Luận án tiến sĩ truyện ngắn việt nam sau 1975 nhìn từ góc độ thể loại
Luận án tiến sĩ nghiên cứu truyện ngắn Việt Nam sau 1975 dưới góc nhìn lý luận văn học. Phân tích xu hướng đổi mới nghệ thuật và giá trị thẩm mỹ.
Văn học Việt Nam
Luan An
Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản
Số trang
188
Thời gian đọc
29 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Mục lục chi tiết
Tóm tắt nội dung
I.Tổng quan truyện ngắn Việt Nam hậu 1975 Góc nhìn thể loại
Truyện ngắn Việt Nam sau 1975 trải qua giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ. Thể loại văn học có bản chất vừa ổn định vừa biến đổi. Nó phản ánh xu hướng phát triển vĩnh hằng của văn học. Nghiên cứu thể loại giúp khám phá sâu sắc lịch sử văn học. Đặc biệt là văn học sau 1975. Luận án tiến sĩ văn học này tập trung vào sự vận động của truyện ngắn. Nó phân tích các đặc điểm, yếu tố thi pháp học. Truyện ngắn chứng tỏ sự năng động. Nó thể hiện ưu thế trong việc định hình văn học đương đại. Đây là thể loại linh hoạt, nhạy bén trước mọi biến chuyển xã hội.
1.1. Quan trọng của nghiên cứu thể loại
Văn học luôn biến đổi. Thể loại là khung giữ vững những đặc trưng cốt yếu. Đồng thời, nó liên tục cách tân. Mỗi tác phẩm mới góp phần làm nên sự phát triển. Việc quan sát vận động thể loại là cần thiết. Nó có ý nghĩa quan trọng cho phê bình văn học. Điều này giúp hiểu rõ hơn về văn học hậu chiến.
1.2. Sự vận động của truyện ngắn Việt Nam
Truyện ngắn hiện đại hình thành sớm. Nó đã đạt nhiều thành tựu qua các giai đoạn. Đặc biệt sau 1975, thể loại này sôi nổi. Nó phản ánh sự nhạy bén. Truyện ngắn chứng tỏ ưu thế trong bối cảnh chuyển giao lịch sử. Nó trở thành một phần quan trọng của văn học đổi mới.
1.3. Mục tiêu luận án tiến sĩ văn học
Luận án tập trung vào truyện ngắn Việt Nam sau 1975. Mục tiêu là tìm hiểu diện mạo lịch sử thể loại. Phân tích sự thay đổi từ góc nhìn thể loại. Việc này cung cấp cái nhìn toàn diện về quá trình phát triển. Đồng thời khẳng định vị trí của truyện ngắn trong nền văn học hiện đại.
II.Bối cảnh văn học sau 1975 Tiền đề cho đổi mới truyện ngắn
Năm 1975, chiến tranh kết thúc. Đất nước thống nhất, cuộc sống bình thường trở lại. Văn học Việt Nam bước vào giai đoạn mới. Nó vừa kế thừa thành tựu trước đó. Đồng thời phát triển với những nguyên tắc, khuynh hướng mới. Quá trình đổi mới văn học bắt đầu sớm. Ngay sau 1975, trong văn xuôi đã có những chuyển biến. Điều này đi trước công cuộc Đổi mới toàn diện vào cuối năm 1986. Nhiều tác giả đã tiên phong trong việc đổi mới tư duy, sáng tạo. Họ tạo tiền đề cho sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam, thoát ly chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa.
2.1. Chuyển đổi lịch sử văn học
Sau 1975, sứ mệnh văn học thay đổi. Từ phục vụ kháng chiến. Sang phản ánh cuộc sống hòa bình, xây dựng đất nước. Nền văn học cần những cách nhìn mới. Điều này mở ra không gian rộng lớn. Dành cho sự thể nghiệm và sáng tạo của văn học hậu chiến.
2.2. Khởi phát đổi mới trong văn xuôi
Văn xuôi là lĩnh vực tiên phong đổi mới. Ngay sau 1975, các tiểu thuyết, truyện ngắn đã có những tín hiệu. Những tác phẩm như 'Thời xa vắng', 'Bến quê' xuất hiện. Chúng thể hiện một cách nhìn khác. Về con người và hiện thực xã hội. Đánh dấu bước đầu của văn học đổi mới.
2.3. Tư duy mới về con người hiện thực
Nhà văn nhận thức lại nhiều vấn đề. Về chiến tranh, thế sự, đời tư. Số phận con người trong bối cảnh lịch sử mới. Cách nhìn mới mẻ này là động lực. Nó thúc đẩy đổi mới phương thức xây dựng hình tượng nghệ thuật. Đồng thời đổi mới đặc điểm thi pháp học của tác phẩm.
III.Đổi mới thi pháp truyện ngắn Việt Nam Từ chiến tranh đến hòa bình
Sự đổi mới thi pháp học trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 diễn ra mạnh mẽ. Nhiều nhà văn đã có những thể nghiệm táo bạo. Họ không đợi đến Đổi mới năm 1986. Nhu cầu đổi mới tư duy sáng tạo đã hình thành. Điều này thể hiện rõ trong các tác phẩm. Từ những tiểu thuyết đến truyện ngắn. Các tác giả tiên phong đã mang đến diện mạo mới. Họ thay đổi cách kể chuyện, xây dựng nhân vật. Qua đó, phản ánh một xã hội đang chuyển mình. Điều này định hình văn học đương đại, vượt lên những giới hạn của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa truyền thống.
3.1. Các tác giả tiên phong
Lê Lựu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Mạnh Tuấn có những tiểu thuyết nổi bật. Thái Bá Lợi, Xuân Thiều, Nguyễn Minh Châu có truyện ngắn giá trị. Họ là những người khởi xướng. Mang đến luồng gió mới cho văn học Việt Nam. Tạo nên nền tảng vững chắc cho văn học đổi mới.
3.2. Phương thức xây dựng hình tượng nghệ thuật
Cách xây dựng nhân vật thay đổi. Không còn khuôn mẫu anh hùng. Tập trung vào cá nhân, số phận đời thường. Nhân vật phức tạp hơn. Có chiều sâu nội tâm hơn. Điều này thể hiện sự chuyển dịch. Từ chủ nghĩa hiện thực sử thi. Sang hiện thực đời thường.
3.3. Đặc điểm thi pháp mới
Sự đổi mới thi pháp bao gồm nhiều khía cạnh. Thay đổi cấu trúc tự sự học. Đa dạng hóa điểm nhìn, giọng điệu kể chuyện. Thử nghiệm các hình thức biểu đạt mới. Điều này làm cho truyện ngắn trở nên phong phú. Nó mang hơi thở của thời đại mới.
IV.Đặc trưng thể loại truyện ngắn hiện đại Phát triển và cách tân
Truyện ngắn Việt Nam sau 1975 thể hiện nhiều đặc trưng nổi bật. Thể loại này chứng tỏ bản chất năng động, linh hoạt. Nó nhanh chóng thích ứng với những biến đổi xã hội. Từ chiến tranh sang hòa bình, từ tập thể đến cá nhân. Truyện ngắn nhạy bén trong việc nắm bắt hiện thực. Nó khám phá chiều sâu nội tâm con người. Đồng thời, tác phẩm thể hiện sự cách tân mạnh mẽ về hình thức. Nhiều yếu tố tự sự học, narratology được ứng dụng. Điều này góp phần làm phong phú thể loại. Nó vượt thoát những giới hạn trước đây, xây dựng một diện mạo mới cho văn học hậu chiến.
4.1. Bản chất năng động linh hoạt
Truyện ngắn có khả năng thích ứng cao. Nó phản ánh nhanh chóng các vấn đề nóng bỏng. Từ thời sự đến đời tư. Thể loại này nhỏ gọn. Nó dễ dàng được sáng tạo. Truyện ngắn giữ vai trò quan trọng trong việc thể hiện hơi thở thời đại.
4.2. Khám phá chiều sâu nội tâm
Tác phẩm tập trung khai thác nội tâm nhân vật. Đi sâu vào những phức tạp tâm lý. Về những trăn trở, dằn vặt của con người. Đặc biệt là những người sau chiến tranh. Điều này khác biệt so với văn học trước 1975. Nó thể hiện sự chuyển hướng lớn.
4.3. Các yếu tố tự sự học được ứng dụng
Nhà văn thử nghiệm các kỹ thuật kể chuyện mới. Thay đổi ngôi kể, điểm nhìn, thời gian trần thuật. Ứng dụng lý thuyết tự sự học, narratology. Tạo ra nhiều cấu trúc truyện độc đáo. Góp phần làm đa dạng diện mạo thể loại. Nâng cao giá trị nghệ thuật của truyện ngắn Việt Nam.
V.Ý nghĩa nghiên cứu phê bình văn học Nâng tầm truyện ngắn
Nghiên cứu luận án tiến sĩ văn học này mang ý nghĩa quan trọng. Nó góp phần vào phê bình văn học Việt Nam. Giúp đánh giá đúng giá trị của truyện ngắn sau 1975. Luận án không chỉ nhận diện các xu hướng mới. Nó còn xác lập vị trí của truyện ngắn. Trong dòng chảy văn học hiện đại. Nghiên cứu này chứng minh vai trò tiên phong của thể loại. Đặc biệt trong giai đoạn đổi mới, hậu chiến. Nó mở ra hướng nghiên cứu mới. Cung cấp cơ sở lý luận cho các công trình tương lai. Đồng thời khẳng định tầm quan trọng của thể loại trong việc phản ánh lịch sử và xã hội.
5.1. Góp phần vào phê bình văn học
Luận án cung cấp cái nhìn khoa học. Về sự phát triển của truyện ngắn sau 1975. Nó giúp phân tích sâu các đặc điểm nghệ thuật. Nhận diện những đóng góp của từng tác giả. Đây là cơ sở cho các công trình phê bình văn học tiếp theo.
5.2. Định hình lịch sử văn học Việt Nam
Nghiên cứu xác lập vị trí của truyện ngắn. Nó khẳng định vai trò tiên phong của thể loại này. Trong quá trình hiện đại hóa văn học. Luận án góp phần xây dựng một bức tranh toàn diện. Về văn học Việt Nam đương đại, văn học đổi mới.
5.3. Mở ra hướng nghiên cứu mới
Công trình này là nền tảng. Cho việc tiếp tục nghiên cứu văn học hậu chiến. Đặc biệt là từ góc độ thể loại, thi pháp học. Nó khuyến khích các tiếp cận liên ngành. Để khám phá sâu hơn về văn học Việt Nam sau 1975. Cụ thể là ứng dụng narratology.
VI.Phương pháp luận tiếp cận truyện ngắn Áp dụng tự sự học
Luận án tiến sĩ văn học này áp dụng phương pháp luận chặt chẽ. Trọng tâm là nghiên cứu thể loại. Phân tích các đặc điểm cấu trúc, nội dung. Từ đó nhìn nhận sự biến đổi của truyện ngắn Việt Nam sau 1975. Nghiên cứu sử dụng các lý thuyết thi pháp học hiện đại. Đặc biệt là tự sự học (narratology). Điều này giúp phân tích sâu về các yếu tố kể chuyện. Như điểm nhìn, giọng điệu, thời gian. Phương pháp này cung cấp cái nhìn toàn diện. Về cách thức thể loại truyện ngắn đã đổi mới. Nó vượt lên những giới hạn của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trước đây.
6.1. Nghiên cứu thể loại là trọng tâm
Luận án tập trung vào phân tích thể loại truyện ngắn. Nó xem xét các đặc trưng. Cũng như sự biến đổi nội tại của thể loại. Việc này giúp hiểu rõ cơ chế vận động. Và sự thích nghi của truyện ngắn Việt Nam hậu chiến.
6.2. Ứng dụng thi pháp học và tự sự học
Các công cụ từ thi pháp học được sử dụng. Đặc biệt là lý thuyết tự sự học (narratology). Nó phân tích cấu trúc kể chuyện. Điểm nhìn, giọng điệu, thời gian. Điều này giúp làm rõ những cách tân nghệ thuật. Trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975.
6.3. Tiếp cận liên ngành trong phê bình văn học
Nghiên cứu kết hợp nhiều lý thuyết. Từ văn học, xã hội, lịch sử. Nó đánh giá toàn diện các tác phẩm. Việc này cung cấp một cái nhìn đa chiều. Về sự phát triển của truyện ngắn. Đặc biệt trong bối cảnh văn học đổi mới.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (188 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ NĂM HOÀNG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975 - NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ LOẠI LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC Hà Nội - 2016 1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGUYỄN THỊ NĂM HOÀNG TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM SAU 1975 - NHÌN TỪ GÓC ĐỘ THỂ LOẠI Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 62 22 34 01 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: 1. TS LÊ VĂN LÂN 2. TS HÀ VĂN ĐỨC Hà Nội - 2016 2 LỜI CẢM ƠN Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS. TS Lê Văn Lân và PGS.
TS Hà Văn Đức (Khoa Văn học, Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội), những ngƣời thầy đã tận tình hƣớng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu và thực hiện luận án này. Xin đƣợc gửi lời cảm ơn trân trọng tới các thầy cô giáo đã đào tạo, dìu dắt tôi trong nhiều năm qua để tôi có đƣợc tri thức và phƣơng pháp trong nghiên cứu khoa học. Tôi cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo và đồng nghiệp tại Khoa Văn học – Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã luôn luôn động viên, tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập, công tác và hoàn thành luận án này. NGHIÊN CỨU SINH Nguyễn Thị Năm Hoàng 3 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan rằng: - Luận án Tiến sĩ này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi dƣới sự hƣớng dẫn của tập thể hƣớng dẫn khoa học, chƣa từng đƣợc công bố trong các công trình nghiên cứu của ngƣời khác.
- Kết quả nghiên cứu của các nhà nghiên cứu khác đã đƣợc tiếp thu một cách trung thực, cẩn trọng trong luận án. NGHIÊN CỨU SINH Nguyễn Thị Năm Hoàng 4 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài “Thể loại văn học trong bản chất phản ánh những khuynh hƣớng phát triển vững bền, vĩnh hằng của văn học, và các thể loại văn học tồn tại để gìn giữ, đổi mới thƣờng xuyên các khuynh hƣớng ấy. Do đó mà thể loại văn học luôn luôn vừa mới, vừa cũ, vừa biến đổi, vừa ổn định” [150, tr.
Trong quá trình sáng tạo, mỗi nhà văn khi kiến tạo tác phẩm thuộc một thể loại nhất định, một mặt bảo lƣu những đặc trƣng cốt yếu của thể loại, mặt khác không ngừng tìm tòi, cách tân để tác phẩm của mình có đƣợc diện mạo, sức sống riêng, nhờ thế góp phần làm nên sự biến đổi, phát triển của thể loại ấy. Việc quan sát sự vận động của các thể loại trong mỗi nền văn học là một công việc cần thiết, có ý nghĩa quan trọng đối với nghiên cứu lịch sử văn học nói chung. Văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX đã thực hiện một công cuộc hiện đại hóa mau lẹ và phức tạp để tiến một bƣớc dài từ phạm trù trung đại sang phạm trù hiện đại, từ quỹ đạo vùng Đông Á gia nhập vào quỹ đạo toàn thế giới. Một trong những biểu hiện rõ nét nhất của công cuộc hiện đại hóa đó là sự phá vỡ mô hình thể loại truyền thống, hình thành cấu trúc thể loại mới với tự sự, trữ tình và kịch.
Vận động trong dòng chảy chung đó của cả nền văn học, truyện ngắn hiện đại đƣợc hình thành và qua các giai đoạn 1932 – 1945, 1945 – 1975 đã đạt đƣợc nhiều thành tựu, đánh dấu những bƣớc đi quan trọng của thể loại. Năm 1975, chiến tranh kết thúc, miền Nam đƣợc giải phóng, đất nƣớc thống nhất, cuộc sống trở về với quỹ đạo bình thƣờng của nó. Hoàn thành sứ mệnh phục vụ kháng chiến, nền văn học từ năm 1975 đến nay vừa kế thừa thành tựu của giai đoạn trƣớc, vừa vận động và phát triển với những nguyên tắc, những khuynh hƣớng, những đặc điểm mới. Nếu nhƣ thơ ca phải đợi đến sau năm 1986 mới thực sự có đƣợc những bƣớc ngoặt quan trọng cho quá trình đổi mới thì trong văn xuôi, quá trình này đã đƣợc khởi tạo ngay sau năm 1975.
Với một cách nhìn mới mẻ về con ngƣời và hiện thực, nhiều tác giả văn xuôi đã từng bƣớc đổi mới phƣơng thức 5 xây dựng hình tƣợng nghệ thuật và những đặc điểm thi pháp của tác phẩm, trong đó sớm nhất phải kể tới những tiểu thuyết của Lê Lựu (Thời xa vắng), Ma Văn Kháng (Mưa mùa hạ, Mùa lá rụng trong vườn), Nguyễn Mạnh Tuấn (Đứng trước biển, Cù lao Tràm), Nguyễn Khải (Cha và Con, và…, Gặp gỡ cuối năm) hay truyện ngắn của Thái Bá Lợi (Hai người trở lại trung đoàn), Xuân Thiều (Gió từ miền cát), Nguyễn Minh Châu (Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bến quê)… Cuộc chiến tranh vừa đi qua của dân tộc và những vấn đề về thế sự, đời tƣ, số phận con ngƣời trong điều kiện lịch sử mới đã đƣợc tƣ duy, nhận thức một cách mới mẻ. Có thể nói, không đợi đến công cuộc đổi mới toàn diện đất nƣớc đƣợc Đảng khởi xƣớng vào cuối năm 1986, nhu cầu đổi mới tƣ duy và những thể nghiệm đổi mới đã đƣợc các nhà văn hiện thực hoá mạnh mẽ trong văn chƣơng ngay khi chiến tranh kết thúc, đất nƣớc bƣớc vào giai đoạn hòa bình, dựng xây. Những biến chuyển đó đã phác thảo nên một thời kỳ phát triển mới cho nền văn học: thời kỳ đƣơng đại. Trong bức tranh chung đó, những thành tựu đổi mới của truyện ngắn đã đƣợc xác lập rất sớm và sôi nổi.
Có thể nói thể loại tự sự cỡ nhỏ năng động, linh hoạt này đã chứng tỏ sự nhạy bén cũng nhƣ ƣu thế của nó trong bƣớc chuyển và sự định hình của văn học Việt Nam bốn mƣơi năm qua. Thực tế trên đặt ra một nhiệm vụ: tìm hiểu diện mạo lịch sử của truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 từ góc nhìn thể loại. Đã có những công trình nghiên cứu về truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 trên những mảng vấn đề, những khía cạnh khác nhau, chẳng hạn nghiên cứu về các tác giả và nhóm tác giả truyện ngắn tiêu biểu; về bộ phận truyện ngắn đƣợc đăng tải trên một số tờ báo, tạp chí; về đặc điểm truyện ngắn từng vùng miền, từng chặng đƣờng phát triển cụ thể v.v… Theo quan sát của chúng tôi, nếu tiểu thuyết và thơ đã đƣợc quan tâm nghiên cứu một cách bao quát và chi tiết trong nhiều công trình khoa học về lý luận cũng nhƣ lịch sử thể loại, thì đến nay vẫn còn thiếu vắng những công trình soi rọi một cách có hệ thống truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 từ góc độ thể loại để thấy đƣợc sự vận động biến đổi của thể loại trong giai đoạn này so với các giai đoạn trƣớc, cũng nhƣ trong tƣơng quan với các thể loại khác của cùng giai 6 đoạn – tức là chỉ ra đƣợc những đặc điểm của thể loại xét từ cả hai chiều lịch đại và đồng đại. Xuất phát từ những tiền đề lý luận và thực tiễn nhƣ trên, luận án này của chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu là Truyện ngắn Việt Nam sau 1975 - nhìn từ góc độ thể loại.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 2. Đối tượng nghiên cứu Chúng tôi xác định đối tƣợng nghiên cứu của luận án là những đặc điểm cho thấy sự vận động và đổi mới của truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975 xét trên phƣơng diện thể loại, đó là những đặc điểm về dung lƣợng, tình huống, kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ và giọng điệu. Phạm vi nghiên cứu Về phạm vi nghiên cứu, luận án khảo sát và nghiên cứu truyện ngắn Việt Nam trong giai đoạn từ năm 1975 đến nay. Tuy nhiên, đứng trƣớc sự hiện diện vô cùng đa dạng và phong phú của truyện ngắn trong văn học Việt Nam giai đoạn này, với một số lƣợng lớn tác giả, tác phẩm và rất nhiều kiểu loại, nhiều khuynh hƣớng, phong cách, chúng tôi tập trung nghiên cứu nhiều hơn vào những tác phẩm thể hiện rõ nhất sự vận động, đổi mới của thể loại, và phù hợp với hƣớng tiếp cận của chúng tôi.
Đó là các tác phẩm đã đạt các giải thƣởng văn học, các tác phẩm khi công bố đã tạo nên dƣ luận sôi nổi, và tác phẩm của những nhà văn đã định hình phong cách, đƣợc biết đến rộng rãi trong công chúng văn học, đƣợc các giáo trình, các bài viết có uy tín về văn học Việt Nam giai đoạn này đánh giá là tiêu biểu. Với giới hạn về quy mô và khả năng bao quát tƣ liệu, những sáng tác truyện ngắn bằng tiếng Việt ở nƣớc ngoài giai đoạn này không thuộc phạm vi nghiên cứu của chúng tôi trong luận án. Do đối tƣợng nghiên cứu vẫn đang tiếp tục vận động và phát triển, chúng tôi xác định mốc thời gian sau cùng cho những tác phẩm trong phạm vi khảo sát của luận án là những truyện ngắn đƣợc xuất bản năm 2014. 7 Chúng tôi hy vọng thông qua đó, có thể thấy đƣợc, tuy không phải tất cả, những đặc điểm nổi bật của truyện ngắn Việt Nam sau 1975 từ góc độ thể loại.
Bên cạnh đó, một số truyện ngắn tiêu biểu trong những giai đoạn phát triển trƣớc đó và một số tác phẩm đồng đại thuộc các thể loại khác cũng sẽ đƣợc liên hệ, đối sánh tới khi cần thiết. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3. Mục đích nghiên cứu Với đề tài Truyện ngắn Việt Nam sau 1975 – nhìn từ góc độ thể loại, luận án hƣớng đến mục đích nhận diện các đặc điểm thi pháp của truyện ngắn Việt Nam sau năm 1975, từ đó tổng kết, khái quát những thành tựu cũng nhƣ những điểm dừng, hạn chế của thể loại này trong bối cảnh chung của văn học Việt Nam đƣơng đại. Nhiệm vụ nghiên cứu Trên cơ sở khảo sát đối tƣợng nghiên cứu, luận án tìm hiểu sự vận động về mặt thể loại của truyện ngắn Việt Nam sau 1975 trên các phƣơng diện: sự co giãn về dung lƣợng tác phẩm, sự xâm nhập và giao thoa của các phƣơng thức tự sự, sự vận động trong các kiểu tình huống chính, sự đa dạng hóa các hình thức kết cấu, nghệ thuật xây dựng nhân vật và ngôn ngữ.
Luận án cũng đặt truyện ngắn Việt Nam sau 1975 trong tiến trình vận động và phát triển của thể loại truyện ngắn ở Việt Nam, chỉ ra đƣợc tính kế thừa và những biến thiên, cách tân của thể loại trong giai đoạn này so với những giai đoạn trƣớc. Từ đó, chúng tôi đƣa ra một số đánh giá về những thành tựu và lý giải những điểm dừng, giới hạn của truyện ngắn trong bối cảnh chung của các thể loại văn học đƣơng đại Việt Nam.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Luận án tiến sĩ truyện ngắn việt nam sau 1975 nhìn từ góc độ" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án tiến sĩ nghiên cứu truyện ngắn Việt Nam sau 1975 dưới góc nhìn lý luận văn học. Phân tích xu hướng đổi mới nghệ thuật và giá trị thẩm mỹ.
Luận án "Luận án tiến sĩ truyện ngắn việt nam sau 1975 nhìn từ góc độ" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Năm bảo vệ: 2016.
Luận án "Luận án tiến sĩ truyện ngắn việt nam sau 1975 nhìn từ góc độ" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Luận án tiến sĩ truyện ngắn việt nam sau 1975 nhìn từ góc độ" thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam. Danh mục: Văn Học Việt Nam.
Luận án "Luận án tiến sĩ truyện ngắn việt nam sau 1975 nhìn từ góc độ" có bao nhiêu trang?
Luận án "Luận án tiến sĩ truyện ngắn việt nam sau 1975 nhìn từ góc độ" có 188 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Luận án tiến sĩ truyện ngắn việt nam sau 1975 nhìn từ góc độ" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.