Luận án nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết việt nam từ 1986 đến 2012
Luận án phân tích nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Đề xuất cách tiếp cận mới về cấu trúc phi tuyến.
Luan An
Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản
Số trang
173
Thời gian đọc
26 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Lý thuyết nghệ thuật nghịch dị tiểu thuyết Việt Nam
- Số trang:
- 173 trang
- Trường:
- Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế
- Chuyên ngành:
- Văn học Việt Nam
- Tác giả:
- Huỳnh Thị Thu Hậu
- Năm:
- 2017
Tóm tắt nội dung luận án
I. Lý thuyết nghệ thuật nghịch dị tiểu thuyết Việt Nam
Nghệ thuật nghịch dị giữ vị trí quan trọng trong lịch sử văn học. Yếu tố này bắt nguồn sâu xa từ văn hóa dân gian truyền thống. Tinh thần lễ hội Carnaval tạo tiền đề cho cái nghịch dị phát triển. Văn học trung đại và cận đại cũng tiếp nối dòng chảy này. Bước vào thời kỳ đổi mới, khuynh hướng này bùng nổ mạnh mẽ. Các nhà văn sử dụng nghịch dị như một phương thức nhận thức đời sống. Phương thức này phá vỡ các khuôn mẫu thẩm mỹ cổ điển tĩnh tại. Các hình tượng dị biệt phản ánh chân thực các biến động thời cuộc. Tác phẩm văn học mang tính đa thanh và giàu giá trị phản biện. Luận án tiến sĩ của Huỳnh Thị Thu Hậu tập trung khảo sát hiện tượng này. Công trình làm sáng rõ vai trò của thi pháp nghịch dị trong việc cách tân tiểu thuyết.
1.1. Khái niệm cái nghịch dị trong văn học và nguồn gốc
Cái nghịch dị trong văn học là một phạm trù mỹ học đặc thù. Thuật ngữ này bắt nguồn từ tiếng Ý mang nghĩa hang động kỳ bí. Bản chất của nghịch dị là sự kết hợp các yếu tố đối lập. Sự hài hước đan xen nỗi kinh hoàng tạo nên ấn tượng mạnh. Cái cao cả hòa lẫn cái thấp hèn trong cùng một chỉnh thể. Yếu tố phi lý phản ánh sự phức tạp của đời sống tinh thần. Văn học dân gian Việt Nam từng sử dụng nghịch dị qua truyện cười và cổ tích. Văn học trung đại thể hiện yếu tố này qua văn xuôi truyền kỳ. Sang giai đoạn hiện đại, hình thức này trở thành công cụ phản ánh sắc bén. Nhà văn tạo dựng thế giới dị thường để phơi bày sự thật đời sống.
1.2. Mikhail Bakhtin thi pháp grotesque và tiếp nhận
Mikhail Bakhtin thi pháp grotesque tạo nền tảng lý thuyết vững chắc cho nghiên cứu. Nhà lý luận Nga chỉ ra bản chất giải phóng của tiếng cười hội hè. Grotesque gắn liền với thân thể vật chất và sự sinh sôi không ngừng. Thể loại tiểu thuyết luôn vận động và không bao giờ đóng kín. Khái niệm này du nhập vào Việt Nam và tạo bước ngoặt học thuật lớn. Các nhà nghiên cứu sử dụng thi pháp này để tiếp cận tác phẩm mới. Tiểu thuyết đương đại tiếp nhận tinh thần Bakhtin một cách chủ động. Tác phẩm xóa bỏ khoảng cách tôn nghiêm của các đại tự sự cũ. Tiếng nói đa thanh thay thế cái nhìn đơn điệu và áp đặt trước đây.
II. Nghệ thuật nghịch dị gắn liền đổi mới văn học sau 1986
Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 mở ra kỷ nguyên mới cho văn học. Nhu cầu dân chủ hóa thúc đẩy các cuộc cách tân nghệ thuật táo bạo. Nghệ thuật nghịch dị trở thành phương tiện đổi mới tư duy sáng tạo. Nhà văn từ bỏ lối tư duy minh họa và ca ngợi giản đơn. Tiểu thuyết chuyển dịch từ sử thi hoành tráng sang đời tư thế sự. Hiện thực được soi chiếu qua nhiều góc nhìn đa diện và gai góc. Cái bất thường phơi bày những vết thương tinh thần sau chiến tranh. Tư duy nghệ thuật tự do mở đường cho nhiều thử nghiệm hình thức. Khuynh hướng này khẳng định sức sống mãnh liệt của văn xuôi nước nhà.
2.1. Đổi mới quan niệm hiện thực tiểu thuyết việt nam sau 1986
Tiểu thuyết việt nam sau 1986 từ bỏ quan niệm hiện thực đơn tuyến. Đời sống xã hội không còn được nhìn nhận một chiều thuần túy. Hiện thực xuất hiện với đầy rẫy mâu thuẫn, đổ vỡ và tha hóa. Các tác phẩm tiêu biểu như Nỗi buồn chiến tranh hay Ăn mày dĩ vãng minh chứng điều này. Sự thật chiến tranh được giải ảo qua những cảnh tượng bi kịch và xót xa. Nhà văn không ngại khắc họa mặt trái của xã hội thời mở cửa. Cái bi hòa trộn cái hài tạo nên bức tranh đa sắc diện. Hiện thực nghịch dị giúp con người thức tỉnh trước những ảo tưởng cũ kỹ.
2.2. Khám phá con người trong tiểu thuyết việt nam đương đại
Tiểu thuyết việt nam đương đại đặt trọng tâm vào số phận cá nhân. Con người không còn mang vẻ đẹp hoàn mỹ lý tưởng kiểu cũ. Nhân vật hiện lên với nhiều góc khuất tâm lý và bản năng tiềm ẩn. Tác giả khám phá thế giới vô thức và những ẩn ức sâu kín. Con người vừa là nạn nhân vừa là thủ phạm của hoàn cảnh sống. Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương và Tạ Duy Anh khắc họa con người đầy biến chuyển. Bản thể con người bị phân mảnh giữa các áp lực xã hội hiện đại. Cái nghịch dị giúp soi chiếu tận cùng bản chất nhân sinh phức tạp.
III. Hình tượng nhân vật biến dạng dị hình đầy nghịch dị
Hệ thống nhân vật là phương diện thể hiện rõ nét thi pháp nghịch dị. Nhân vật không còn được xây dựng theo kiểu điển hình hóa truyền thống. Tác giả tập trung vào các dạng hình tượng dị thường và lệch chuẩn. Các dị tật cơ thể phản ánh những tổn thương đạo đức xã hội. Nhân vật mang nhiều mặt nạ và hành vi kỳ quặc khó hiểu. Cách xây dựng này phá vỡ ảo tưởng về một nhân cách toàn vẹn. Hình tượng nghịch dị khơi gợi sự suy ngẫm sâu sắc về kiếp nhân sinh. Qua đó, nhà văn phê phán gay gắt những tiêu cực đang tồn tại.
3.1. Hình tượng nhân vật biến dạng dị hình và biếm họa
Nhân vật biến dạng dị hình xuất hiện dày đặc trong tác phẩm đương đại. Thân thể nhân vật bị méo mó, tật nguyền hoặc biến hóa kỳ lạ. Các tiểu thuyết như Thoạt kỳ thủy hay Thiên thần sám hối thể hiện rõ thủ pháp này. Sự méo mó hình thể là ẩn dụ cho sự què quặt về nhân cách. Thủ pháp biếm họa phóng đại các thói hư tật xấu lên mức cực đoan. Nhân vật quan chức vụ lợi hoặc kẻ tha hóa bị chế giễu sâu cay. Tiếng cười biếm họa lột trần những giả dối và đạo đức giả trong đời sống.
3.2. Kiểu hình tượng nhân vật lệch pha giới và nữ quyền
Nhân vật lệch pha giới tạo nên dấu ấn thẩm mỹ mới lạ. Tác giả phá vỡ ranh giới định kiến giới tính truyền thống. Những nhân vật lưỡng tính hoặc đồng tính xuất hiện tự nhiên và nhân văn. Bên cạnh đó, hình tượng người phụ nữ cũng được nhìn nhận qua lăng kính mới. Người phụ nữ không còn cam chịu hay thuần phục thụ động. Nhân vật nữ mang những ẩn ức tính dục mãnh liệt và khát khao tự do. Sự nổi loạn của nhân vật nữ là tiếng nói đòi quyền sống đích thực. Thủ pháp nghịch dị giúp giải phóng thân phận phái nữ khỏi các xiềng xích giáo điều.
IV. Không gian và thời gian nghịch dị trong tiểu thuyết
Không gian và thời gian nghệ thuật là trục định vị thế giới tác phẩm. Nghệ thuật nghịch dị tái cấu trúc hai chiều kích không gian và thời gian. Tính chất liên tục và tuyến tính bị xóa bỏ hoàn toàn. Thế giới nghệ thuật trở nên phân mảnh, xáo trộn và đa chiều. Địa hạt trần thế giao thoa cùng cõi âm và vùng siêu thực. Hiện tại đan cài quá khứ thông qua những ảo giác bất thường. Cấu trúc này phản ánh sự bất an của con người hiện đại. Tác phẩm mang đến trải nghiệm tiếp nhận hoàn toàn mới lạ cho độc giả.
4.1. Không gian nghịch dị tại nông thôn đô thị và chiến tranh
Không gian nghịch dị mở rộng qua nhiều địa hạt đời sống khác nhau. Làng quê không còn êm ả mà trở thành mảnh đất tranh giành khốc liệt. Tác phẩm Mảnh đất lắm người nhiều ma dựng lên nông thôn ngột ngạt. Đô thị hiện đại hóa hiện lên như một mê cung đầy cám dỗ và cô đơn. Con người bị lạc lối giữa các tòa nhà bê tông và dòng xe cộ xô bồ. Không gian chiến tranh biến thành cõi chết chóc hủy diệt sự sống con người. Nỗi buồn chiến tranh biến chiến trường thành vùng ký ức ma mị và đau thương. Không gian nghệ thuật phản ánh nỗi bất an hiện sinh sâu sắc.
4.2. Thời gian nghịch dị đa chiều và xóa nhòa lằn ranh
Thời gian nghịch dị vận động theo quỹ đạo phi tuyến tính bất thường. Quá khứ, hiện tại và tương lai hòa lẫn trong dòng ý thức nhân vật. Nhà văn đảo lộn trật tự thời gian để khám phá chiều sâu tâm lý. Khoảng cách giữa cõi sống và cõi chết bị xóa nhòa hoàn toàn. Ký ức chiến tranh trở lại ám ảnh nhân vật trong từng khoảnh khắc hiện tại. Thời gian mang cảm quan sinh thành gắn liền với hủy diệt liên tục. Tác phẩm tạo ra một dòng thời gian tâm tưởng không có điểm kết thúc. Cấu trúc này làm tăng sức biểu cảm và tính triết luận cho tiểu thuyết.
V. Phương thức biểu hiện nghệ thuật nghịch dị đặc sắc
Phương thức biểu hiện là yếu tố quyết định sức hút của tiểu thuyết. Nghệ thuật nghịch dị tạo ra bước đột phá về ngôn ngữ và giọng điệu. Nhà văn giải phóng ngòi bút khỏi các quy chuẩn ngữ pháp gò bó. Ngôn từ đường phố và tiếng lóng được đưa vào văn bản tự nhiên. Giọng điệu tác phẩm biến hóa linh hoạt giữa giễu nhại và suy tư. Các biểu tượng nghệ thuật mang sức chứa tư tưởng sâu rộng. Hệ thống biểu hiện cách tân đưa tiểu thuyết tiệm cận lối viết hậu hiện đại. Thành công này khẳng định bước tiến vượt bậc của văn xuôi đương đại.
5.1. Ngôn ngữ suồng sã và trò chơi grotesque trong tiểu thuyết
Grotesque trong tiểu thuyết được thể hiện đậm nét qua lớp ngôn ngữ suồng sã. Ngôn ngữ quảng trường dân dã lấn át lối diễn đạt trang trọng hàn lâm. Tác giả khai thác ngôn ngữ đời thường, tiếng chửi thề và khẩu ngữ tự nhiên. Tiểu thuyết của Nguyễn Huy Thiệp hay Đặng Thân thể hiện rõ đặc điểm này. Ngôn ngữ mạng và công nghệ thông tin cũng thâm nhập vào cấu trúc tác phẩm. Văn bản trở thành một trò chơi ngôn từ đầy thách thức và sáng tạo. Trò chơi câu chữ phá hủy cấu trúc ngữ nghĩa khuôn sáo truyền thống. Ngôn ngữ trở thành công cụ đắc lực giải phóng tư duy nghệ thuật.
5.2. Giọng điệu giễu nhại và biểu tượng thi pháp nghịch dị
Giọng điệu giễu nhại và tự trào giữ vị trí trung tâm trong thi pháp nghịch dị. Nhà văn nhìn nhận các giá trị cũ bằng thái độ hoài nghi và bất tín. Tiếng cười tự trào thể hiện sự tỉnh táo trước bi kịch đời sống. Bên cạnh đó, hệ thống biểu tượng nghệ thuật được xây dựng công phu. Biểu tượng tính dục phơi bày khát vọng nguyên sơ và nỗi cô đơn bản thể. Biểu tượng giấc mơ và mê cung phản ánh sự bế tắc của số phận con người. Những biểu tượng này gia tăng chiều sâu triết mỹ cho tác phẩm văn chương.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (173 trang)Nội dung chính
Tổng quan về luận án
Luận án tiến sĩ "Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012" của Huỳnh Thị Thu Hậu đại diện cho một nghiên cứu tiên phong trong lĩnh vực phê bình văn học Việt Nam đương đại. Nghiên cứu này được đặt trong bối cảnh văn hóa và xã hội Việt Nam thời kỳ Đổi mới (1986-2012), một giai đoạn chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ trong tư duy nghệ thuật và sự xuất hiện của các hình thái hiện thực đa diện, phức tạp. Tính tiên phong của luận án nằm ở việc hệ thống hóa và phân tích chuyên sâu một hiện tượng nghệ thuật quan trọng nhưng chưa được khai thác toàn diện: nghệ thuật nghịch dị (grotesque) trong tiểu thuyết.
Research gap cụ thể mà luận án này hướng tới giải quyết là sự thiếu vắng các nghiên cứu có tính "toàn diện và có hệ thống về nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại" (Mở đầu, trang 24). Trong khi các công trình trước đây "chỉ mới dừng lại ở việc khảo sát và đánh giá ở một tác giả hay một tác phẩm" (Mở đầu, trang 24), luận án này mở rộng phạm vi khảo sát, bao gồm một corpus tiểu thuyết đa dạng từ các tác giả tiêu biểu như Trần Dần, Bảo Ninh, Chu Lai, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Việt Hà, Châu Diên, Y Ban, Uông Triều, Nguyễn Đình Tú, Đặng Thân, Thuận, Vũ Đình Giang. Điều này giúp khắc phục sự phân mảnh trong việc nhận diện và đánh giá nghệ thuật nghịch dị, tạo ra một bức tranh tổng thể và sâu sắc hơn về vai trò của nó trong quá trình đổi mới văn học.
Các câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết trung tâm của luận án bao gồm:
- Câu hỏi 1: Nghệ thuật nghịch dị được định nghĩa và phát triển như thế nào trong lịch sử văn học Việt Nam, đặc biệt là trong mối quan hệ với văn học dân gian và văn học trung đại, trước khi bùng nổ trong thời kỳ Đổi mới (1986-2012)?
- Giả thuyết 1.1: Nghịch dị không phải là một hiện tượng mới mà là một "mạch nguồn trong văn học dân tộc" (Mở đầu, trang 3) có sự hồi sinh mạnh mẽ từ 1986-2012, thể hiện sự tiếp nối và phát triển các đặc trưng truyền thống.
- Câu hỏi 2: Những biểu hiện cụ thể của nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012 là gì, nhìn từ hệ thống hình tượng và phương thức biểu hiện?
- Giả thuyết 2.1: Nghệ thuật nghịch dị biểu hiện rõ nét qua các hình tượng nhân vật (biếm họa, lệch pha giới, nữ nghịch dị), không gian (nông thôn, thành thị nghịch dị, chiến tranh-nghịch dị sự sống), và thời gian (quá khứ bất thường, cảm quan nghịch dị).
- Giả thuyết 2.2: Nghịch dị còn được bộc lộ qua các phương thức biểu hiện độc đáo như ngôn ngữ nghệ thuật (quảng trường suồng sã, mạng, trò chơi), giọng điệu (giễu nhại, bất tín, tự trào) và biểu tượng (tính dục, giấc mơ, mê cung).
- Câu hỏi 3: Vai trò và đóng góp của nghệ thuật nghịch dị đối với sự đổi mới văn học Việt Nam nói chung và tiểu thuyết nói riêng trong giai đoạn 1986-2012 là gì?
- Giả thuyết 3.1: Nghệ thuật nghịch dị không chỉ là một thủ pháp mà còn là một "thế giới quan" và "cảm quan mang tâm thức hiện đại và một phần hậu hiện đại" (Mở đầu, trang 24), góp phần "đổi mới quan niệm về hiện thực, về con người, về thể loại" (Mở đầu, trang 3).
Khung lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên sự tổng hợp và vận dụng linh hoạt các lý thuyết về nghịch dị từ các học giả quốc tế, đặc biệt là M.Bakhtin với "Sáng tác của Francois Rabelais và nền văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng", Wolfgang Kayser với "Nghịch dị trong nghệ thuật và văn học", và Philip Thomson trong nghiên cứu về Grotesque. Luận án nhấn mạnh chủ nghĩa hiện thực nghịch dị của Bakhtin, với các khái niệm về "tiếng cười lưỡng trị" và "hình tượng thân thể nghịch dị" [11,58], đồng thời tích hợp quan niệm của Kayser về "thế giới xa lạ và bị ghẻ lạnh" [128,16] và của Thomson về "yếu tố bất hài hòa cơ bản" [128,17] để tạo nên một lăng kính đa chiều cho việc phân tích.
Đóng góp đột phá của luận án có thể được định lượng và mô tả như sau:
- Phát triển Khung phân tích Nghịch dị Toàn diện (Quantified Impact: >100 tác phẩm, >15 tác giả): Luận án cung cấp một khung phân tích hệ thống và chi tiết về các biểu hiện của nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam, chia thành "hệ thống hình tượng" (nhân vật, không gian, thời gian) và "phương thức biểu hiện" (ngôn ngữ, giọng điệu, biểu tượng). Đây là một sự phân loại chưa từng có trước đây trên quy mô một corpus lớn các tiểu thuyết giai đoạn 1986-2012.
- Nâng cấp vị thế Lý thuyết của Nghịch dị (Quantified Impact: Thay đổi cách nhìn nhận về 1 thế kỷ văn học): Luận án khẳng định nghệ thuật nghịch dị không chỉ là một "thủ pháp" mà là một "thế giới quan" và "cảm quan" phản ánh "tính đa trị, tiếng nói đa thanh, mang cảm quan đối thoại mạnh mẽ" của xã hội hiện đại (Mở đầu, trang 1). Điều này giúp tái định vị tầm quan trọng của yếu tố nghịch dị trong lịch sử và phê bình văn học Việt Nam.
- Xác lập "Dòng tiểu thuyết nghịch dị" (Quantified Impact: Mở ra 1 khuynh hướng nghiên cứu mới): Nghiên cứu này chỉ ra rằng, bên cạnh các khuynh hướng tiểu thuyết khác, có một "dòng tiểu thuyết nghịch dị" riêng biệt, góp phần "đổi mới hệ hình mĩ học truyền thống" (Mở đầu, trang 3). Điều này mang lại một cách phân loại và tiếp cận mới cho các nhà nghiên cứu về tiểu thuyết Việt Nam.
- Minh chứng tính liên tục lịch sử (Quantified Impact: Khảo sát từ văn học dân gian đến hiện đại): Luận án đã thành công trong việc "chỉ ra quá trình phát triển của nghệ thuật nghịch dị từ văn học truyền thống đến nay, khẳng định đây là mạch nguồn trong văn học dân tộc" (Mở đầu, trang 3), thách thức quan niệm cho rằng nghịch dị là hiện tượng thuần túy hiện đại, đồng thời so sánh với ví dụ quốc tế như Rabelais hay Kafka.
- Phân định ranh giới khái niệm (Quantified Impact: Góp phần làm rõ >5 khái niệm liên quan): Bằng cách phân biệt rõ ràng nghệ thuật nghịch dị với các khái niệm gần gũi như kì ảo, phi lí, châm biếm, luận án cung cấp một công cụ lý thuyết sắc bén hơn cho việc phân tích văn học. Cụ thể, "Grotesque nghiêng về khía cạnh cấu trúc, chức năng, yếu tố. Fantastic nghiêng về tâm thế của sự tiếp nhận" (Chương 2, Giới thuyết khái niệm nghịch dị).
Phạm vi nghiên cứu của luận án là "nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012" thông qua việc khảo sát một corpus tiểu thuyết được chọn lọc từ "các tác phẩm của các tác giả tiêu biểu như Trần Dần, Bảo Ninh, Chu Lai, Hồ Anh Thái, Nguyễn Xuân Khánh, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Châu Diên, Y Ban, Uông Triều, Nguyễn Đình Tú, Đặng Thân, Thuận, Vũ Đình Giang..." (Mở đầu, trang 2). Tổng cộng, luận án khảo sát khoảng trên 100 tiểu thuyết (xem phụ lục 1). Luận án không đi sâu giải quyết lý thuyết về nghịch dị mà tập trung "nhận diện một đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết Việt Nam từ sau đổi mới" (Mở đầu, trang 2), mang lại ý nghĩa học thuật cao trong việc hiểu rõ hơn về tính chất và động lực của văn học giai đoạn này.
Literature Review và Positioning
Luận án thực hiện một tổng quan tình hình nghiên cứu sâu rộng, phân tích các dòng tư tưởng chính về nghịch dị trong văn học nước ngoài và Việt Nam, từ đó định vị rõ ràng đóng góp của mình.
Trong nghiên cứu về nghịch dị trên thế giới, luận án tổng hợp nhiều trường phái quan trọng:
- M.Bakhtin với công trình "Sáng tác của Francois Rabelais và nền văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng" được coi là nền tảng, giới thiệu khái niệm "chủ nghĩa hiện thực nghịch dị" và "hình tượng thân thể nghịch dị". Bakhtin lập luận rằng "Hình tượng nghịch dị thâu tóm hiện tượng ở trạng thái biến chuyển, biến hóa chưa hoàn kết. Quan hệ với thời gian, với sự biến hóa là đặc điểm không thể thiếu được ở hình tượng nghịch dị. Một đặc điểm liên đới khác và cũng không thể thiếu ở nó là tính hai chiều, ở nó dưới hình thức này hay hình thức khác, hiện diện cả hai cực của sự biến đổi-cả cái cũ lẫn cái mới, cả cái đang chết lẫn cái đang ra đời, cả điểm khởi đầu và kết thúc của quá trình biến hóa” [11,58]. Công trình này nhấn mạnh tiếng cười lưỡng trị và văn hóa trào tiếu dân gian như hạt nhân của nghịch dị thời Phục hưng.
- Luận án đối chiếu quan niệm của Bakhtin với các nhà mỹ học như Hegel và Vischer, trong đó Hegel chủ yếu nói về "nghệ thuật nghịch dị cổ sơ" và Vischer lại xem cái hài là bản chất của nghịch dị [11,89].
- Nghiên cứu cũng đề cập đến sự hồi sinh của nghịch dị vào thế kỷ XX, với Wolfgang Kayser trong cuốn "Nghịch dị trong nghệ thuật và văn học" định nghĩa nghịch dị là "một sự biểu hiện của thế giới xa lạ và bị ghẻ lạnh" và "một trò chơi phi lý" [128,16].
- Philip Thomson, trong nghiên cứu về Grotesque, nhấn mạnh "đặc tính luôn đáng lưu ý nhất của cái nghịch dị chính là yếu tố bất hài hoà cơ bản, dù là nó nói đến mâu thuẫn, xung đột, sự hòa trộn của những thứ hỗn tạp hay là sự hợp nhất của những thứ khác loại" [128,17]. Ông cũng phân biệt rõ nghịch dị với cái phi lí (The Absurd), cái kì dị (The Birazze), cái rùng rợn (The Macabre), lối biếm họa (Caricature), giễu nhại (Parody), châm biếm (Satire) để làm rõ ranh giới khái niệm.
- Các tác giả khác như Schneegans, Bloom, James Joney, J.R Holt, Michael, Hunter, K.K Dzhafarova, Tamarchenko, Ovechkin, Danilkova, Ponomareva, Tsymbal, James Schevill, T.Vorontsova đều được tổng hợp, cho thấy sự đa dạng trong cách tiếp cận nghịch dị từ góc độ triết học, tâm lý học, ký hiệu học, và phân tích các dạng thức biểu hiện. Ví dụ, Hunter phê phán quan niệm cơ thể nghịch dị của Bakhtin không thích hợp cho Gogol, bởi ở Gogol, cơ thể nghịch dị mang tính đối lập, tương phản, và "thuộc về bề mặt của thế giới bên ngoài, nhìn thấy được" [62,105].
Trong văn học Việt Nam, các nghiên cứu trước đây đã chạm đến yếu tố nghịch dị nhưng chưa có tính hệ thống.
- Lại Nguyên Ân đã đề cập đến "thẩm mĩ nghịch dị, cảnh trí và câu văn hội hè hóa" trong tiểu thuyết Thiên sứ của Phạm Thị Hoài [8,297].
- Vương Trí Nhàn nhận diện chất nghịch dị trong truyện ngắn Nam Cao như "cái quái dị, quái gở, kì cục, quái tượng", nhưng cho rằng Nam Cao "không thể đi quá xa như một Kafka, một Buzzati (Ý) hoặc một nhà văn Mĩ Latinh nào đó" [93,3].
- Nguyễn Thành phân tích hình tượng nghịch dị trong tác phẩm Vũ Trọng Phụng, kết luận ông là "nhà văn đầu tiên ở Việt Nam chỉ ra thực trạng vô nghĩa và phi lí của cái xã hội thời đô thị hóa" [124,99].
- Các học giả khác như Đào Tuấn Ảnh, Trần Lê Bảo, Lê Nguyên Cẩn, Nguyễn Đăng Điệp, Phạm Ngọc Hiền, Vân Long, Hoài Nam, Trần Thị Hạnh, Lê Minh Hiền, Thái Phan Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Nguyên, Phùng Gia Thế, Nguyễn Thái Hoàng đã phân tích các khía cạnh tương tự như nhân vật dị dạng, không gian ma quái, giọng điệu giễu nhại trong tác phẩm của Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương, Thu Bồn, Anh Đức, Nguyễn Việt Hà, nhưng thường chỉ dừng lại ở phạm vi hẹp. Chẳng hạn, Hoài Nam đánh giá trong Mười lẻ một đêm, "những tình huống nghịch dị được tạo ra bởi những nhân vật nghịch dị đã tạo ra ấn tượng mạnh mẽ về một đời sống mất chuẩn: những chân giá trị và ngụy giá trị xâm thực, chồng chéo, che phủ lẫn nhau" [90,4].
Những mâu thuẫn và tranh luận trong các nghiên cứu trước đây chủ yếu xoay quanh việc phân định ranh giới giữa nghịch dị với các khái niệm gần kề như kì ảo, châm biếm, phi lí, và mức độ bộc lộ của nó trong các giai đoạn văn học khác nhau. Luận án đặt mình vào vị trí tiếp nối và mở rộng các nghiên cứu này bằng cách cung cấp một cái nhìn "toàn diện và có hệ thống" về nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986-2012, một khoảng trống rõ ràng trong phê bình văn học.
Luận án so sánh với ít nhất 2 nghiên cứu quốc tế để định vị mình. Chẳng hạn, trong khi James Schevill (Mỹ) nghiên cứu nghịch dị trong văn học Mỹ dựa trên truyền thống phúc âm và tính thực dụng, với tinh thần hạt nhân là "lòng trắc ẩn đối với mối quan hệ giữa vẻ đẹp và cái xấu xí", khác với nghịch dị Châu Âu chủ yếu liên quan đến cái phi lí và "thế giới tầm thường" [166,8], thì luận án này, khi nghiên cứu về nghịch dị Việt Nam, cũng cố gắng phân biệt các lớp nghĩa của nghịch dị Việt Nam: từ cái hài hước vô tư trong văn học dân gian đến cái bi hài, phi lí của thời hiện đại, và lòng trắc ẩn đằng sau những hình tượng lệch chuẩn của Nam Cao. Hơn nữa, những phân tích về Kafka của Danilkova (Nga) cho thấy cái nghịch dị của Kafka là "cái nghịch dị mang màu sắc hiện đại, đầy tính phi lý" với sự pha trộn hình tượng động vật và người, sinh động và vô sinh [30,165]. Điều này giúp luận án đối chiếu và làm rõ tính chất phi lí của nghịch dị hiện đại Việt Nam so với các hình thức nghịch dị truyền thống, đồng thời khẳng định việc nó phản ánh "đặc điểm của một thực tế hỗn loạn, nghịch thường" [140,265] tương tự như nhận định của Tsymbal (Nga) về nghịch dị trong thế kỷ XX.
Bằng cách tổng hợp, phân tích và đối chiếu các quan điểm, luận án khẳng định "nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012 là một đề tài mới, mang tính hấp dẫn, có ý nghĩa học thuật" (Mở đầu, trang 24), lấp đầy khoảng trống trong việc nghiên cứu một cách toàn diện hiện tượng này, từ đó đóng góp vào sự tiến bộ của phê bình văn học Việt Nam.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án này đóng góp đáng kể vào lý thuyết về nghệ thuật nghịch dị bằng cách mở rộng và thách thức một số lý thuyết hiện có, đặc biệt là trong bối cảnh văn học Việt Nam.
- Mở rộng và ứng dụng lý thuyết của M.Bakhtin: Luận án mở rộng lý thuyết của M.Bakhtin về "Chủ nghĩa hiện thực nghịch dị" và "văn hóa trào tiếu dân gian" vào việc phân tích tiểu thuyết Việt Nam. Trong khi Bakhtin tập trung vào thời Trung cổ và Phục hưng qua tác phẩm của F.Rabelais, luận án cho thấy các nguyên tắc của Bakhtin như "tính lưỡng trị" (bivalence) và "tiếng cười lưỡng trị" (ambivalent laughter) vẫn còn nguyên giá trị và được biến hóa trong văn học Việt Nam đương đại. Luận án chỉ ra cách mà "cái nghịch dị đã hạ uy tín của cái tất yếu, cho thấy nó như một cái tương đối và hữu hạn" [11,97] trong văn học Việt Nam, tương tự như vai trò giải phóng ý thức mà Bakhtin đề cập.
- Tổng hợp và hoàn thiện quan niệm về nghịch dị: Luận án tích hợp quan điểm của Wolfgang Kayser về "thế giới xa lạ và bị ghẻ lạnh" [128,16] và của Philip Thomson về "yếu tố bất hài hòa cơ bản" [128,17] để xây dựng một định nghĩa toàn diện hơn về nghịch dị trong bối cảnh Việt Nam, vượt ra ngoài khái niệm ban đầu của Bakhtin. Việc này giúp lý thuyết nghịch dị trở nên linh hoạt và phù hợp hơn với các biểu hiện phức tạp trong tiểu thuyết Đổi mới.
- Nâng cấp nghịch dị từ thủ pháp lên thế giới quan: Luận án thách thức cách hiểu truyền thống về nghịch dị chỉ như một thủ pháp nghệ thuật, mà khẳng định nó là một "thế giới quan" và "cảm quan mang tâm thức hiện đại và một phần hậu hiện đại" (Mở đầu, trang 24). Điều này có nghĩa là nghịch dị không chỉ là cách thể hiện mà còn là cách nhà văn "nhìn nhận và kiến giải sự vận động trong đổi mới văn học Việt Nam" (Mở đầu, trang 1), tương tự như cách T.Vorontsova (Nga) xem cái nghịch dị của John Barth là "một phương tiện tư duy... để phản ánh cái nhìn hoặc sự tiên đoán của mình về thế giới hiện đại" [157,231].
Khung khái niệm của luận án bao gồm hai thành tố chính và mối quan hệ chặt chẽ giữa chúng:
- Hệ thống hình tượng nghịch dị: Bao gồm các thành phần:
- Nhân vật nghịch dị: Kiểu nhân vật biếm họa, lệch pha giới, nhân vật nữ nghịch dị.
- Không gian nghịch dị: Nông thôn, thành thị, chiến tranh, mê cung.
- Thời gian nghịch dị: Thời gian quá khứ bất thường, cảm quan thời gian nghịch dị, thời gian xóa nhòa ranh giới giữa sinh thành và hủy diệt.
- Phương thức biểu hiện nghịch dị: Bao gồm các thành phần:
- Ngôn ngữ nghệ thuật nghịch dị: Ngôn ngữ quảng trường suồng sã, ngôn ngữ mạng, ngôn ngữ trò chơi.
- Giọng điệu nghệ thuật nghịch dị: Giọng điệu giễu nhại, bất tín, tự trào.
- Biểu tượng nghệ thuật nghịch dị: Biểu tượng tính dục, giấc mơ, mê cung.
Mối quan hệ giữa các thành phần là tương hỗ: các hình tượng nghịch dị được kiến tạo và bộc lộ thông qua các phương thức biểu hiện nghịch dị, và ngược lại, các phương thức biểu hiện làm sâu sắc thêm ý nghĩa của các hình tượng.
Mô hình lý thuyết của luận án đưa ra các mệnh đề/giả thuyết được đánh số:
- Mệnh đề 1: Sự hồi sinh của nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986-2012 là sản phẩm của tinh thần dân chủ, đổi mới tư duy và nhận thức, phản ánh sự lẫn lộn giá trị trong xã hội đương đại.
- Mệnh đề 2: Các hình tượng nhân vật nghịch dị (biếm họa, lệch pha giới, nữ nghịch dị) đóng vai trò trung tâm trong việc thể hiện sự tha hóa, méo mó của con người trước bối cảnh xã hội phức tạp.
- Mệnh đề 3: Không gian nghịch dị (nông thôn, thành thị, chiến tranh) phản ánh sự biến đổi của môi trường sống, sự mất mát các giá trị truyền thống và sự xuất hiện của các yếu tố phi lí.
- Mệnh đề 4: Thời gian nghịch dị (quá khứ bất thường, thời gian mang cảm quan nghịch dị) thể hiện sự thay đổi trong nhận thức về lịch sử, sự đứt gãy giữa truyền thống và hiện đại, và cảm quan về sự hủy diệt/sinh thành liên tục.
- Mệnh đề 5: Ngôn ngữ nghịch dị (quảng trường suồng sã, mạng, trò chơi) là công cụ sắc bén để nhà văn phá vỡ các chuẩn mực ngôn ngữ cũ, tạo ra một thế giới nghệ thuật đa thanh và đối thoại.
- Mệnh đề 6: Giọng điệu nghịch dị (giễu nhại, bất tín, tự trào) thể hiện thái độ phê phán, hoài nghi và đôi khi là sự bất lực của chủ thể sáng tạo trước hiện thực.
- Mệnh đề 7: Biểu tượng nghịch dị (tính dục, giấc mơ, mê cung) là cách nhà văn khám phá chiều sâu tiềm thức, những ẩn ức và khát vọng của con người trong bối cảnh hiện đại.
Luận án khẳng định một sự tiến triển theo hướng thay đổi hệ hình mỹ học truyền thống, với bằng chứng từ việc tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này đã vượt ra ngoài "mỹ học của một sự sinh tồn và hoàn kết" [11,61] (Bakhtin) để chấp nhận và khai thác "cái xấu đẹp đẽ" (J.R Holt) [159,189], cái bất toàn, cái dị thường như một giá trị thẩm mỹ mới. Điều này thể hiện sự phá vỡ cấu trúc "thuần nhất, khép kín" của mỹ học cổ điển, chuyển sang một mỹ học chấp nhận sự "pha trộn" và "bất hài hòa".
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án tích hợp ít nhất ba lý thuyết cụ thể:
- Chủ nghĩa hiện thực nghịch dị của M.Bakhtin (để phân tích tính lưỡng trị, thân thể nghịch dị, tiếng cười hội hè).
- Quan niệm về "thế giới xa lạ và bị ghẻ lạnh" của Wolfgang Kayser (để lý giải tính phi lí, sự biến đổi đột ngột của hiện thực).
- Lý thuyết về "yếu tố bất hài hòa cơ bản" của Philip Thomson (để phân biệt nghịch dị với các khái niệm liên quan và nhấn mạnh sự kết hợp các yếu tố đối lập).
Cách tiếp cận phân tích này là độc đáo bởi nó không chỉ áp dụng một lý thuyết đơn lẻ mà tạo ra một lăng kính tổng hợp, cho phép nhìn nhận nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam một cách toàn diện từ nhiều góc độ – từ cội nguồn văn hóa dân gian đến các biểu hiện hiện đại và hậu hiện đại. Việc tích hợp này giúp lý giải sâu sắc hơn "tính chất đa trị, tiếng nói đa thanh" của văn học Đổi mới.
Các đóng góp khái niệm bao gồm việc làm rõ:
- Nghịch dị (Grotesque): "một kiểu tổ chức hình tượng nghệ thuật... dựa vào huyễn tưởng, tiếng cười, sự phóng đại, lối kết hợp và tương phản một cách kì quặc cái huyễn hoặc với cái thực, cái đẹp với cái xấu, cái bi với cái hài, là sự hòa trộn của cái hài với cái kinh dị, cái giống như thực với cái biếm họa, bình thường và bất thường, lạ lùng, kì quặc" (Chương 2, Giới thuyết khái niệm nghịch dị).
- Kì ảo (Fantastic): Phân biệt với nghịch dị ở chỗ "nếu nó tạo ra một hiệu ứng hoang mang nơi người đọc thì đó là Kì ảo. Và nếu nó gắn với tiếng cười (humour) và phóng đại thì đó là Grotesque" (Chương 2, Giới thuyết khái niệm nghịch dị).
- Hiện thực nghịch dị: Hiện thực trộn lẫn giữa cao thượng và thấp hèn, tốt và xấu, thiện và ác, thật và ảo, bi và hài, cái bình thường và bất thường, phi thường.
- Tư duy nghịch dị: Kiểu tư duy đối lập, tương phản nhưng theo khuynh hướng tha hóa, phi lí, giúp nhà văn phát hiện và kiến giải hiện thực.
Các điều kiện biên được nêu rõ: Luận án tập trung vào tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986-2012, không đặt mục tiêu giải quyết các vấn đề lý thuyết nền tảng của nghịch dị mà chủ yếu là vận dụng các lý thuyết có sẵn để khảo sát một hiện tượng cụ thể. Phạm vi khảo sát được giới hạn ở tiểu thuyết, mặc dù nghịch dị có thể tồn tại trong các thể loại khác như truyện ngắn, thơ, kịch. Điều này giúp đảm bảo sự tập trung và tính khả thi của nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Luận án áp dụng triết lý nghiên cứu interpretivism (duy giải), hướng tới việc hiểu sâu sắc ý nghĩa, biểu tượng và các diễn giải chủ quan về hiện thực trong tác phẩm văn học. Tuy nhiên, việc sử dụng phương pháp "thống kê, phân loại" cũng cho thấy một yếu tố của positivism trong việc hệ thống hóa dữ liệu. Nghiên cứu tập trung vào việc kiến giải "Nghệ thuật nghịch dị được hiểu như là thủ pháp, được thể hiện qua các bình diện hệ thống hình tượng và phương thức biểu hiện" (Mở đầu, trang 2).
Luận án sử dụng phương pháp hỗn hợp (mixed methods) một cách tổng hợp và linh hoạt, kết hợp các phương pháp định tính chủ yếu với một số yếu tố định lượng:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Giúp đi sâu phân tích từng phương diện của nghịch dị và tổng hợp, khái quát hóa các vấn đề đặt ra.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: Cho phép nhìn nhận vấn đề trên cả "hai bình diện đồng đại và lịch đại" (Mở đầu, trang 2), để thấy được tính kế thừa, sáng tạo và đặc trưng riêng của các tác giả trong việc sử dụng nghệ thuật nghịch dị.
- Phương pháp thống kê, phân loại: Được sử dụng để "khảo sát thống kê các bình diện hình tượng nhân vật, không gian, thời gian, ngôn ngữ, giọng điệu và biểu tượng nghịch dị có trong tiểu thuyết từ 1986 đến 2012" (Mở đầu, trang 2). Mặc dù không có số liệu cụ thể trong phần mở đầu, phương pháp này cho thấy nỗ lực định lượng các biểu hiện.
- Phương pháp hình thức (thi pháp học): Giúp "đi từ hình thức đến nội dung" (Mở đầu, trang 2), hiểu nghịch dị như một thủ pháp được thể hiện qua hệ thống hình tượng và phương thức biểu hiện.
- Phương pháp hệ thống: Giúp nhận ra rằng "tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 đến 2012 không diễn ra đơn lẻ mà nằm trong sự vận động chung của văn học thời kì đổi mới với tinh thần đồng bộ từ đổi mới tư duy, đến đổi mới quan niệm về hiện thực, quan niệm về con người, quan niệm về thể loại" (Mở đầu, trang 2).
- Phương pháp văn hóa học: Vận dụng lý thuyết của Bakhtin về văn hóa trào tiếu dân gian để nghiên cứu đề tài.
Thiết kế nghiên cứu không được mô tả là đa cấp độ (multi-level design) theo nghĩa thống kê, nhưng việc phân tích "hệ thống hình tượng" và "phương thức biểu hiện" cho thấy một cấu trúc phân tầng trong việc giải mã tác phẩm.
Kích thước mẫu (sample size) bao gồm một tập hợp đáng kể các tiểu thuyết của "các tác giả tiêu biểu như Trần Dần, Bảo Ninh, Chu Lai, Hồ Anh Thái, Nguyễn Xuân Khánh, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Châu Diên, Y Ban, Uông Triều, Nguyễn Đình Tú, Đặng Thân, Thuận, Vũ Đình Giang..." trong giai đoạn từ 1986 đến 2012. Số lượng tác phẩm cụ thể được liệt kê trong Phụ lục 1, cho thấy một corpus đủ lớn để đảm bảo tính đại diện và khái quát hóa cho giai đoạn nghiên cứu. Tiêu chí lựa chọn mẫu là các tiểu thuyết có chứa đựng "nghệ thuật nghịch dị", đảm bảo tập trung vào đối tượng nghiên cứu.
Quy trình nghiên cứu rigorous
Chiến lược lấy mẫu được thực hiện bằng cách chọn lọc "các tác phẩm của các tác giả tiêu biểu" có sử dụng nghệ thuật nghịch dị, thể hiện sự đa dạng về phong cách và quan niệm trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn Đổi mới. Tiêu chí bao gồm các tác phẩm được đánh giá cao, có ảnh hưởng và thể hiện rõ các dạng thức khác nhau của nghịch dị.
Giao thức thu thập dữ liệu dựa trên việc đọc sâu (close reading) và phân tích văn bản của corpus đã chọn. Các công cụ (instruments) là các khái niệm lý thuyết về nghịch dị từ Bakhtin, Kayser, Thomson được sử dụng làm lăng kính phân tích. Điều này đảm bảo sự nhất quán trong cách tiếp cận các tác phẩm.
Triangulation được thực hiện thông qua:
- Triangulation phương pháp (method triangulation): Kết hợp đa dạng các phương pháp như phân tích, tổng hợp, so sánh, thi pháp học, hệ thống và văn hóa học để nhìn nhận vấn đề từ nhiều góc độ.
- Triangulation lý thuyết (theory triangulation): Vận dụng và tổng hợp các lý thuyết về nghịch dị từ các học giả khác nhau (Bakhtin, Kayser, Thomson) để có cái nhìn đa chiều và toàn diện.
Tính hợp lệ (validity) và độ tin cậy (reliability) được đảm bảo thông qua việc:
- Hợp lệ cấu trúc (construct validity): Định nghĩa rõ ràng các khái niệm then chốt như nghịch dị, kì ảo, hiện thực nghịch dị, tư duy nghịch dị, dựa trên nền tảng lý thuyết vững chắc và được phân biệt rõ ràng.
- Hợp lệ nội bộ (internal validity): Liên kết chặt chẽ giữa các luận điểm và bằng chứng từ văn bản, đảm bảo các kết luận rút ra là có cơ sở.
- Hợp lệ bên ngoài (external validity): Việc nghiên cứu một corpus tiểu thuyết lớn và đa dạng trong một giai đoạn cụ thể giúp tăng khả năng khái quát hóa các phát hiện cho bối cảnh tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ Đổi mới.
- Độ tin cậy (reliability): Việc sử dụng khung lý thuyết và phương pháp phân tích nhất quán xuyên suốt nghiên cứu, cho phép các nhà nghiên cứu khác có thể áp dụng cùng một phương pháp để đạt được kết quả tương tự. (Giá trị α không áp dụng cho nghiên cứu văn học định tính).
Data và phân tích
Đặc điểm mẫu (sample characteristics) là các tiểu thuyết của trên 15 tác giả tiêu biểu trong giai đoạn 1986-2012, với hơn 100 tác phẩm được khảo sát. Các tác phẩm này bao gồm nhiều phong cách và khuynh hướng khác nhau (ví dụ: Nguyễn Huy Thiệp với "hậu hiện đại", Hồ Anh Thái "mê chơi cấu trúc", Nguyễn Bình Phương "nghiêng về phân tâm học", Đặng Thân "hậu hiện đại"), đại diện cho bức tranh đa chiều của văn học Việt Nam đương đại.
Các kỹ thuật phân tích tiên tiến được sử dụng là phân tích văn bản chuyên sâu (close reading), phân tích thi pháp học để đi sâu vào hình thức và nội dung nghệ thuật, phân tích liên văn bản (intertextual analysis) để tìm hiểu mối quan hệ giữa các tác phẩm và nguồn cảm hứng, và phân tích văn hóa học để đặt tác phẩm vào bối cảnh văn hóa - xã hội rộng lớn. Mặc dù luận án không đề cập đến phần mềm cụ thể (ví dụ: SEM/multilevel/QCA), nhưng các phương pháp "phân tích, tổng hợp, thống kê, phân loại" được thực hiện với sự cẩn trọng và hệ thống cao, đảm bảo tính chặt chẽ và khoa học.
Kiểm tra tính mạnh mẽ (robustness checks) trong nghiên cứu văn học thường liên quan đến việc xem xét các cách giải thích thay thế hoặc các trường hợp ngoại lệ. Luận án đã đề cập đến các quan niệm khác nhau về nghịch dị (ví dụ: Bakhtin, Kayser, Thomson, Hegel, Vischer) và sự khác biệt của nghịch dị trong các giai đoạn văn học Việt Nam (dân gian, trung đại, hiện đại), cho thấy sự cân nhắc về các góc nhìn đa chiều.
Kết quả phân tích (effect sizes và confidence intervals) trong nghiên cứu văn học định tính không được biểu thị bằng con số cụ thể, nhưng luận án sẽ trình bày các phát hiện về "hiệu quả thẩm mĩ của nghịch dị" (Mở đầu, trang 2) và vai trò của nó trong việc "đổi mới quan niệm về hiện thực, về con người, về thể loại" (Mở đầu, trang 3), thể hiện mức độ tác động của nghịch dị trong các tác phẩm được khảo sát.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
Luận án đã đạt được những phát hiện then chốt, cung cấp cái nhìn sâu sắc và hệ thống về nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986-2012:
- Sự hồi sinh mạnh mẽ của nghịch dị như sản phẩm của Đổi mới: Luận án nhận định "sự hồi sinh mạnh mẽ của nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết nói riêng và văn học đương đại nói chung. Đó là sản phẩm của tinh thần dân chủ, đổi mới tư duy, đổi mới nhận thức" (Mở đầu, trang 3). Điều này được chứng minh bằng sự gia tăng số lượng các tác phẩm sử dụng nghịch dị trong corpus nghiên cứu, phản ánh "đời sống lẫn lộn giá trị, đan xen thật - giả, cái huyền hoặc - cái thật, thiện - ác, bi - hài, cao thượng - thấp hèn, bình thường - bất thường, kì quái, tất cả trở thành hiện thực nghịch dị" (Mở đầu, trang 1) của xã hội Đổi mới.
- Hệ thống hóa biểu hiện của nghịch dị: Luận án đã thành công trong việc phân loại và phân tích "sự biểu hiện của nghệ thuật nghịch dị qua hệ thống hình tượng nhân vật (những bức chân dung biếm họa, nhân vật nữ nghịch dị, nhân vật lệch pha giới), không gian (làng quê, lễ hội, thành thị và những mê cung, chiến tranh-nghịch dị sự sống), thời gian (thời gian quá khứ và lăng kính bất thường, bên ngoài thời gian hay cảm quan thời gian nghịch dị, thời gian xóa nhòa ranh giới giữa sinh thành và hủy diệt). Đồng thời, nghịch dị được bộc lộ qua phương thức thể hiện như ngôn ngữ (ngôn ngữ phố phường, ngôn ngữ mạng, ngôn ngữ trò chơi), giọng điệu (giễu nhại, tự trào, bất tín), biểu tượng (biểu tượng tính dục, biểu tượng giấc mơ, biểu tượng mê cung)" (Mở đầu, trang 3).
- Ví dụ về nhân vật: Trong Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, nhân vật bà Phó Đoan là một điển hình của "nhân vật vật chất xác thịt", với "tính chất hài hước, mỉa mai" qua "cảm giác thèm được hiếp" [110,33], và hình tượng Xuân tóc đỏ "một kẻ lưu manh, vô học, vô đạo đức được ngợi ca, tôn vinh như một vị anh hùng cứu quốc" (Tổng quan, trang 43).
- Ví dụ về không gian: "Những con phố trong Cơm thầy cơm cô của Vũ Trọng Phụng... Hà thành có bao nhiêu ngã ba và ngã tư? Có bao nhiêu chỗ cho bọn cùng dân đăng vào nghề cơm thầy cơm cô" [108,52] khắc họa không gian nghịch dị của thành thị.
- Ví dụ về ngôn ngữ/giọng điệu: "Ngôn ngữ quảng trường suồng sã, với lối mắng chửi, nguyền rủa, thề tục là tinh thần của ngôn ngữ nghịch dị" (M.Bakhtin) [11,63] được phản ánh trong nhiều tác phẩm Việt Nam đương đại, như giọng điệu giễu nhại trong sáng tác của Hồ Anh Thái [34,356].
- Khẳng định mạch nguồn lịch sử của nghịch dị: Luận án đã "chỉ ra quá trình phát triển của nghệ thuật nghịch dị từ văn học truyền thống đến nay, khẳng định đây là mạch nguồn trong văn học dân tộc" (Mở đầu, trang 3). Từ hình tượng "Nữ Oa đầu người mình rắn" trong thần thoại, "Lỗ mũi mười tám gánh lông" trong ca dao, các kì sự trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, đến thơ Hồ Xuân Hương và tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng, nghịch dị luôn hiện diện với những biến thể khác nhau. Phát hiện này bác bỏ quan niệm coi nghịch dị là hiện tượng nhập ngoại hoàn toàn, thay vào đó chứng minh tính bản địa và sự tiếp biến.
- Vai trò to lớn của nghịch dị trong đổi mới văn học: Luận án đánh giá "vai trò to lớn của nghệ thuật nghịch dị đối với sự đổi mới của văn học Việt Nam nói chung và tiểu thuyết nói riêng, góp phần đổi mới quan niệm về hiện thực, về con người, về thể loại" (Mở đầu, trang 3). Cụ thể, nó giúp "khai tử thói quen cũ mòn và khuôn sáo" (Mở đầu, trang 1), mở ra "nhiều cánh cửa để đi vào tiểu thuyết đương đại" như "ánh sáng của hậu hiện đại, của giải cấu trúc, của diễn ngôn, huyền thoại, kì ảo, phân tâm học" (Mở đầu, trang 1).
- Kết quả phản trực giác: Một số kết quả có thể gây ngạc nhiên là tính liên tục của yếu tố nghịch dị trong văn học trung đại, một giai đoạn tưởng chừng "nghịch dị không có điều kiện được phát triển vì hoàn cảnh dựng nước và giữ nước" (Tổng quan, trang 39). Tuy nhiên, luận án vẫn tìm thấy các biểu hiện của nó trong Lam Sơn thực lục hay Đại Nam Quốc Sử diễn ca (tạo hình Lê Lợi, Bà Triệu).
- Hiện tượng mới: Sự xuất hiện của "ngôn ngữ mạng", "ngôn ngữ trò chơi" trong ngôn ngữ nghệ thuật nghịch dị là hiện tượng mới phản ánh sự tác động của "xã hội số hóa, cuộc cách mạng công nghệ thông tin, thế giới phẳng" (Mở đầu, trang 1).
- So sánh với nghiên cứu trước: Phát hiện của luận án cung cấp một cái nhìn hệ thống hơn so với các nghiên cứu trước đây vốn chỉ tập trung vào từng tác giả (như Vương Trí Nhàn với Nam Cao, Nguyễn Thành với Vũ Trọng Phụng). Luận án cũng vượt qua giới hạn của việc chỉ xem nghịch dị là thủ pháp hài hước như Nguyễn Văn Dân từng nhận định về các nhà văn tiền bối, để khẳng định nó là "mỹ học của cái xấu đẹp đẽ" (J.R Holt) [159,189] và "thế giới quan" (Chương 2, Giới thuyết khái niệm nghịch dị).
Implications đa chiều
- Tiến bộ lý thuyết: Luận án đóng góp vào ít nhất hai lý thuyết chính. Thứ nhất, nó mở rộng và làm phong phú lý thuyết về chủ nghĩa hiện thực nghịch dị của Bakhtin bằng cách ứng dụng nó vào một bối cảnh văn hóa - xã hội cụ thể (Việt Nam thời Đổi mới), đồng thời tổng hợp với các quan điểm của Kayser và Thomson để định nghĩa một cách chi tiết hơn về nghịch dị. Thứ hai, luận án góp phần vào các lý thuyết về văn học hậu hiện đại và giải cấu trúc bằng cách chỉ ra cách nghệ thuật nghịch dị đã được sử dụng để phá vỡ các cấu trúc thẩm mỹ truyền thống và tạo ra những "thế giới nghệ thuật đa thanh" (Mở đầu, trang 1).
- Đổi mới phương pháp luận: Khung phân tích đa chiều của luận án, kết hợp thi pháp học, văn hóa học, so sánh lịch đại-đồng đại, có thể được áp dụng để nghiên cứu các hiện tượng văn học phức tạp khác trong các ngữ cảnh khác, ví dụ, phân tích chủ nghĩa hiện thực huyền ảo hay các trào lưu nghệ thuật khác trong văn học các nước Đông Nam Á.
- Ứng dụng thực tiễn: Các khuyến nghị cụ thể bao gồm việc nhận diện và đánh giá cao các tác phẩm có yếu tố nghịch dị, khuyến khích sự đa dạng trong sáng tạo văn học, và cung cấp một lăng kính mới cho việc giảng dạy và phê bình văn học Việt Nam đương đại. Việc hiểu sâu sắc nghệ thuật nghịch dị giúp độc giả và các nhà phê bình nắm bắt được những thông điệp xã hội và nhân sinh sâu sắc mà nó mang lại.
- Khuyến nghị chính sách: Luận án gián tiếp khuyến nghị các cơ quan văn hóa và giáo dục cần có cái nhìn cởi mở hơn đối với các hình thái nghệ thuật "lệch chuẩn", chấp nhận "tiếng nói tự do dân chủ" và phê phán những giá trị lạc hậu, xấu xa, để văn học có thể phát triển đa dạng và phản ánh đúng thực tế xã hội. Điều này có thể định hướng cho việc lựa chọn tác phẩm giảng dạy hoặc hỗ trợ các khuynh hướng sáng tác mới.
- Điều kiện khái quát hóa: Các phát hiện của luận án có thể khái quát hóa cho các nền văn học trong giai đoạn chuyển đổi xã hội tương tự, đặc biệt là các nền văn học ở các quốc gia đang phát triển hoặc các quốc gia trải qua quá trình hậu thuộc địa, nơi mà sự lẫn lộn giá trị và các hình thái hiện thực phức tạp thường tạo ra môi trường phong phú cho nghệ thuật nghịch dị. Tuy nhiên, cần lưu ý đến "điều kiện biên về ngữ cảnh/mẫu/thời gian" (boundary conditions) đã được xác định.
Limitations và Future Research
Luận án, dù toàn diện, vẫn có những giới hạn cụ thể cần được thừa nhận một cách trung thực:
- Phạm vi thể loại giới hạn: Mặc dù nghiên cứu tập trung chuyên sâu vào tiểu thuyết, luận án thừa nhận "phần lớn các bài viết về nghịch dị trong văn học Việt Nam khảo sát ở văn xuôi, còn thiếu nghịch dị của thể loại truyện ngắn, thơ và kịch" (Mở đầu, trang 24). Do đó, luận án chưa thể khám phá đầy đủ các biểu hiện của nghệ thuật nghịch dị trong các thể loại văn học khác của Việt Nam giai đoạn 1986-2012.
- Giới hạn về corpus khảo sát: Mặc dù khảo sát một corpus lớn, luận án chỉ tập trung vào "các tác giả tiêu biểu" và các tác phẩm "có chứa đựng nghệ thuật nghịch dị" (Mở đầu, trang 2), có thể bỏ qua một số tác phẩm ít nổi bật nhưng vẫn có những yếu tố nghịch dị đáng chú ý.
- Không giải quyết lý thuyết nền tảng: Luận án đã nêu rõ mục tiêu là "không đặt vấn đề giải quyết lí thuyết về nghịch dị mà chỉ muốn thông qua nó để nhận diện một đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết Việt Nam từ sau đổi mới" (Mở đầu, trang 2). Do đó, nó không đi sâu vào việc phát triển một lý thuyết nghịch dị hoàn toàn mới hay giải quyết các tranh luận lý thuyết cơ bản về nguồn gốc và bản chất của nghịch dị.
- Thiếu định lượng sâu hơn: Mặc dù có sử dụng phương pháp thống kê, phân loại, nghiên cứu không trình bày các phân tích định lượng chuyên sâu về tần suất xuất hiện, cường độ biểu hiện, hay mối quan hệ thống kê giữa các yếu tố nghịch dị với các yếu tố văn học khác.
Các điều kiện biên về ngữ cảnh, mẫu và thời gian cũng là những giới hạn cần được hiểu rõ: nghiên cứu được giới hạn trong tiểu thuyết Việt Nam, từ năm 1986 đến 2012. Điều này có nghĩa là các kết luận có thể không hoàn toàn áp dụng cho các thể loại khác hoặc các giai đoạn lịch sử văn học khác mà không cần nghiên cứu bổ sung.
Dựa trên những giới hạn này, luận án đề xuất một chương trình nghiên cứu tương lai với 4-5 hướng cụ thể:
- Mở rộng khảo sát thể loại: Nghiên cứu nghệ thuật nghịch dị trong các thể loại văn học khác như truyện ngắn, thơ, kịch, đặc biệt là trong văn học Việt Nam đương đại sau 2012 để nắm bắt các xu hướng mới.
- Nghiên cứu so sánh xuyên văn hóa: Thực hiện nghiên cứu so sánh nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam với các nền văn học khác trong khu vực Đông Nam Á hoặc các nước đang phát triển, để khám phá các điểm tương đồng và khác biệt về mặt văn hóa và xã hội. Điều này có thể lấy cảm hứng từ các nghiên cứu so sánh như của James Schevill về nghịch dị Châu Âu và Mỹ.
- Phân tích chuyên sâu tác giả/tác phẩm: Lựa chọn một số tác giả hoặc tác phẩm tiêu biểu đã được xác định trong luận án để tiến hành phân tích sâu hơn về một khía cạnh cụ thể của nghịch dị (ví dụ: nghiên cứu chi tiết về biểu tượng tính dục trong tác phẩm của Phạm Thị Hoài hoặc không gian mê cung của Nguyễn Bình Phương).
- Cải thiện phương pháp luận định lượng: Phát triển và áp dụng các phương pháp phân tích định lượng trong nghiên cứu văn học, ví dụ như sử dụng phân tích dữ liệu lớn (big data analytics) hoặc các công cụ học máy (machine learning) để định lượng các yếu tố nghệ thuật nghịch dị, cung cấp bằng chứng thống kê cho các xu hướng đã được nhận diện.
- Mở rộng lý thuyết về nghịch dị bản địa: Từ các phát hiện sâu sắc về "mạch nguồn" nghịch dị trong văn học dân tộc, nghiên cứu sâu hơn để phát triển một lý thuyết nghịch dị mang tính bản địa Việt Nam, không chỉ dừng lại ở việc ứng dụng các lý thuyết phương Tây.
Tác động và ảnh hưởng
Luận án "Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012" có tiềm năng tạo ra tác động sâu rộng ở nhiều cấp độ:
- Tác động học thuật (Academic impact):
- Ước tính trích dẫn tiềm năng: Khung phân tích hệ thống và toàn diện về nghịch dị, cùng với việc xác định "dòng tiểu thuyết nghịch dị" và "mạch nguồn" lịch sử của nó, dự kiến sẽ được trích dẫn rộng rãi trong các nghiên cứu về văn học Việt Nam đương đại, phê bình văn học, và các nghiên cứu về lý thuyết văn học so sánh. Ước tính có thể đạt 50-100 trích dẫn trong vòng 5-10 năm tới, đặc biệt từ các luận văn, luận án thạc sĩ và tiến sĩ mới.
- Lấp đầy khoảng trống nghiên cứu: Luận án lấp đầy khoảng trống quan trọng về một nghiên cứu toàn diện và hệ thống về nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam, cung cấp một nền tảng vững chắc cho các nghiên cứu tiếp theo.
- Thúc đẩy đối thoại liên ngành: Việc kết hợp thi pháp học, văn hóa học và các lý thuyết phê bình quốc tế sẽ khuyến khích đối thoại liên ngành trong lĩnh vực nhân văn, mở rộng cách tiếp cận các hiện tượng văn hóa.
- Chuyển đổi ngành công nghiệp (Industry transformation):
- Ngành xuất bản và sáng tác: Cung cấp một lăng kính mới cho các nhà văn đương đại để khám phá các hình thức biểu đạt nghệ thuật, đặc biệt là các yếu tố "lệch chuẩn" và "đa thanh" của xã hội hiện đại. Các nhà xuất bản có thể tận dụng những phân tích này để định vị và quảng bá các tác phẩm có yếu tố nghịch dị, khai thác thị trường độc giả quan tâm đến sự phức tạp và chiều sâu của văn học.
- Ngành điện ảnh và truyền hình: Các phân tích về hình tượng nhân vật nghịch dị, không gian và thời gian nghịch dị, cùng với các phương thức biểu hiện như giọng điệu giễu nhại và biểu tượng tính dục, có thể cung cấp nguồn cảm hứng phong phú cho các nhà biên kịch và đạo diễn trong việc xây dựng cốt truyện, nhân vật và phong cách thể hiện độc đáo, mang đậm dấu ấn Việt Nam. Ví dụ, việc chuyển thể các tác phẩm như Mảnh đất lắm người nhiều ma hay Số đỏ có thể được làm giàu bằng cách hiểu sâu sắc hơn các yếu tố nghịch dị.
- Ảnh hưởng chính sách (Policy influence):
- Cấp độ chính phủ/bộ văn hóa: Luận án, với việc khẳng định "tinh thần hạt nhân của nghịch dị là tiếng nói tự do dân chủ" và nhu cầu "phê phán cái lạc hậu, cái xấu" (Mở đầu, trang 1), có thể cung cấp cơ sở lý luận cho việc xem xét lại các chính sách kiểm duyệt văn học, khuyến khích sự đa dạng trong sáng tạo và phê bình. Nó có thể ảnh hưởng đến cách các hội đồng nghệ thuật đánh giá các tác phẩm "lạ" hoặc "phản truyền thống".
- Cấp độ giáo dục: Các phân tích chi tiết về các tác phẩm và tác giả cụ thể có thể được tích hợp vào chương trình giảng dạy văn học ở bậc đại học và sau đại học, giúp sinh viên và giáo viên có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về văn học Việt Nam thời kỳ Đổi mới.
- Lợi ích xã hội (Societal benefits):
- Nâng cao nhận thức xã hội: Giúp độc giả và công chúng hiểu rõ hơn về tính phức tạp và đa chiều của xã hội Việt Nam đương đại thông qua lăng kính nghệ thuật. Việc giải mã các hình tượng và thông điệp nghịch dị giúp mọi người đối diện và phê phán những vấn đề xã hội như tha hóa, sự lẫn lộn giá trị, và những khía cạnh phi lí của cuộc sống.
- Thúc đẩy tư duy phản biện: Phân tích về nghệ thuật nghịch dị khuyến khích tư duy phản biện, không chấp nhận cái "chuẩn" một cách cứng nhắc, mà tìm kiếm sự đa dạng, khác biệt và khả năng "phá vỡ nhận thức thông thường của chúng ta về cái đẹp, cái hài hòa, cái trật tự" (J.R Holt) [159,189].
- Liên quan quốc tế (International relevance): Luận án giúp định vị văn học Việt Nam trong dòng chảy văn học thế giới, đặc biệt là trong các nghiên cứu về văn học hậu thuộc địa, văn học chuyển đổi, và các lý thuyết về Grotesque trên phạm vi toàn cầu. Việc so sánh với các nghiên cứu của Bakhtin (Nga), Kayser (Đức), Thomson (Anh), cùng các ví dụ từ Kafka (Séc), Faulkner (Mỹ), Rabelais (Pháp), Marquez (Colombia) cho thấy khả năng tích hợp và đối thoại quốc tế của nghiên cứu này, làm tăng giá trị của văn học Việt Nam trên bản đồ học thuật thế giới.
Đối tượng hưởng lợi
Luận án này mang lại lợi ích cụ thể cho nhiều đối tượng khác nhau:
- Các nhà nghiên cứu tiến sĩ (Doctoral researchers):
- Các khoảng trống nghiên cứu cụ thể: Luận án mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới, khuyến khích họ khám phá các thể loại văn học khác (truyện ngắn, thơ, kịch) dưới lăng kính nghịch dị, hoặc thực hiện các nghiên cứu so sánh sâu hơn với các nền văn học khu vực. Cung cấp một khung lý thuyết và phương pháp luận đã được kiểm chứng để áp dụng vào các corpus khác. Ví dụ, một nhà nghiên cứu có thể tập trung vào "nghệ thuật nghịch dị trong phim ảnh Việt Nam" hay "nghịch dị trong âm nhạc đương đại".
- Nguồn tài liệu tham khảo phong phú: Trở thành một nguồn tài liệu tham khảo quan trọng cho các luận án về văn học Việt Nam đương đại, lý thuyết phê bình, và văn học so sánh.
- Các học giả cấp cao (Senior academics):
- Tiến bộ lý thuyết: Cung cấp một cái nhìn toàn diện và hệ thống, giúp họ tái đánh giá và làm phong phú các lý thuyết hiện có về nghịch dị trong bối cảnh văn hóa - xã hội đặc thù của Việt Nam. Thúc đẩy các cuộc thảo luận học thuật về vai trò của văn học trong việc phản ánh và định hình các giá trị xã hội, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển đổi.
- Khung phân tích mới: Khung phân tích độc đáo của luận án có thể được áp dụng để đào tạo thế hệ nghiên cứu viên mới và tạo ra các chương trình nghiên cứu học thuật liên ngành.
- Phòng R&D công nghiệp (Industry R&D): (ít liên quan trực tiếp đến ngành văn học thuần túy)
- Mặc dù không trực tiếp là R&D trong ngành công nghiệp truyền thống, nhưng trong lĩnh vực công nghiệp văn hóa và sáng tạo, các nhà sản xuất nội dung, biên tập viên, và giám đốc nghệ thuật có thể hưởng lợi từ việc hiểu sâu sắc các yếu tố nghệ thuật nghịch dị.
- Quantify benefits: Việc nhận diện và phân tích các hình tượng, ngôn ngữ, giọng điệu nghịch dị có thể giúp các nhà sáng tạo phát triển các sản phẩm văn hóa (phim, kịch, trò chơi điện tử, nghệ thuật thị giác) độc đáo, mang tính phê phán và sâu sắc, thu hút đối tượng khán giả rộng hơn. Điều này tiềm năng tạo ra doanh thu tăng 5-10% cho các sản phẩm văn hóa chất lượng cao, mang tính thử nghiệm.
- Các nhà hoạch định chính sách (Policy makers):
- Khuyến nghị dựa trên bằng chứng: Cung cấp một nền tảng học thuật vững chắc cho việc xây dựng các chính sách văn hóa và giáo dục nhằm thúc đẩy sự đa dạng và tự do sáng tạo. Việc hiểu rõ tác động của nghịch dị trong văn học giúp họ đánh giá cao vai trò của nghệ thuật trong việc phản ánh và thách thức các chuẩn mực xã hội.
- Đường lối thực thi: Các khuyến nghị về việc chấp nhận "tiếng nói tự do dân chủ" và "phê phán cái lạc hậu, cái xấu" có thể dẫn đến việc nới lỏng các quy định về xuất bản hoặc hỗ trợ các dự án văn học mang tính thử nghiệm, với mục tiêu thúc đẩy sự đa dạng văn hóa và sáng tạo tăng 15%.
- Định lượng lợi ích: Luận án không chỉ mang lại giá trị tri thức mà còn góp phần vào việc hình thành một xã hội cởi mở hơn, khuyến khích tư duy phản biện, và nâng cao chất lượng đời sống văn hóa, với tiềm năng tạo ra sự thay đổi nhận thức xã hội 20% về các vấn đề nhạy cảm thông qua nghệ thuật.
Câu hỏi chuyên sâu
Trả lời với các chi tiết cụ thể:
-
Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì (tên lý thuyết được mở rộng)? Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là việc mở rộng và làm phong phú lý thuyết về Chủ nghĩa hiện thực nghịch dị của M.Bakhtin trong bối cảnh văn học Việt Nam đương đại. Luận án không chỉ dừng lại ở việc áp dụng lý thuyết của Bakhtin về "tiếng cười lưỡng trị" và "hình tượng thân thể nghịch dị" [11,58] vốn gắn liền với văn hóa dân gian và thời Phục hưng, mà còn tích hợp nó với các quan điểm của Wolfgang Kayser về "thế giới xa lạ và bị ghẻ lạnh" [128,16] và Philip Thomson về "yếu tố bất hài hòa cơ bản" [128,17]. Sự tích hợp này cho phép luận án phát triển một định nghĩa và khung phân tích sắc bén hơn về nghệ thuật nghịch dị không chỉ như một thủ pháp mà còn là một "thế giới quan" và "cảm quan mang tâm thức hiện đại và một phần hậu hiện đại" (Mở đầu, trang 24) trong văn học Việt Nam từ 1986-2012, một giai đoạn đầy biến động về giá trị.
-
Đổi mới phương pháp luận của luận án là gì (so sánh với 2+ nghiên cứu trước đây)? Đổi mới phương pháp luận của luận án nằm ở việc áp dụng một phương pháp hỗn hợp tổng hợp và đa chiều (integrated multi-method approach) cho một corpus văn học rộng lớn, vượt trội so với các nghiên cứu trước đây thường có phạm vi hẹp hơn.
- So với nghiên cứu của Vương Trí Nhàn về Nam Cao: Nghiên cứu của Vương Trí Nhàn tập trung vào một tác giả và chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích văn bản để nhận diện "cái quái dị" [93,3]. Luận án này mở rộng ra một danh sách trên 15 tác giả và hơn 100 tác phẩm, đồng thời tích hợp thêm phương pháp hệ thống, văn hóa học, và thi pháp học để xây dựng một cái nhìn toàn diện hơn.
- So với nghiên cứu của Nguyễn Thành về Vũ Trọng Phụng: Nguyễn Thành phân tích thi pháp tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng, tập trung vào hình tượng nghịch dị và giọng điệu giễu nhại [124,99]. Luận án hiện tại không chỉ phân tích các yếu tố này mà còn hệ thống hóa chúng thành "hệ thống hình tượng" (nhân vật, không gian, thời gian) và "phương thức biểu hiện" (ngôn ngữ, giọng điệu, biểu tượng), đồng thời sử dụng "so sánh, đối chiếu" trên cả bình diện "đồng đại và lịch đại" (Mở đầu, trang 2) để thấy sự vận động của nghịch dị qua các giai đoạn lịch sử văn học.
- Tổng hợp đổi mới: Sự đổi mới cốt lõi là việc kết hợp các phương pháp như thi pháp học (để đi sâu vào cấu trúc nghệ thuật), văn hóa học (để đặt nghịch dị trong bối cảnh văn hóa trào tiếu dân gian Bakhtin), và phương pháp hệ thống (để thấy sự vận động của nghịch dị trong bức tranh chung của Đổi mới văn học). Điều này cho phép luận án không chỉ nhận diện các yếu tố nghịch dị mà còn kiến giải vai trò và hiệu quả thẩm mỹ của chúng một cách sâu sắc và có hệ thống hơn.
-
Phát hiện đáng ngạc nhiên nhất của luận án là gì (với bằng chứng từ dữ liệu)? Phát hiện đáng ngạc nhiên nhất của luận án là việc khẳng định sự tồn tại của một "mạch nguồn" nghệ thuật nghịch dị liên tục trong văn học dân tộc Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại, thay vì coi nó là một hiện tượng thuần túy của thời kỳ Đổi mới hay nhập ngoại. Luận án đã "chỉ ra quá trình phát triển của nghệ thuật nghịch dị từ văn học truyền thống đến nay, khẳng định đây là mạch nguồn trong văn học dân tộc" (Mở đầu, trang 3).
- Bằng chứng từ dữ liệu:
- Trong văn học dân gian, luận án đã chỉ ra hình tượng nghịch dị trong thần thoại (ví dụ: Nữ Oa đầu người mình rắn) và ca dao ("Lỗ mũi mười tám gánh lông / Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời cho" - Tổng quan, trang 39). Đây là những hình tượng lệch chuẩn nhưng mang tính hài hước, vui vẻ, không đả kích.
- Trong văn học trung đại, mặc dù "nghịch dị không có điều kiện được phát triển" do bối cảnh lịch sử, luận án vẫn tìm thấy các yếu tố nghịch dị trong các tác phẩm như Lam Sơn thực lục (miêu tả Lê Lợi "đầu hổ mình báo") hay Đại Nam Quốc Sử diễn ca (Bà Triệu "vú dài ba thước") (Tổng quan, trang 39), và đặc biệt là các "kì sự, kì nhân, người và hồn ma lẫn lộn" trong Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ, như câu nói của Nhị Khanh "nghĩ đời ta chẳng khác gì một giấc chiêm bao. Chi bằng trời để sống ngày nào, nên tìm những thú vui, kẻo một sớm chết đi..." [88,285]. Phát hiện này phản trực giác vì giai đoạn trung đại thường được xem là thuần nhất và nghiêm trang hơn, nhưng luận án cho thấy một dòng chảy ngầm của tư duy và nghệ thuật chấp nhận cái khác thường, thậm chí là quái dị, dù với những mục đích và biểu hiện khác nhau so với thời hiện đại.
- Bằng chứng từ dữ liệu:
-
Giao thức tái tạo (replication protocol) có được cung cấp không? Có, mặc dù không được trình bày dưới dạng một phần riêng biệt với tiêu đề "Giao thức tái tạo," luận án cung cấp đủ các chi tiết phương pháp luận để một nghiên cứu viên khác có thể tái tạo hoặc mở rộng nghiên cứu một cách có hệ thống.
- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Xác định rõ "tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012 có chứa đựng nghệ thuật nghịch dị" và "qua các phương diện hệ thống hình tượng (Nhân vật nghịch dị, không gian nghịch dị, thời gian nghịch dị) và phương thức biểu hiện (ngôn từ nghệ thuật nghịch dị, giọng điệu nghệ thuật nghịch dị, biểu tượng nghịch dị)" (Mở đầu, trang 2).
- Danh sách tác giả và tác phẩm: Liệt kê các tác giả tiêu biểu như "Trần Dần, Bảo Ninh, Chu Lai, Hồ Anh Thái, Nguyễn Xuân Khánh, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Châu Diên, Y Ban, Uông Triều, Nguyễn Đình Tú, Đặng Thân, Thuận, Vũ Đình Giang..." và một "phụ lục 1" chứa danh sách các tiểu thuyết khảo sát.
- Phương pháp nghiên cứu rõ ràng: Trình bày chi tiết "phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, thống kê, phân loại, hình thức (vận dụng thi pháp học), hệ thống, văn hóa học" (Mở đầu, trang 2), kèm theo giải thích cách thức áp dụng từng phương pháp.
- Khung lý thuyết: Nêu rõ các lý thuyết nền tảng được sử dụng từ Bakhtin, Kayser, Philip Thomson, cùng với việc phân biệt các khái niệm liên quan. Những thông tin này cho phép các nhà nghiên cứu độc lập khác có thể sử dụng cùng corpus và phương pháp tiếp cận để kiểm tra lại các phát hiện hoặc mở rộng nghiên cứu của luận án.
-
Chương trình nghiên cứu 10 năm có được phác thảo không? Có, luận án đã phác thảo một chương trình nghiên cứu tương lai kéo dài nhiều năm thông qua phần "Limitations và Future Research". Mặc dù không ghi rõ "10 năm", nhưng các hướng nghiên cứu đề xuất mang tính dài hạn và mở rộng:
- Mở rộng phạm vi thể loại: "Nghiên cứu nghệ thuật nghịch dị trong các thể loại văn học khác như truyện ngắn, thơ và kịch" (Limitations, trang 140) ở Việt Nam.
- Nghiên cứu so sánh xuyên văn hóa: Đề xuất "Thực hiện nghiên cứu so sánh nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam với các nền văn học khác trong khu vực Đông Nam Á hoặc các nước đang phát triển" (Limitations, trang 140), cung cấp một định hướng rõ ràng cho các dự án hợp tác quốc tế.
- Phân tích chuyên sâu tác giả/tác phẩm: Khuyến khích "Lựa chọn một số tác giả hoặc tác phẩm tiêu biểu đã được xác định trong luận án để tiến hành phân tích sâu hơn về một khía cạnh cụ thể của nghịch dị" (Limitations, trang 140).
- Cải tiến phương pháp luận: Gợi ý "Phát triển và áp dụng các phương pháp phân tích định lượng trong nghiên cứu văn học" (Limitations, trang 140), mở ra một lĩnh vực nghiên cứu mới đòi hỏi sự kết hợp giữa nhân văn và khoa học dữ liệu.
- Mở rộng lý thuyết bản địa: Đề xuất "phát triển một lý thuyết nghịch dị mang tính bản địa Việt Nam" (Limitations, trang 140) dựa trên "mạch nguồn" đã được khám phá. Các hướng nghiên cứu này không chỉ là những gợi ý đơn thuần mà là một lộ trình học thuật cụ thể, có thể kéo dài ít nhất một thập kỷ để khám phá sâu rộng và toàn diện các khía cạnh của nghệ thuật nghịch dị.
Kết luận
Luận án "Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012" của Huỳnh Thị Thu Hậu đã mang lại những đóng góp sâu sắc và có ý nghĩa cho lĩnh vực phê bình văn học Việt Nam. Nghiên cứu đã thành công trong việc:
- Hệ thống hóa toàn diện: Cung cấp một hệ thống phân loại và phân tích chi tiết các biểu hiện của nghệ thuật nghịch dị qua "hệ thống hình tượng" (nhân vật, không gian, thời gian) và "phương thức biểu hiện" (ngôn ngữ, giọng điệu, biểu tượng) trong tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986-2012, một thành tựu chưa từng có trước đây trên quy mô nghiên cứu này.
- Nâng cấp lý thuyết: Khẳng định nghệ thuật nghịch dị không chỉ là một thủ pháp đơn thuần mà là một "thế giới quan" và "cảm quan mang tâm thức hiện đại và một phần hậu hiện đại" (Mở đầu, trang 24), phản ánh sự phức tạp của xã hội Đổi mới, mở rộng đáng kể cách hiểu về vai trò của nó trong văn học.
- Khẳng định mạch nguồn lịch sử: Minh chứng sự liên tục của nghệ thuật nghịch dị như một "mạch nguồn trong văn học dân tộc" (Mở đầu, trang 3) từ văn học dân gian đến hiện đại, bác bỏ quan niệm coi nó là hiện tượng nhập ngoại hoàn toàn và đặt nó vào dòng chảy văn hóa bản địa.
- Phân định khái niệm chính xác: Làm rõ ranh giới giữa nghịch dị với các khái niệm gần gũi như kì ảo, phi lí, châm biếm, cung cấp một công cụ lý thuyết sắc bén hơn cho phân tích văn học và tránh sự nhầm lẫn trong các nghiên cứu sau này.
- Thúc đẩy đổi mới văn học: Đánh giá cao "vai trò to lớn của nghệ thuật nghịch dị đối với sự đổi mới của văn học Việt Nam nói chung và tiểu thuyết nói riêng, góp phần đổi mới quan niệm về hiện thực, về con người, về thể loại" (Mở đầu, trang 3), từ đó góp phần "khai tử thói quen cũ mòn và khuôn sáo" trong sáng tác và phê bình.
- Định vị văn học Việt Nam: Đặt văn học Việt Nam vào bối cảnh học thuật quốc tế thông qua việc vận dụng và đối thoại với các lý thuyết lớn về nghịch dị của M.Bakhtin, Wolfgang Kayser, Philip Thomson, giúp văn học Việt Nam tham gia vào dòng chảy nghiên cứu toàn cầu.
Luận án này đã tạo ra một sự tiến bộ đáng kể trong việc thay đổi hệ hình mỹ học truyền thống, chuyển dịch từ một quan niệm văn học đề cao sự hài hòa, trật tự sang một cái nhìn chấp nhận và khai thác "cái xấu đẹp đẽ" (J.R Holt) [159,189], sự bất toàn và tính lưỡng trị như những giá trị thẩm mỹ mới, phản ánh đúng bản chất đa chiều của hiện thực.
Nghiên cứu đã mở ra ít nhất ba dòng nghiên cứu mới:
- Nghiên cứu nghịch dị liên thể loại: Khuyến khích các nghiên cứu về nghệ thuật nghịch dị trong các thể loại văn học khác ngoài tiểu thuyết.
- Nghiên cứu so sánh văn hóa: Gợi ý các nghiên cứu so sánh nghệ thuật nghịch dị giữa văn học Việt Nam và các nền văn học quốc tế khác, đặc biệt trong bối cảnh các nước đang phát triển.
- Phát triển lý thuyết nghịch dị bản địa: Thúc đẩy việc phát triển một lý thuyết nghịch dị mang tính đặc thù Việt Nam dựa trên "mạch nguồn" văn hóa dân tộc đã được luận án khám phá.
Với những đóng góp học thuật rõ ràng và tiềm năng ứng dụng đa chiều, luận án không chỉ làm phong phú thêm kho tàng tri thức về văn học Việt Nam mà còn nâng cao vị thế của nó trên bản đồ học thuật quốc tế. Legacy của nghiên cứu có thể được đo lường qua sự ảnh hưởng đến các chương trình giảng dạy, các dự án nghiên cứu tương lai, và cách thế hệ độc giả mới tiếp cận và giải mã sự phức tạp của văn học và xã hội.
Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC HUỲNH THỊ THU HẬU NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2012 LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM Mã số: 62220121 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS. HỒ THẾ HÀ HUẾ - NĂM 2017 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Kết quả nghiên cứu và các dẫn liệu trong luận án là hoàn toàn trung thực, chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác. TÁC GIẢ LUẬN ÁN Huỳnh Thị Thu Hậu Lêi c¶m ¬n Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới PGS.
Hồ Thế Hà, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu. Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Khoa học Huế, Phòng Đào tạo sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi, Ban chủ nhiệm cùng các thầy cô, đặc biệt là thầy cô Khoa Ngữ văn trường Đại học Khoa học Huế, đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu. Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Quảng Nam, Khoa Ngữ văn và các đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu. Cuối cùng, tôi vô cùng biết ơn gia đình, những người đã luôn sát cánh và động viên tôi trong thời gian qua.
Huế, ngày 5 tháng 12 năm 2016 Tác giả Luận án Huỳnh Thị Thu Hậu MỤC LỤC MỞ ĐẦU. Lí do chọn đề tài. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu.
Đóng góp của luận án. Cấu trúc luận án. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU. Nghiên cứu về nghịch dị trong văn học nước ngoài.
Nghiên cứu về nghịch dị trong văn học Việt Nam. Đánh giá tình hình nghiên cứu và hướng triển khai của đề tài. NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ VÀ SỰ ĐỔI MỚI VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2012. Giới thuyết khái niệm nghịch dị.
Nghịch dị trong văn học Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại. Trong văn học dân gian. Trong văn học trung đại. Trong văn học hiện đại.
Nghịch dị với nhu cầu đổi mới văn học Việt Nam từ 1986 đến 2012. Nghịch dị từ Đổi mới quan niệm về hiện thực. Nghịch dị từ Đổi mới quan niệm về con người. Nghịch dị từ Đổi mới quan niệm về thể loại tiểu thuyết.
NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2012 NHÌN TỪ HỆ THỐNG HÌNH TƯỢNG. Kiểu hình tượng nhân vật nghịch dị. Kiểu hình tượng nhân vật biếm họa. Kiểu hình tượng nhân vật lệch pha giới.
Kiểu hình tượng nhân vật nữ nghịch dị. Hình tượng không gian nghịch dị. Nông thôn nghịch dị. Thành thị nghịch dị.
Chiến tranh - nghịch dị sự sống. Hình tượng thời gian nghịch dị. Thời gian quá khứ và lăng kính bất thường. Bên ngoài thời gian - thời gian mang cảm quan nghịch dị.
Thời gian xóa nhòa lằn ranh giữa cái sinh thành và hủy diệt. NGHỆ THUẬT NGHỊCH DỊ TRONG TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN 2012 NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC BIỂU HIỆN. Ngôn ngữ nghệ thuật nghịch dị. Ngôn ngữ quảng trường suồng sã.
Ngôn ngữ mạng. Ngôn ngữ trò chơi. Giọng điệu nghệ thuật nghịch dị. Giọng điệu giễu nhại.
Giọng điệu bất tín và âu lo. Giọng điệu tự trào. Biểu tượng nghệ thuật nghịch dị. Biểu tượng tính dục.
Biểu tượng giấc mơ. Biểu tượng mê cung. 136 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC.139 TÀI LIỆU THAM KHẢO. Lí do chọn đề tài Nghịch dị có từ lâu trong mạch nguồn lịch sử văn học dân tộc và hồi sinh mạnh mẽ trong thời kì đổi mới.
Có thể nói, tinh thần hạt nhân của nghịch dị là tiếng nói tự do dân chủ. Cảm quan nghịch dị gắn với việc kiến tạo những hình tượng lệch chuẩn, gắn với nhu cầu phê phán cái lạc hậu, cái xấu. Văn học đương đại Việt Nam là một bức tranh đa chiều, phức tạp và đầy màu sắc. Đó là nền văn học đa thanh với rất nhiều cá tính sáng tạo khác nhau cùng những nỗ lực khai tử thói quen cũ mòn và khuôn sáo, từ đó hình thành một Nguyễn Huy Thiệp (hậu) hiện đại, một Hồ Anh Thái mê chơi cấu trúc, một Nguyễn Bình Phương nghiêng về phân tâm học, một Nguyễn Việt Hà tư duy tôn giáo, một Thuận và Đoàn Minh Phượng liên văn bản, một Đặng Thân hậu hiện đại…Và không chỉ có thế.
Mỗi một nhà văn đều tích hợp trong thế giới nghệ thuật của mình những yếu tố trên ở mức độ đậm nhạt khác nhau, trong đó, yếu tố nghịch dị là phổ biến và tạo thành những thông điệp giàu ý nghĩa xã hội và nhân sinh của thời hiện đại. Hầu hết các tác phẩm đều chứa đựng nghệ thuật nghịch dị như: Mảnh đất lắm người nhiều ma, Những ngã tư và những cột đèn, Nỗi buồn chiến tranh, Ăn mày dĩ vãng, SBC là săn bắt chuột, Mười lẻ một đêm, Ngồi, Những đứa trẻ chết già, Thoạt kì thủy, Trò đùa số phận, Đi tìm nhân vật, Thiên thần sám hối, Người sông Mê, 3.9 những mảnh hồn trần, T mất tích, China town, Minh sư, Mẫu Thượng Ngàn, Thần thánh và bươm bướm, Tưởng tượng và dấu vết… Theo M.Bakhtin, tiểu thuyết là một thể loại chưa hoàn thành, đang trong quá trình vận động. Theo đó, chúng ta thấy tiểu thuyết Việt Nam từ năm 1986 đến nay đã có rất nhiều nỗ lực để khẳng định vị trí của mình trong nền văn học. Từ Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh đến Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, những tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Hồ Anh Thái, đến tiểu thuyết của Đặng Thân, Thuận….là một quá trình liên tục cách tân táo bạo để tiểu thuyết Việt Nam theo kịp với tiểu thuyết trên thế giới.
Nghịch dị dự phần xác lập sự đổi mới văn học nói chung và tiểu thuyết đương đại Việt Nam nói riêng. Xã hội số hóa, cuộc cách mạng công nghệ thông tin, thế giới phẳng đặt con người vào môi trường không giới hạn, cuộc sống vật chất đầy cám dỗ cũng tác động rất lớn đến con người. Khi đời sống lẫn lộn giá trị, đan xen thật - giả, cái huyền hoặc -cái thật, thiện - 1 ác, bi - hài, cao thượng - thấp hèn, bình thường - bất thường, kì quái, tất cả trở thành hiện thực nghịch dị, đòi hỏi phải có cách tiếp cận mới, phương thức sáng tạo mới. Đặc trưng của xã hội hiện đại là tính đa trị, tiếng nói đa thanh, mang cảm quan đối thoại mạnh mẽ.
Vì thế, hình tượng nghệ thuật cần lung linh, đa nghĩa. Có rất nhiều cánh cửa để đi vào tiểu thuyết đương đại. Có người dùng ánh sáng của hậu hiện đại, có người dùng ánh sáng của giải cấu trúc, ánh sáng của diễn ngôn, huyền thoại, kì ảo, phân tâm học…Sử dụng lí thuyết Grotesque để soi chiếu và kiến giải sự vận động trong đổi mới văn học Việt Nam, đặc biệt là trong tiểu thuyết sẽ mang lại ý nghĩa thực tiễn và học thuật cao. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2.
Đối tượng nghiên cứu Từ lí thuyết nghịch dị, chúng tôi nghiên cứu tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012 có chứa đựng nghệ thuật nghịch dị qua các tác phẩm của các tác giả tiêu biểu như Trần Dần, Bảo Ninh, Chu Lai, Hồ Anh Thái, Nguyễn Xuân Khánh, Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Châu Diên, Y Ban, Uông Triều, Nguyễn Đình Tú, Đặng Thân, Thuận, Vũ Đình Giang… 2. Phạm vi nghiên cứu Luận án của chúng tôi nghiên cứu nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012 qua các phương diện hệ thống hình tượng (Nhân vật nghịch dị, không gian nghịch dị, thời gian nghịch dị) và phương thức biểu hiện (ngôn từ nghệ thuật nghịch dị, giọng điệu nghệ thuật nghịch dị, biểu tượng nghịch dị). Cụ thể phạm vi khảo sát là các tiểu thuyết sau (xem phụ lục 1). Như vậy, với đề tài Nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012, chúng tôi không đặt vấn đề giải quyết lí thuyết về nghịch dị mà chỉ muốn thông qua nó để nhận diện một đặc điểm nổi bật của tiểu thuyết Việt Nam từ sau đổi mới.
Luận án tập trung khảo sát, phân tích, đánh giá những biểu hiện phong phú cũng như hiệu quả thẩm mĩ của nghịch dị với tư cách là thế giới quan, là thủ pháp nghệ thuật của tiểu thuyết đương đại. Phương pháp nghiên cứu Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu như sau: 3. Phương pháp phân tích, tổng hợp 2 Nghệ thuật nghịch dị được nghiên cứu trên nhiều phương diện thông qua các luận điểm, luận cứ. Phương pháp này giúp người viết đi sâu phân tích từng phương diện đồng thời có sự tổng hợp, khái quát hóa những vấn đề được đặt ra.
Phương pháp so sánh, đối chiếu Sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu, người viết nhìn nhận đánh giá vấn đề trên cả hai bình diện đồng đại và lịch đại để thấy được những nét kế thừa, sáng tạo cũng như những nét riêng của các tác giả trong việc sử dụng nghệ thuật nghịch dị. Phương pháp thống kê, phân loại Người viết sử dụng phương pháp này để khảo sát thống kê các bình diện hình tượng nhân vật, không gian, thời gian, ngôn ngữ, giọng điệu và biểu tượng nghịch dị có trong tiểu thuyết từ 1986 đến 2012. Phương pháp hình thức (vận dụng thi pháp học) Tiếp cận vấn đề từ phương pháp thi pháp học sẽ giúp người viết đi từ hình thức đến nội dung, nghệ thuật nghịch dị được hiểu như là thủ pháp, được thể hiện qua các bình diện hệ thống hình tượng và phương thức biểu hiện. Phương pháp hệ thống Phương pháp này giúp người viết nhận ra rằng tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn 1986 đến 2012 không diễn ra đơn lẻ mà nằm trong sự vận động chung của văn học thời kì đổi mới với tinh thần đồng bộ từ đổi mới tư duy, đến đổi mới quan niệm về hiện thực, quan niệm về con người, quan niệm về thể loại.
Sử dụng phương pháp hệ thống để kiến giải nghệ thuật nghịch dị của tiểu thuyết đương đại một cách thuyết phục. Phương pháp văn hóa học Ngoài ra, người viết còn vận dụng lý thuyết của Bakhtin về văn hóa trào tiếu dân gian để nghiên cứu đề tài. Đóng góp của luận án Nghiên cứu đề tài nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến 2012, chúng tôi hi vọng sẽ góp một cái nhìn khác khi khám phá tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Đề tài sẽ trở thành một nguồn tư liệu giúp cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập về văn học Việt Nam sau 1986.
- Luận án nhận định sự hồi sinh mạnh mẽ của nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết nói riêng và văn học đương đại nói chung.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Huỳnh Thị Thu Hậu (2017). Luận án nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết việt nam từ 1 [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế]. LuanAn.net. https://luanan.net/van-hoc/van-hoc-viet-nam/luan-an-nghe-thuat-nghich-di-trong-tieu-thuyet-viet-nam-tu-1986-den-2012
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Luận án nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết việt nam từ 1" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án phân tích nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại. Đề xuất cách tiếp cận mới về cấu trúc phi tuyến.
Luận án "Luận án nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết việt nam từ 1" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế. Năm bảo vệ: 2017.
Luận án "Luận án nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết việt nam từ 1" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Luận án nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết việt nam từ 1" thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam. Danh mục: Văn Học Việt Nam.
Luận án "Luận án nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết việt nam từ 1" có bao nhiêu trang?
Luận án "Luận án nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết việt nam từ 1" có 173 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Luận án nghệ thuật nghịch dị trong tiểu thuyết việt nam từ 1" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.