Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012 - Luận án tiến sĩ Huỳnh Thị Thu Hậu

Luận án tiến sĩ phân tích nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986-2012, khám phá sự phá vỡ truyền thống và cách tân văn học đương đại.

Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án tiến sĩ

Năm xuất bản

Số trang

173

Thời gian đọc

26 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam đổi mới
Số trang:
173 trang
Trường:
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
Chuyên ngành:
Văn học Việt Nam
Năm:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam đổi mới

Nghệ thuật nghịch dị đánh dấu bước chuyển biến sâu sắc của văn xuôi nước nhà. Giai đoạn 1986 - 2012 chứng kiến sự bùng nổ của nhiều khuynh hướng cách tân. Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới từ bỏ lối phản ánh sử thi đơn tuyến. Các nhà văn tìm kiếm phương thức biểu đạt mới để nắm bắt hiện thực đa chiều. Nghệ thuật nghịch dị trở thành công cụ đắc lực giải cấu trúc các khuôn mẫu cũ. Thủ pháp này phơi bày những góc khuất tâm lý và xung đột xã hội. Tác phẩm của Bảo Ninh, Chu Lai hay Nguyễn Bình Phương mang đậm cảm quan bất an. Cảm quan nghịch dị gắn liền với tinh thần dân chủ và tự do sáng tạo. Văn học không còn minh họa cho các chân lý có sẵn. Tiểu thuyết đương đại Việt Nam 1986 2012 khám phá sâu sắc bản thể con người trong cơn biến động.

1.1. Bối cảnh đổi mới và sự trỗi dậy của cảm quan nghịch dị

Năm 1986 mở ra bước ngoặt lịch sử cho văn học Việt Nam. Xã hội chuyển mình sang kinh tế thị trường với nhiều xáo trộn giá trị. Ý thức cá nhân trỗi dậy mạnh mẽ. Hiện thực đời sống trở nên phức tạp và đầy mâu thuẫn. Các chuẩn mực đạo đức truyền thống đối mặt với thách thức mới. Nghệ thuật nghịch dị tái xuất như một nhu cầu tự thân của sáng tác. Nhà văn dùng cái nghịch dị để phản ánh sự phân rã của các trật tự cũ. Những hiện tượng tha hóa, dị biến xã hội được miêu tả trực diện. Cảm quan nghịch dị giúp giải tỏa những ẩn ức tinh thần thời hậu chiến. Văn học thời kỳ này phá vỡ tính đơn điệu, đón nhận các tư tưởng thẩm mỹ tiến bộ của thế giới.

1.2. Đổi mới quan niệm nghệ thuật về hiện thực và con người

Quan niệm về hiện thực và con người thay đổi căn bản sau năm 1986. Hiện thực không còn là bức tranh thuần nhất, lý tưởng. Đời sống được nhìn nhận qua lăng kính phân mảnh, phi lý và bất toàn. Con người không còn mang vẻ đẹp hoàn hảo kiểu anh hùng ca. Văn học đi sâu vào con người bản năng, đa diện và phức tạp. Nhân vật tiểu thuyết mang đầy vết thương tâm lý và sự giằng xé nội tâm. Cái nghịch dị trong văn học tái hiện con người ở cả phần cao cả lẫn phần thấp hèn. Thân xác và tính dục không còn là vùng cấm nghệ thuật. Nhà văn miêu tả sự va đập giữa cái thiện và cái ác trong mỗi cá nhân. Góc nhìn mới này tạo nên tính chân thực và chiều sâu triết mỹ cho tiểu thuyết.

1.3. Sự tiếp biến cái nghịch dị trong văn học qua các thời kỳ

Cái nghịch dị trong văn học Việt Nam sở hữu truyền thống lâu đời. Yếu tố này bắt nguồn từ các câu chuyện dân gian và lễ hội cổ xưa. Văn học trung đại tiếp tục duy trì yếu tố quái dị qua truyền kỳ và thơ trào phúng. Đến văn học hiện đại đầu thế kỷ 20, nghịch dị hòa vào dòng chảy hiện thực phê phán. Giai đoạn 1986 - 2012, nghệ thuật nghịch dị hồi sinh với diện mạo hoàn toàn mới. Yếu tố nghịch dị tiếp biến mạnh mẽ lý thuyết hiện đại phương Tây. Thủ pháp không dừng ở mức độ gây cười hay răn đe đạo đức. Nghịch dị trở thành hệ thống thi pháp hoàn chỉnh. Tiểu thuyết kết hợp nhuần nhuyễn truyền thống dân tộc với kỹ thuật tự sự đương đại.

II. Lý thuyết grotesque và tiến trình thi pháp tiểu thuyết

Lý thuyết grotesque trong văn học cung cấp hệ thống công cụ phân tích quan trọng. Khái niệm này chỉ sự kết hợp giữa các yếu tố tương phản, dị thường và quái dị. Thi pháp tiểu thuyết hiện đại vận dụng grotesque để tái cấu trúc văn bản nghệ thuật. Grotesque phá hủy ranh giới giữa bi và hài, cao cả và thấp hèn, thực và ảo. Các nhà văn Việt Nam sử dụng thủ pháp này để chất vấn trật tự hiện tồn. Dưới tác động của chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam, grotesque mở rộng biên độ biểu đạt. Tiểu thuyết tiếp nhận các thủ pháp giễu nhại, phân mảnh và giải trung tâm. Nghiên cứu nghịch dị giúp làm rõ sự đổi mới thi pháp tự sự trong giai đoạn văn học chuyển mình.

2.1. Khái niệm grotesque trong văn học và thi pháp tiểu thuyết

Grotesque trong văn học xuất phát từ thuật ngữ hội họa thời Phục hưng. Khái niệm chỉ sự pha trộn kỳ quặc giữa người, động vật và cỏ cây. Trong thi pháp học, grotesque tạo ra hình ảnh biến dạng và đảo lộn logic thông thường. Thủ pháp này khơi gợi cảm giác vừa kinh ngạc vừa buồn cười. Tiểu thuyết đương đại Việt Nam 1986 2012 áp dụng triệt để nguyên lý biến dạng này. Cấu trúc cốt truyện truyền thống bị phá vỡ hoàn toàn. Mạch tự sự đứt gãy, đa tuyến và phi tuyến tính. Tác giả biến tiểu thuyết thành không gian đối thoại mở. Người đọc phải chủ động giải mã các tầng nghĩa ẩn giấu sau hình thức quái dị.

2.2. Lý thuyết cacnavan Mikhail Bakhtin và tiếng cười giải thiêng

Lý thuyết cacnavan Mikhail Bakhtin đóng vai trò nền tảng trong nghiên cứu nghịch dị. Lễ hội cacnavan xóa bỏ mọi tôn ti trật tự và ranh giới đẳng cấp. Tiếng cười giải thiêng trong lễ hội hạ bệ các giá trị thiêng liêng cứng nhắc. Tiểu thuyết Việt Nam đổi mới vận dụng tinh thần cacnavan một cách sinh động. Tiếng cười nghịch dị vang lên từ chốn bình dân, đường phố và sinh hoạt đời thường. Các nhân vật quyền uy bị giải thiêng bằng sự hài hước và suồng sã. Tiếng cười không nhằm tiêu diệt mà để tái sinh và giải phóng tinh thần. Mikhail Bakhtin khẳng định grotesque phục vụ sự tự do tuyệt đối của tư duy nghệ thuật.

2.3. Dấu ấn chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam

Chủ nghĩa hậu hiện đại trong văn học Việt Nam tạo mảnh đất màu mỡ cho nghịch dị. Các nhà văn thời kỳ này từ chối đại tự sự và chân lý tuyệt đối. Kỹ thuật lắp ghép, liên văn bản và tự sự phi lý được sử dụng dày đặc. Tác phẩm của Đặng Thân, Thuận, Nguyễn Việt Hà thể hiện rõ đặc trưng này. Nghệ thuật nghịch dị đóng vai trò hạt nhân trong thi pháp hậu hiện đại. Thủ pháp giễu nhại làm lung lay các khuôn mẫu tư duy cố định. Văn bản nghệ thuật trở thành trò chơi của các biểu tượng và mảnh ghép ngôn từ. Tính chất bất định và thế giới quan đa chiều định hình diện mạo văn học mới.

III. Hình tượng thân xác biến dạng trong tiểu thuyết đương đại

Hình tượng thân xác biến dạng là biểu hiện nổi bật của thi pháp nghịch dị. Nhà văn phơi bày các dị tật thể xác và sự suy thoái tinh thần. Hình tượng phản ánh chấn thương sâu sắc của con người thời hậu chiến và đổi mới. Không gian và thời gian trong tiểu thuyết cũng chịu sự biến dạng tương tự. Không gian sinh tồn trở nên ngột ngạt, bất an và đảo lộn trật tự. Thời gian mất đi tính liên tục, chuyển động hỗn loạn giữa quá khứ và hiện tại. Tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh khắc họa chân thực thế giới bất ổn này. Nghệ thuật nghịch dị biến thể xác và hoàn cảnh thành phép ẩn dụ xã hội mạnh mẽ.

3.1. Hình tượng thân xác biến dạng và nhân vật biếm họa

Hình tượng thân xác biến dạng xuất hiện dày đặc trong tiểu thuyết giai đoạn này. Các nhân vật thường mang dị tật, khiếm khuyết hoặc suy đồi thể xác. Thân xác bị mổ xẻ, phân mảnh để phản chiếu sự tổn thương tâm hồn. Bên cạnh đó, kiểu nhân vật biếm họa bộc lộ sự tha hóa nhân cách. Nhà văn phóng đại các nét dị hợm, lố lăng của kẻ cơ hội và tham lam. Nhân vật lệch pha giới cũng xuất hiện để chất vấn các định kiến xã hội. Những hình tượng méo mó này lột tả chân dung trần trụi của xã hội biến động. Thân xác biến dạng vừa là nạn nhân vừa là sản phẩm của thời đại.

3.2. Không gian nông thôn và thành thị đầy bất an nghịch dị

Không gian nghệ thuật mang đậm dấu ấn nghịch dị và ngột ngạt. Làng quê nông thôn không còn giữ vẻ yên bình thơ mộng truyền thống. Nông thôn biến thành nơi chôn giấu thù hằn, tranh chấp và tập tục cổ hủ. Tác phẩm Mảnh đất lắm người nhiều ma thể hiện rõ bi kịch không gian này. Trong khi đó, không gian thành thị hiện lên như mê cung hỗn loạn và tha hóa. Đô thị là nơi con người bị cô lập, xói mòn tình cảm và chạy theo đồng tiền. Cả làng quê lẫn phố thị đều trở thành không gian nghịch dị đầy bất an. Môi trường sống phản ánh trực tiếp sự khủng hoảng tinh thần của con người đương đại.

3.3. Thời gian phi tuyến tính xóa nhòa sinh thành và hủy diệt

Thời gian trong tiểu thuyết nghịch dị vận động phi tuyến tính và dị thường. Trục thời gian tuyến tính truyền thống bị bẻ gãy hoàn toàn. Quá khứ, hiện tại và tương lai đan cài hỗn độn trong dòng tâm tưởng. Nhà văn nhìn nhận quá khứ qua lăng kính hoài nghi và bất thường. Thời gian xóa nhòa ranh giới giữa cái sinh thành và cái hủy diệt. Sự sống và cái chết liên tục hoán đổi vị trí cho nhau. Cảm quan thời gian bất tận khơi gợi nỗi ám ảnh về sự vô thường của kiếp người. Cách xử lý thời gian này phản ánh tư duy triết học sâu sắc của văn học đổi mới.

IV. Phương thức biểu hiện nghệ thuật nghịch dị đương đại

Phương thức biểu hiện nghệ thuật nghịch dị mang lại diện mạo mới cho tiểu thuyết. Ngôn ngữ tự sự thoát khỏi lối diễn đạt trang nghiêm, mẫu mực truyền thống. Các nhà văn đưa chất liệu đời sống thô ráp và khẩu ngữ vào trang viết. Giọng điệu trần thuật biến hóa đa dạng và linh hoạt. Thái độ giễu nhại, hoài nghi và tự trào chiếm ưu thế trong nhiều tác phẩm. Hệ thống biểu tượng nghệ thuật được xây dựng dày đặc và nhiều tầng ý nghĩa. Biểu tượng tính dục, giấc mơ và mê cung trở thành phương tiện khám phá vô thức. Toàn bộ các phương thức này làm phong phú thi pháp tiểu thuyết đương đại Việt Nam 1986 2012.

4.1. Ngôn ngữ quảng trường suồng sã và văn hóa mạng

Ngôn ngữ tiểu thuyết đổi mới đậm chất hội hè và đời thường. Nhà văn sử dụng ngôn ngữ quảng trường suồng sã với tiếng lóng, khẩu ngữ và từ thô mộc. Lối nói này đập tan tính chất trang trọng, quan phương của văn học cũ. Tinh thần đối thoại dân chủ thấm nhuần trong từng câu chữ. Ngoài ra, ngôn ngữ mạng và ngôn ngữ trò chơi thâm nhập mạnh mẽ vào tác phẩm đương đại. Cấu trúc câu văn linh hoạt, ngắn gọn, giàu tính thông tin và nhịp điệu nhanh. Sự kết hợp các tầng ngôn ngữ tạo nên bức tranh đa thanh và sống động. Ngôn ngữ nghệ thuật nghịch dị phản ánh chân thực nhịp sống đô thị hóa hối hả.

4.2. Giọng điệu giễu nhại và nỗi âu lo mang tính tự trào

Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết nghịch dị chuyển dịch phong phú. Giọng ca ngợi sử thi nhường chỗ cho giọng giễu nhại và mỉa mai sâu cay. Nhà văn sử dụng tiếng cười giải thiêng để phê phán thói đạo đức giả. Bên cạnh sự châm biếm, giọng điệu bất tín và âu lo bao trùm tác phẩm. Nhân vật luôn hoài nghi về bản thân và thực tại xung quanh. Giọng tự trào xuất hiện như một cơ chế tự vệ tinh thần của con người hiện đại. Tác giả tự cười cợt bi kịch của chính mình để vượt qua đau khổ. Sự đa thanh trong giọng điệu khẳng định tính dân chủ của văn xuôi đổi mới.

4.3. Hệ thống biểu tượng tính dục giấc mơ và mê cung

Hệ thống biểu tượng đóng vai trò then chốt trong nghệ thuật nghịch dị. Biểu tượng tính dục được khai thác nhằm giải phóng bản năng tự nhiên và khát vọng sống. Nhà văn giải mã những ẩn ức sâu kín qua hành vi xác thịt trần trụi. Biểu tượng giấc mơ mở ra chiều kích tâm linh và vùng vô thức kỳ ảo. Những giấc mơ kỳ dị phản ánh nỗi sợ hãi và chấn thương tâm lý con người. Trong khi đó, biểu tượng mê cung miêu tả sự bế tắc của hành trình tìm kiếm bản ngã. Các biểu tượng này kết hợp tạo nên thế giới nghệ thuật đa nghĩa và giàu sức gợi.

Mục lục chi tiết luận án

LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỞ ĐẦU
Lí do chọn đề tài
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
Đóng góp của luận án
Cấu trúc luận án
1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Nghiên cứu về nghịch dị trong văn học nước ngoài
1.2. Nghiên cứu về nghịch dị trong văn học Việt Nam
1.3. Đánh giá tình hình nghiên cứu và hướng triển khai của đề tài
2. CHƯƠNG 2: NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ VÀ SỰ ĐỔI MỚI VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2012
2.1. Giới thuyết khái niệm nghịch dị
2.2. Nghịch dị trong văn học Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại
2.2.1. Trong văn học dân gian
2.2.2. Trong văn học trung đại
2.2.3. Trong văn học hiện đại
2.3. Nghịch dị với nhu cầu đổi mới văn học Việt Nam từ 1986 đến 2012
2.3.1. Nghịch dị từ Đổi mới quan niệm về hiện thực
2.3.2. Nghịch dị từ Đổi mới quan niệm về con người
2.3.3. Nghịch dị từ Đổi mới quan niệm về thể loại tiểu thuyết
3. CHƯƠNG 3: NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2012 NHÌN TỪ HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG
3.1. Kiểu hình tượng nhân vật nghịch dị
3.1.1. Kiểu hình tượng nhân vật biếm họa
3.1.2. Kiểu hình tượng nhân vật lệch pha giới
3.1.3. Kiểu hình tượng nhân vật nữ nghịch dị
3.2. Hình tượng không gian nghịch dị
3.2.1. Nông thôn nghịch dị
3.2.2. Thành thị nghịch dị
3.2.3. Chiến tranh - nghịch dị sự sống
3.3. Hình tượng thời gian nghịch dị
3.3.1. Thời gian quá khứ và lăng kính bất thường
3.3.2. Bên ngoài thời gian - thời gian mang cảm quan nghịch dị
3.3.3. Thời gian xóa nhòa lằn ranh giữa cái sinh thành và hủy diệt
4. CHƯƠNG 4: NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2012 NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN
4.1. Ngôn ngữ nghệ thuật nghịch dị
4.1.1. Ngôn ngữ quảng trường suồng sã
4.1.2. Ngôn ngữ mạng
4.1.3. Ngôn ngữ trò chơi
4.2. Giọng điệu nghệ thuật nghịch dị
4.2.1. Giọng điệu giễu nhại
4.2.2. Giọng điệu bất tín và âu lo
4.2.3. Giọng điệu tự trào
4.3. Biểu tượng nghệ thuật nghịch dị
4.3.1. Biểu tượng tính dục
4.3.2. Biểu tượng giấc mơ
4.3.3. Biểu tượng mê cung
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sĩ văn học việt nam nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết việt nam từ 1986 đến 2012

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (173 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUỲNH THỊ THU HẬU NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2012 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM Mã số: 62220121 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS. HỒ THẾ HÀ HUẾ - NĂM 2017 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Kết quả nghiên cứu và các dẫn liệu trong luận án là hoàn toàn trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. TÁC GIẢ LUẬN ÁN Huỳnh Thị Thu Hậu Lêi c¶m ¬n Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.

Hồ Thế Hà, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu. Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Khoa học Huế, Phòng Đào tạo sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi, Ban chủ nhiệm cùng các thầy cô, đặc biệt là thầy cô Khoa Ngữ văn trường Đại học Khoa học Huế, đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu. Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Quảng Nam, Khoa Ngữ văn và các đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu. Cuối cùng, tôi vô cùng biết ơn gia đình, những người đã luôn sát cánh và động viên tôi trong thời gian qua.

Huế, ngày 5 tháng 12 năm 2016 Tác giả Luận án Huỳnh Thị Thu Hậu MỤC LỤC MỞ ĐẦU. Lí do chọn đề tài. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu.

Đóng góp của luận án. Cấu trúc luận án. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU. Nghiên cứu về nghịch dị trong văn học nước ngoài.

Nghiên cứu về nghịch dị trong văn học Việt Nam. Đánh giá tình hình nghiên cứu và hướng triển khai của đề tài. NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ VÀ SỰ ĐỔI MỚI VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2012. Giới thuyết khái niệm nghịch dị.

Nghịch dị trong văn học Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại. Trong văn học dân gian. Trong văn học trung đại. Trong văn học hiện đại.

Nghịch dị với nhu cầu đổi mới văn học Việt Nam từ 1986 đến 2012. Nghịch dị từ Đổi mới quan niệm về hiện thực. Nghịch dị từ Đổi mới quan niệm về con người. Nghịch dị từ Đổi mới quan niệm về thể loại tiểu thuyết.

NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2012 NHÌN TỪ HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG. Kiểu hình tượng nhân vật nghịch dị. Kiểu hình tượng nhân vật biếm họa. Kiểu hình tượng nhân vật lệch pha giới.

Kiểu hình tượng nhân vật nữ nghịch dị. Hình tượng không gian nghịch dị. Nông thôn nghịch dị. Thành thị nghịch dị.

Chiến tranh - nghịch dị sự sống. Hình tượng thời gian nghịch dị. Thời gian quá khứ và lăng kính bất thường. Bên ngoài thời gian - thời gian mang cảm quan nghịch dị.

Thời gian xóa nhòa lằn ranh giữa cái sinh thành và hủy diệt. NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2012 NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN. Ngôn ngữ nghệ thuật nghịch dị. Ngôn ngữ quảng trường suồng sã.

Ngôn ngữ mạng. Ngôn ngữ trò chơi. Giọng điệu nghệ thuật nghịch dị. Giọng điệu giễu nhại.

Giọng điệu bất tín và âu lo. Giọng điệu tự trào. Biểu tượng nghệ thuật nghịch dị. Biểu tượng tính dục.

Biểu tượng giấc mơ. Biểu tượng mê cung. 136 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC.139 TÀI LIỆU THAM KHẢO. Lí do chọn đề tài Nghịch dị có từ lâu trong mạch nguồn lịch sử văn học dân tộc và hồi sinh mạnh mẽ trong thời kì đổi mới.

Có thể nói, tinh thần hạt nhân của nghịch dị là tiếng nói tự do dân chủ. Cảm quan nghịch dị gắn với việc kiến tạo những hình tượng lệch chuẩn, gắn với nhu cầu phê phán cái lạc hậu, cái xấu. Văn học đương đại Việt Nam là một bức tranh đa chiều, phức tạp và đầy màu sắc. Đó là nền văn học đa thanh với rất nhiều cá tính sáng tạo khác nhau cùng những nỗ lực khai tử thói quen cũ mòn và khuôn sáo, từ đó hình thành một Nguyễn Huy Thiệp (hậu) hiện đại, một Hồ Anh Thái mê chơi cấu trúc, một Nguyễn Bình Phương nghiêng về phân tâm học, một Nguyễn Việt Hà tư duy tôn giáo, một Thuận và Đoàn Minh Phượng liên văn bản, một Đặng Thân hậu hiện đại…Và không chỉ có thế.

Mỗi một nhà văn đều tích hợp trong thế giới nghệ thuật của mình những yếu tố trên ở mức độ đậm nhạt khác nhau, trong đó, yếu tố nghịch dị là phổ biến và tạo thành những thông điệp giàu ý nghĩa xã hội và nhân sinh của thời hiện đại. Hầu hết các tác phẩm đều chứa đựng nghệ thuật nghịch dị như: Mảnh đất lắm người nhiều ma, Những ngã tư và những cột đèn, Nỗi buồn chiến tranh, Ăn mày dĩ vãng, SBC là săn bắt chuột, Mười lẻ một đêm, Ngồi, Những đứa trẻ chết già, Thoạt kì thủy, Trò đùa số phận, Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối, Người sông Mê, 3.9 những mảnh hồn trần, T mất tích, China town, Minh sư, Mẫu Thượng Ngàn, Thần thánh và bươm bướm, Tưởng tượng và dấu vết… Theo M.Bakhtin, tiểu thuyết là một thể loại chưa hoàn thành, đang trong quá trình vận động. Theo đó, chúng ta thấy tiểu thuyết Việt Nam từ năm 1986 đến nay đã có rất nhiều nỗ lực để khẳng định vị trí của mình trong nền văn học. Từ Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh đến Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, những tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, đến tiểu thuyết của Đặng Thân, Thuận….là một quá trình liên tục cách tân táo bạo để tiểu thuyết Việt Nam theo kịp với tiểu thuyết trên thế giới.

Nghịch dị dự phần xác lập sự đổi mới văn học nói chung và tiểu thuyết đương đại Việt Nam nói riêng. Xã hội số hóa, cuộc cách mạng công nghệ thông tin, thế giới phẳng đặt con người vào môi trường không giới hạn, cuộc sống vật chất đầy cám dỗ cũng tác động rất lớn đến con người. Khi đời sống lẫn lộn giá trị, đan xen thật - giả, cái huyền hoặc -cái thật, thiện - 1 ác, bi - hài, cao thượng - thấp hèn, bình thường - bất thường, kì quái, tất cả trở thành hiện thực nghịch dị, đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới, phương thức sáng tạo mới. Đặc trưng của xã hội hiện đại là tính đa trị, tiếng nói đa thanh, mang cảm quan đối thoại mạnh mẽ.

Vì thế, hình tượng nghệ thuật cần lung linh, đa nghĩa. Có rất nhiều cánh cửa để đi vào tiểu thuyết đương đại. Có người dùng ánh sáng của hậu hiện đại, có người dùng ánh sáng của giải cấu trúc, ánh sáng của diễn ngôn, huyền thoại, kì ảo, phân tâm học…Sử dụng lí thuyết Grotesque để soi chiếu và kiến giải sự vận động trong đổi mới văn học Việt Nam, đặc biệt là trong tiểu thuyết sẽ mang lại ý nghĩa thực tiễn và học thuật cao. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2.

Đối tượng nghiên cứu Từ lí thuyết nghịch dị, chúng tôi nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012 có chứa đựng nghệ thuật nghịch dị qua các tác phẩm của các tác giả tiêu biểu như Trần Dần, Bảo Ninh, Chu Lai, Hồ Anh Thái, Nguyễn Xuân Khánh, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Châu Diên, Y Ban, Uông Triều, Nguyễn Đình Tú, Đặng Thân, Thuận, Vũ Đình Giang… 2. Phạm vi nghiên cứu Luận án của chúng tôi nghiên cứu nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012 qua các phương diện hệ thống hình tượng (Nhân vật nghịch dị, không gian nghịch dị, thời gian nghịch dị) và phương thức biểu hiện (ngôn từ nghệ thuật nghịch dị, giọng điệu nghệ thuật nghịch dị, biểu tượng nghịch dị). Cụ thể phạm vi khảo sát là các tiểu thuyết sau (xem phụ lục 1). Như vậy, với đề tài Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012, chúng tôi không đặt vấn đề giải quyết lí thuyết về nghịch dị mà chỉ muốn thông qua nó để nhận diện một đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết Việt Nam từ sau đổi mới.

Luận án tập trung khảo sát, phân tích, đánh giá những biểu hiện phong phú cũng như hiệu quả thẩm mĩ của nghịch dị với tư cách là thế giới quan, là thủ pháp nghệ thuật của tiểu thuyết đương đại. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau: 3. Phương pháp phân tích, tổng hợp 2 Nghệ thuật nghịch dị được nghiên cứu trên nhiều phương diện thông qua các luận điểm, luận cứ. Phương pháp này giúp người viết đi sâu phân tích từng phương diện đồng thời có sự tổng hợp, khái quát hóa những vấn đề được đặt ra.

Phương pháp so sánh, đối chiếu Sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu, người viết nhìn nhận đánh giá vấn đề trên cả hai bình diện đồng đại và lịch đại để thấy được những nét kế thừa, sáng tạo cũng như những nét riêng của các tác giả trong việc sử dụng nghệ thuật nghịch dị. Phương pháp thống kê, phân loại Người viết sử dụng phương pháp này để khảo sát thống kê các bình diện hình tượng nhân vật, không gian, thời gian, ngôn ngữ, giọng điệu và biểu tượng nghịch dị có trong tiểu thuyết từ 1986 đến 2012. Phương pháp hình thức (vận dụng thi pháp học) Tiếp cận vấn đề từ phương pháp thi pháp học sẽ giúp người viết đi từ hình thức đến nội dung, nghệ thuật nghịch dị được hiểu như là thủ pháp, được thể hiện qua các bình diện hệ thống hình tượng và phương thức biểu hiện. Phương pháp hệ thống Phương pháp này giúp người viết nhận ra rằng tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 đến 2012 không diễn ra đơn lẻ mà nằm trong sự vận động chung của văn học thời kì đổi mới với tinh thần đồng bộ từ đổi mới tư duy, đến đổi mới quan niệm về hiện thực, quan niệm về con người, quan niệm về thể loại.

Sử dụng phương pháp hệ thống để kiến giải nghệ thuật nghịch dị của tiểu thuyết đương đại một cách thuyết phục. Phương pháp văn hóa học Ngoài ra, người viết còn vận dụng lý thuyết của Bakhtin về văn hóa trào tiếu dân gian để nghiên cứu đề tài. Đóng góp của luận án Nghiên cứu đề tài nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012, chúng tôi hi vọng sẽ góp một cái nhìn khác khi khám phá tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Đề tài sẽ trở thành một nguồn tư liệu giúp cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập về văn học Việt Nam sau 1986.

- Luận án nhận định sự hồi sinh mạnh mẽ của nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết nói riêng và văn học đương đại nói chung.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Huỳnh Thị Thu Hậu (2017). Luận án tiến sĩ: Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam (1986-2012) [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế]. LuanAn.net. https://luanan.net/van-hoc/van-hoc-viet-nam/luan-an-tien-si-nghe-thuat-nghich-di-trong-tieu-thuyet-viet-nam-1986-2012

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Luận án tiến sĩ: Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam (1986-2012)" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án tiến sĩ phân tích nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986-2012, khám phá sự phá vỡ truyền thống và cách tân văn học đương đại.

Luận án "Luận án tiến sĩ: Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam (1986-2012)" được bảo vệ tại trường nào?

Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế. Năm bảo vệ: 2017.

Luận án "Luận án tiến sĩ: Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam (1986-2012)" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Luận án tiến sĩ: Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam (1986-2012)" thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam. Danh mục: Văn Học Việt Nam.

Luận án "Luận án tiến sĩ: Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam (1986-2012)" có bao nhiêu trang?

Luận án "Luận án tiến sĩ: Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam (1986-2012)" có 173 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Luận án tiến sĩ: Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam (1986-2012)" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter