thoại: Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Hồ Anh Thái, Võ Thị Hảo, Tạ Duy Anh, Thuận, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Việt Hà, Đỗ Phấn… Mỗi tác phẩm là cuộc đối thoại của tác giả với tư tưởng thời đại và tạo điều kiện cho những tư tưởng này đối thoại với nhau.

Cái mới nảy sinh qua chính vấn đề đem ra tranh luận, tư biện để tìm ra căn cốt con người trong cuộc hiện sinh nhọc nhằn. Việc giải mã nguyên lí đối thoại là cách để hình dung, tìm hiểu sự vận động của/trong hệ hình tư duy tiểu thuyết Việt Nam đương đại so với mô thức truyền thống, đồng thời khẳng định sự vượt thoát trong ý hướng tính văn chương của tiểu thuyết nhằm làm mới thể loại. Vận dụng lí thuyết đối thoại của M. Bakhtin, đề tài Nguyên lí đối thoại trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2010 của luận án hướng đến soi chiếu, khám phá những giá trị cách tân tiểu thuyết Việt Nam thời kì đổi mới trên tinh thần nhận thức lại.

Ý thức rời xa khỏi lối mòn là dấu hiệu khởi động cho cuộc hành trình đưa tiểu thuyết Việt Nam thoát khỏi mô thức truyền thống để bước vào quỹ đạo chung của văn chương thế giới - một hình thức liên chủ thể sáng tạo. Đó là lí do chúng tôi lựa chọn và thực hiện đề tài này. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài Nguyên lí đối thoại trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2010 hướng đến các mục tiêu cơ bản: Thứ nhất, luận án hệ thống lại lí thuyết đối thoại của các nhà nghiên cứu, chủ yếu là Bakhtin. Chúng tôi cố gắng chỉ ra vấn đề còn tranh cãi, tìm tiếng nói đồng thuận nhằm xây dựng cơ sở lí luận về đối thoại.

Điều này cần thiết cho việc vận dụng nghiên cứu nguyên lí đối thoại trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Thứ hai, mục tiêu chính yếu của luận án là khám phá nguyên lí đối thoại trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1986 trên bình diện ý thức nghệ thuật và cách thức tổ chức trần thuật. Ngoài ra, chúng tôi cũng quan tâm đến các vấn đề quan trọng liên quan như làm rõ sự xuất hiện, vận hành của đối thoại trong tương quan tiếp biến với tiểu thuyết trước 1986. Từ đó, luận án nhận định, đối thoại trên tinh thần nhận thức lại trở thành nguyên lí phổ quát của tiểu thuyết Việt Nam đương đại, góp phần khẳng định những cách tân nhằm đánh giá đúng bước tiến thể loại trong diễn trình hội nhập.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Với mục đích vận dụng lí thuyết đối thoại, đối tượng nghiên cứu của luận án là những nguyên lí, đặc điểm, tinh thần đối thoại bộc lộ trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2010. Chúng tôi không có khả năng cũng như tham vọng chiếm lĩnh tất cả luận giải về đối thoại của các nhà khoa học mà đi vào một số quan niệm chính yếu làm điểm tựa lí thuyết trong quá trình vận dụng. Việc lựa chọn quan niệm lí thuyết bắt nguồn từ trường hợp cụ thể là tiểu thuyết Việt Nam sau 1986.

Tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 đến 2010 từ lí thuyết đối thoại, chúng tôi cũng không định bao quát toàn bộ thực thể này mà chỉ tập trung vào những sáng tác tiêu biểu. Tiêu chí để luận án chọn lựa tiểu thuyết: về mốc thời gian (1986 đến 2010); tác phẩm được dư luận, giới nghiên cứu, phê bình đánh giá cao; mỗi nhà văn đều thử bút ở các đề tài, chủ đề khác nhau, song người viết chủ yếu lựa chọn những tác phẩm tính đối thoại được thể hiện rõ nét nhất (xem thêm Phụ lục Danh mục tiểu thuyết được khảo sát trong đề tài). Ngoài ra, trong quá trình triển khai, để so sánh, đối chiếu nét tương đồng và dị biệt, kế thừa và cách tân cũng như những hạn chế khi vận dụng, chúng tôi mở rộng khảo sát sang tiểu thuyết Việt Nam trước năm 1986 (Dấu chân người lính, Miền cháy, Lửa từ những ngôi nhà (Nguyễn Minh Châu), Đất nước đứng lên (Nguyên Ngọc), Hòn Đất (Anh Đức), Chủ tịch huyện, Cha và con và…, Gặp gỡ cuối năm, Thời gian của người (Nguyễn Khải)… và sau năm 2010 (SBC là săn bắt chuột (Hồ Anh Thái), Đội gạo lên chùa (Nguyễn Xuân Khánh), Ba ngôi của người (Nguyễn Việt Hà), Chảy qua bóng tối, Con mắt rỗng (Đỗ Phấn)… Trong đó, khuynh hướng sử thi của tiểu thuyết giai đoạn 1945 - 1975 được xem là minh chứng phản biện của nguyên lí đối thoại so với tiểu thuyết 1986 - 2010 - đối tượng so sánh nổi bật nhất. Điều này không có nghĩa luận án phủ nhận tiểu thuyết thuộc khuynh hướng sáng tác phi sử thi - bộ phận sáng tác phụ lưu của văn học đô thị miền Nam (1954 - 1975) hoặc tiểu thuyết mười năm đầu sau chiến tranh (1975 - 1985).

Chúng tôi chỉ lựa chọn đối tượng phù hợp để minh chứng cho nguyên lí đối thoại trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2010 và dừng lại ở khối lượng tiểu thuyết nhất định nhằm tránh sự ôm đồm. Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nghiên cứu của luận án là nguyên lí đối thoại trên bình diện ý thức nghệ thuật và cách thức tổ chức trần thuật ở tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 đến 3 2010. Cụ thể: đối thoại trong ý hướng nhận thức lại các giá trị hoàn kết, quan niệm về nhân vật và cách thức xây dựng nhân vật, đời sống thể loại, tổ chức người kể chuyện, điểm nhìn, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật trên nguyên tắc đối thoại. Đặc điểm mang tính phổ quát, đặc thù qua các bình diện nêu trên chính là nguyên lí đối thoại.

Cơ sở lí thuyết và phương pháp nghiên cứu 4. Cơ sở lí thuyết Luận án vận dụng lí thuyết đối thoại mà người khởi nguồn là M. Bakhtin (qua khảo sát tiểu thuyết Dostoievski và Rabelais) vào trường hợp tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2010. Bên cạnh đó, sự tiếp biến lí thuyết được các nhà cấu trúc và hậu cấu trúc tường giải.

Vì vậy, lí thuyết đối thoại M. Bakhtin và những nhà nghiên cứu tiếp thu, ảnh hưởng trực tiếp/gián tiếp như J. Foucal, Derida… là điểm tựa lí thuyết đối thoại của luận án. Ở Việt Nam, sau năm 1986, trên tinh thần dân chủ của không khí đổi mới, đối thoại thực sự trở thành nguyên lí chi phối toàn bộ văn học.

Tiểu thuyết là thể loại in đậm dấu ấn của nguyên lí này. Nguyên lí lí thuyết đối thoại M. Bakhtin xuất phát từ những đặc điểm thi pháp học của thể loại tiểu thuyết. Ngoài ra, trong quá trình triển khai đề tài, chúng tôi vận dụng lí thuyết tự sự học, hậu hiện đại… để nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu Thực hiện luận án, chúng tôi kết hợp nhiều phương pháp và thao tác nghiên cứu khác nhau. Trong đó, phương pháp chủ yếu là: - Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Sử dụng kiến thức của các ngành khoa học xã hội khác như: nghệ thuật, triết học, văn hóa, tâm lý, chính trị.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Lê Thị Thúy Hằng (n.d.). Nguyên lý đối thoại trong tiểu thuyết Việt Nam 1986-2010 [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế]. LuanAn.net. https://luanan.net/van-hoc/van-hoc-viet-nam/nguyn-li-duoi-dao-trong-tieu-thuyen-viet-nam-1986-2010

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Nguyên lý đối thoại trong tiểu thuyết Việt Nam 1986-2010" nghiên cứu về vấn đề gì?

Nghiên cứu chuyên sâu về nguyên lý đối thoại trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986-2010, phân tích xu hướng sáng tác và vai trò trong xây dựng nhân vật.

Luận án "Nguyên lý đối thoại trong tiểu thuyết Việt Nam 1986-2010" được bảo vệ tại trường nào?

Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế.

Luận án "Nguyên lý đối thoại trong tiểu thuyết Việt Nam 1986-2010" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Nguyên lý đối thoại trong tiểu thuyết Việt Nam 1986-2010" thuộc chuyên ngành Ngữ văn. Danh mục: Văn Học Việt Nam.

Luận án "Nguyên lý đối thoại trong tiểu thuyết Việt Nam 1986-2010" có bao nhiêu trang?

Luận án "Nguyên lý đối thoại trong tiểu thuyết Việt Nam 1986-2010" có 154 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Nguyên lý đối thoại trong tiểu thuyết Việt Nam 1986-2010" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter