Luận án tiến sĩ về thi pháp tiểu thuyết Ian Ôtrênasêch - Phạm Thành Hưng
Luận án phân tích đặc điểm thi pháp tiểu thuyết của Ian Otrenesec, làm rõ ảnh hưởng văn hóa và nghệ thuật trong tác phẩm của ông.
Ngữ văn
Luan An
Luận án
Năm xuất bản
Số trang
206
Thời gian đọc
31 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Mục lục chi tiết
Tóm tắt nội dung
I.Thi pháp tiểu thuyết Ian Ôtrênasêch Quan niệm nghệ thuật
Luận án khám phá quan niệm nghệ thuật trong thi pháp tiểu thuyết của Ian Ôtrênasêch. Tác giả có những phát ngôn lý thuyết rõ ràng. Quan điểm đó định hình phong cách nghệ thuật. Văn phong của Ôtrênasêch mang dấu ấn tư tưởng sâu sắc. Nó là nền tảng cho cấu trúc tác phẩm. Phân tích này giúp hiểu rõ hơn về chủ đề tư tưởng của ông. Quan niệm nghệ thuật của Ôtrênasêch không chỉ thể hiện qua lời nói. Nó còn bộc lộ trong toàn bộ tiến trình sáng tác. Điều này cho thấy sự nhất quán trong tư duy nghệ thuật.
1.1. Quan niệm nghệ thuật Ôtrênasêch qua lý thuyết
Luận án nghiên cứu lý luận hiện thực xã hội chủ nghĩa. Nó ảnh hưởng đến quan niệm nghệ thuật của Ôtrênasêch. Các phát ngôn lý thuyết của nhà văn được phân tích tỉ mỉ. Chúng phản ánh cách ông nhìn nhận vai trò văn học. Ông cũng quan tâm đến mối quan hệ giữa nghệ thuật và xã hội. Quan điểm này đặt nền móng cho các tác phẩm. Nó cũng giải thích một phần thi pháp tiểu thuyết của ông.
1.2. Quan niệm qua sáng tác Giai đoạn trước 1968
Giai đoạn trước năm 1968, các sáng tác của Ôtrênasêch mang một tinh thần nhất định. Quan niệm nghệ thuật thời kỳ này được thể hiện rõ. Các tác phẩm phản ánh bối cảnh lịch sử. Chúng mang theo những chủ đề tư tưởng sơ khai. Có thể thấy sự ảnh hưởng của lý luận hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, đã có những dấu hiệu tìm tòi riêng. Phong cách nghệ thuật bắt đầu định hình.
1.3. Quan niệm qua sáng tác Giai đoạn sau 1968
Giai đoạn sau năm 1968, quan niệm nghệ thuật của Ôtrênasêch có sự chuyển biến. Các sáng tác sau thời kỳ này thể hiện một cách tiếp cận khác. Chủ đề tư tưởng trở nên phức tạp hơn. Có sự khám phá sâu hơn về bản ngã con người. Kỹ thuật tự sự cũng có những đổi mới. Tác phẩm bộc lộ sự trưởng thành trong tư duy. Điều này tạo nên một phong cách nghệ thuật độc đáo.
II.Nghệ thuật xây dựng nhân vật Tiểu thuyết Ian Ôtrênasêch
Ian Ôtrênasêch nổi tiếng với nghệ thuật xây dựng nhân vật. Nhân vật trung tâm thường là điểm nhấn. Ông đi sâu vào hiện thực tâm lý. Cách miêu tả nhân vật rất chân thực. Phong cách nghệ thuật của ông thể hiện rõ điều này. Có sự phức tạp trong nội tâm. Nhân vật thường đối mặt với những lựa chọn khó khăn. Điều này tạo nên sức hấp dẫn cho tiểu thuyết. Nó cũng góp phần vào chủ đề tư tưởng chính.
2.1. Kiểu nhân vật trí thức trung tính
Luận án phân tích kiểu nhân vật trí thức. Họ thường đóng vai trò trung tính trong tác phẩm. Nhân vật này phản ánh một tầng lớp xã hội. Họ mang theo những trăn trở, suy tư. Điểm nhìn trần thuật thường gắn với họ. Tâm lý nhân vật được khám phá kỹ lưỡng. Đây là một đặc trưng trong tiểu thuyết tâm lý của Ôtrênasêch.
2.2. Nhân vật tìm kiếm tự do bản ngã
Các nhân vật của Ôtrênasêch thường cô đơn. Họ tìm kiếm tự do và bản ngã cá nhân. Hành trình này đầy thử thách. Nó bộc lộ sâu sắc hiện thực tâm lý. Họ đối diện với áp lực xã hội. Quyết định của họ định hình cốt truyện. Điều này thể hiện sự dằn vặt nội tâm. Tác phẩm của ông khai thác triệt để khía cạnh này. Phong cách nghệ thuật Ian Ôtrênasêch nổi bật ở đây.
III.Thời gian nghệ thuật Cấu trúc độc đáo Ôtrênasêch
Cấu trúc tác phẩm của Ôtrênasêch đặc biệt. Thời gian nghệ thuật đóng vai trò quan trọng. Nó không chỉ là nền tảng cho câu chuyện. Thời gian còn phản ánh chủ đề tư tưởng. Kỹ thuật tự sự được sử dụng khéo léo. Ông tạo ra một không gian thời gian phức tạp. Điều này giúp đi sâu vào tiểu thuyết tâm lý. Nó cũng thể hiện phong cách nghệ thuật Ian Ôtrênasêch.
3.1. Thời gian tuyến tính và phi tuyến tính
Trong tiểu thuyết "Công dân Brych", thời gian được thể hiện rõ. Có sự đan xen giữa quá khứ và hiện tại. Điều này tạo nên một cấu trúc độc đáo. Tác giả sử dụng điểm nhìn trần thuật linh hoạt. Nó giúp khám phá tâm lý nhân vật. Thời gian không chỉ trôi qua. Nó còn là ký ức, trải nghiệm.
3.2. Thời gian trong nhật ký và chủ đề thế hệ
“Chàng Orphây khập khiễng” khai thác chủ đề thế hệ. Quan niệm thời gian gắn liền với điều này. Tiểu thuyết nhật ký cũng là một hình thức. Thời gian được ghi chép một cách cá nhân. Nó phản ánh cuộc sống nội tâm. Tác phẩm tạo ra một dòng chảy liên tục. Điều này góp phần làm nổi bật hiện thực tâm lý.
IV.Không gian nghệ thuật Phản ánh hiện thực tâm lý
Không gian nghệ thuật là yếu tố then chốt. Nó phản ánh sâu sắc hiện thực tâm lý. Ian Ôtrênasêch tạo ra các không gian đa chiều. Những không gian này không chỉ là bối cảnh. Chúng là biểu tượng cho trạng thái tinh thần. Điều này làm tăng tính triết lý của tác phẩm. Cấu trúc tác phẩm được xây dựng chặt chẽ. Phong cách nghệ thuật của ông thể hiện qua đây.
4.1. Nhà máy Không gian mang tính biểu tượng
Nhà máy xuất hiện như một cấu trúc không gian đặc biệt. Nó biểu trưng cho môi trường làm việc, xã hội. Không gian này tác động đến nhân vật. Nó tạo ra áp lực, giới hạn. Đồng thời, nó cũng là nơi diễn ra các mối quan hệ. Điều này góp phần tạo nên hiện thực tâm lý.
4.2. Căn phòng cá nhân Biểu tượng của tồn tại
Căn phòng ở là không gian tồn tại của con người cá nhân. “Căn phòng của Brych” là một ví dụ điển hình. “Căn phòng ẩn náu của cô gái Do Thái” cũng vậy. Đây là nơi nhân vật đối diện với chính mình. Nó thể hiện sự cô độc, nội tâm. Điểm nhìn trần thuật thường tập trung vào không gian này. Nó là không gian của tiểu thuyết tâm lý.
4.3. Ngôi nhà mơ ước Nơi tìm về bình yên
“Ngôi nhà mơ ước” trong tiểu thuyết “Thiên đường” có ý nghĩa riêng. Nó đại diện cho khao khát về một cuộc sống khác. Đây là không gian lý tưởng, an toàn. Nó đối lập với hiện thực khắc nghiệt. Ngôi nhà mơ ước là biểu tượng của hy vọng. Chủ đề tư tưởng về tự do và hạnh phúc được thể hiện.
V.Kỹ thuật tự sự Phong cách nghệ thuật Ian Ôtrênasêch
Kỹ thuật tự sự là trọng tâm trong phong cách nghệ thuật của Ian Ôtrênasêch. Ông sử dụng nhiều phương pháp kể chuyện. Điều này tạo nên chiều sâu cho tác phẩm. Cấu trúc tác phẩm luôn có sự đổi mới. Tác giả khám phá ranh giới giữa thực và hư. Các kỹ thuật này giúp bộc lộ rõ chủ đề tư tưởng. Nó cũng làm nổi bật hiện thực tâm lý của nhân vật. Đây là đặc điểm nổi bật trong thi pháp tiểu thuyết của ông.
5.1. Điểm nhìn trần thuật đa dạng
Ian Ôtrênasêch thường thay đổi điểm nhìn trần thuật. Điều này mang lại cái nhìn đa chiều. Đôi khi là góc nhìn ngôi thứ nhất. Đôi khi là ngôi thứ ba khách quan. Sự linh hoạt này giúp độc giả nhập tâm. Nó khám phá sâu hơn thế giới nội tâm. Đây là một yếu tố quan trọng của tiểu thuyết tâm lý.
5.2. Sự kết hợp giữa hiện thực và nội tâm
Tác phẩm của Ôtrênasêch kết hợp nhuần nhuyễn hiện thực xã hội. Ông lồng ghép các yếu tố nội tâm phong phú. Kỹ thuật này tạo ra sự căng thẳng. Nó cho thấy sự đấu tranh bên trong nhân vật. Phong cách nghệ thuật này giúp phản ánh chân thực cuộc sống. So sánh với các tác giả đương đại như Ian McEwan, Ôtrênasêch cũng tập trung vào sự phức tạp của tâm lý con người.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (206 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộ204 Đại học quốc gia Hà Nội TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN PHẠM THÀNH HƯNG MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM THI PHÁP TIỂU THUYẾT CỦA IAN ÔTRÊNASÊCH LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN Người hướng dẫn: GS. Hoàng Trinh HÀ NỘI - 2002 205 MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài……………………………………… 1 2. Lịch sử vấn đề……………………………………………….
Ôtrênsêch trong nghiên cứu phê bình ở Tiệp Khắc…… 10 2. Ôtrênasêch ở nước ngoài và ở Việt Nam……………. Mục đích và nhiệm vụ của luận án…………………………. Đóng góp của luận án……………………………………….
Cơ sở phương pháp luận……………………………………. 22 PHẦN NỘI DUNG Chương I Quan niệm nghệ thuật trong tiểu thuyết Ôtrênasêch 1. Lý luận hiện thực xã hội chủ nghĩa và quan niệm nghệ thuật của nhà văn qua các phát ngôn lý thuyết………………………28 1. Quan niệm nghệ thuật qua tiến trình hành động tư tưởng của các sáng tác tiểu thuyết…………………………………… 45 1.
Các sáng tác giai đoạn trước năm 1968…………………… 45 1. Các sáng tác giai đoạn sau năm 1968……………………… 68 Chương II Kiểu nhân vật trung tâm ………………………………………. Kiểu nhân vật trí thức trong vai diễn trung tính………………. Những người cô đơn đi tìm tự do bản ngã…………………….
104 206 Chương III Thời gian và không gian nghệ thuật…………………………. Thời gian nghệ thuật………………………………………………. Thời gian trong tiểu thuyết Công dân brych……………………. Quan niệm thời gian và chủ đề thế hệ trong Chàng Orphây khập khiễng…………………………………… 138 3.
Thời gian trong thể tiểu thuyết nhật ký……………………… 145 3. Không gian nghệ thuật………………………………………. Nhà máy – một cvấu trúc không gian nghệ thuật……………. Căn phòng ở – không gian tồn tại của con người cá nhân…….
Căn phòng của Brych ……………………………………… 161 3. Căn phòng ẩn náu của cô gái Do Thái……………………… 164 3. Ngôi nhà mơ ước trong tiểu thuyết Thiên đường … 169 KẾT LUẬN ………………………………………………… 177 TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………. 185 BIÊN NIÊN SỰ KIỆN……………………………………………….
192 1 PHẦN MỞ ĐẦU 1.Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI Để xây dựng một nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, từ bao lâu nay Đảng và nhà nước ta vẫn nhìn nhận và định hướng cho văn hoá dân tộc trong mối quan hệ đa phương về địa lý và lịch sử với văn hoá khu vực và trong sự phát triển chung của văn hoá nhân loại. Không có một nền văn hoá nào có khả năng đạt tới trình độ tiên tiến và thực sự dân tộc mà lại tách biệt với sự phát triển chung của văn hoá thế giới. Thực tế cho thấy, quá trình xây dựng văn hoá dân tộc là một quá trình đấu tranh, một mặt nhằm loại trừ những ảnh hưởng tiêu cực của văn hoá nước ngoài, một mặt là nhằm chọn lọc, tiếp thu những kinh nghiệm và thành tựu chung của văn hoá loài người. Trong quá trình đó, việc tiếp thu những thành tựu văn học nước ngoài bao giờ cũng mang ý nghĩa quan trọng hàng đầu, với tính cách như là sự tiếp thu những giá trị văn hoá tinh thần đặc biệt.
Trong suốt thế kỷ 20 vừa qua, văn học Việt Nam vận động và phát triển trong sự ảnh hưởng của một số nền văn hoá và văn học tiêu biểu như Trung Quốc, Pháp và Nga xô viết. Những nguồn ảnh hưởng đó xuất phát từ sức mạnh nội tại của bản thân ba nền văn học đồng thời còn bắt nguồn từ thực tế lịch sử dân tộc Việt Nam chúng ta. Ảnh hưởng của văn học Trung Quốc là những ảnh hưởng mang tính tất yếu, tự nhiên, gắn liền với sự giao lưu văn hoá đã ổn định hàng nghìn năm qua giữa hai nước láng giềng. Luồng ảnh hưởng thứ hai diễn ra trong bối cảnh của cuộc tiếp xúc lịch sử giữa hai nền văn hoá tiêu biểu cho phương Đông và phương Tây, trong quá trình xung đột vừa có tính chất loại trừ, vừa có tính chất tiếp thu, đồng hoá, 2 giữa ý chí độc lập, bảo tồn dân tộc và ý thức vươn lên, tự hiện đại hoá và quốc tế hoá.
Cùng với văn hoá và văn học Pháp, tiếng Pháp cũng trở thành một phương tiện chuyển tải những giá trị văn học tiêu biểu của phương Tây vào Việt Nam. Luồng ảnh hưởng thứ ba gắn liền với thực tiễn cách mạng dân tộc dân chủ và xã hội chủ nghĩa của Việt Nam cùng vai trò của nước Nga xô viết trong hệ thống xã hội chủ nghĩa cũ. Trong nhiều thập kỷ qua, bên cạnh những ảnh hưởng mạnh mẽ, tích cực và có vai trò chủ đạo của văn học Nga xô viết, văn học Việt Nam cũng có sự tiếp xúc, giao lưu với văn học của hàng loạt nước khác trong phe xã hội chủ nghĩa. Chính sự tiếp xúc, giao lưu đó đã tạo ra trong văn học Việt Nam, Trung Quốc, Liên xô cũ, CHDC Đức, Hung-ga-ry, Bun-ga-ry, Ba Lan, Tiệp Khắc cũ những đặc điểm tương đồng.
Sự thống nhất trong mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội, sự hợp tác chặt chẽ, nhiều mặt về kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá giữa các nước xã hội chủ nghĩa cũ đã tạo cơ sở cho các nền văn học nói trên vận động, phát triển cùng định hướng. Chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong nhiều thời kỳ đã trở thành ngọn cờ tập hợp đội ngũ sáng tác và là nguồn cổ vũ lớn lao đối với các nhà văn, vì vậy đã thực sự tạo ra những nền văn học xã hội chủ nghĩa khá thống nhất về tư tưởng và phương pháp nghệ thuật. Tính lý tưởng cộng sản chủ nghĩa và nhiệt tình đấu tranh của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa một mặt đã tạo ra trong văn học mỗi nước nói trên khá nhiều thành tựu, mặt khác, trong thực tiễn vận dụng cũng bộc lộ không ít những biểu hiện giáo điều, cứng nhắc xoay quanh khái niệm hiện thực xã hội chủ nghĩa, do đó cũng đã để lại những hạn chế, di hại khá giống nhau. Lâu nay trong nghiên cứu và dịch thuật văn học nước ngoài, chúng ta thường chú ý tới những nền văn học lớn hoặc những nền văn học gần gũi với ta về mặt địa lý.
Điều này hoàn toàn hợp lý đối với việc tiếp thu những tinh 3 hoa văn hoá nhân loại và mở rộng giao lưu văn hoá khu vực. Tuy vậy ở đây có một điều cũng hoàn toàn hợp lý song lâu nay chúng ta còn bỏ ngỏ. Đó là việc tìm hiểu, nghiên cứu những nền văn học tuy không có sự tương đồng với ta về mặt văn hoá lịch sử, cũng không gần gũi với ta về phương diện địa lý nhưng lại có những thời kỳ khá thống nhất với chúng ta về mặt cơ sở tư tưởng hệ, về hình thái kinh tế chính trị, mà xét cho cùng cũng có thể gọi là sự gặp gỡ, tương đồng với chúng ta về phương diện lịch sử. Đó là văn học của các nước Đông Âu xã hội chủ nghĩa cũ như Hung-ga-ry, Bun-ga-ry, Ba Lan, Tiệp Khắc cũ v.- những đất nước trong nhiều thập kỷ đã từng đồng hành với chúng ta một chặng đường lịch sử.
Và như đã nói ở trên, đó là những nền văn học mà chúng ta ít nhiều đã có sự tiếp xúc, giao lưu. Việc tìm hiểu, nghiên cứu những thành tựu văn học của các nước đó không chỉ có ý nghĩa trong việc tiếp thu một phần di sản tinh thần đáng trân trọng của một dân tộc trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt, mà còn có ý nghĩa quan trọng đối với chúng ta trong công cuộc xây dựng một nền văn hoá theo định hướng dân tộc và xã hội chủ nghĩa. Thành công và hạn chế của những nền văn học nói trên đều ít nhiều có tác dụng gợi ý cho những người làm công tác văn hoá văn nghệ Việt Nam chúng ta rút ra những bài học kinh nghiệm trong thực tiễn văn hoá văn nghệ dân tộc mình. Xuất phát từ quan niệm đó, chúng tôi coi văn học Séc xã hội chủ nghĩa (thuộc Cộng hoà liên bang xã hội chủ nghĩa Séc và Xlôvaky cũ) như một nền văn học rất đáng quan tâm tìm hiểu.
Khó mà hình dung nổi bức tranh văn hoá Trung Âu khi thiếu vắng nền văn học Séc. Đó là văn học của một dân tộc không lớn về dân số nhưng rất lớn trong khả năng sáng tạo và khát vọng độc lập, tự do dân tộc. Là một dân tộc hình thành và phát triển ngay giữa "ngã tư châu Âu", lịch sử của dân tộc Séc là lịch sử của sự chịu đựng, lịch sử của những cuộc đấu tranh kiên 4 cường, thầm lặng nhằm thoát khỏi sự thống trị của kẻ ngoại bang, nhằm bảo vệ quyền lợi và bản sắc dân tộc. Khác với nhiều dân tộc châu Âu, lịch sử dân tộc Séc không được viết bằng những chiến công quân sự, những cuộc chiến tranh máu lửa một mất một còn, mà chủ yếu là bằng những khúc ca bi tráng về những cuộc khởi nghĩa không thành.
Nằm giữa những đế quốc lớn như Đức, Áo-Hung, Nga, Ba Lan, đất nước của dân tộc Séc thường là những miền đất phụ thuộc hoặc trở thành vùng đất mượn đường của những cuộc hành quân chinh phạt. Khát vọng độc lập và tự do dân tộc như ngọn lửa khi thì bùng lên dữ dội, khi thì âm thầm, bền bỉ cháy trong suốt hàng chục thế kỷ tồn tại và phát triển của dân tộc Séc. Năm 1918, dưới những ảnh hưởng tích cực của Cách mạng tháng Mười Nga và nhờ những điều kiện khách quan thuận lợi được tạo ra từ giai đoạn cuối của chiến tranh thế giới thứ nhất, nước cộng hoà Tiệp Khắc được thành lập. Ngày quốc khánh 28 tháng 10 năm đó thực sự có ý nghĩa như một ngày tái sinh dân tộc.
Với sự thành lập cộng hoà Tiệp Khắc, dân tộc Séc đã khẳng định chủ quyền dân tộc và chủ quyền quốc gia, chính thức chấm dứt ách thống trị và bóc lột của dòng họ phong kiến Hamxbuốc đã kéo dài gần 400 năm. Chế độ cộng hoà tư sản được thiết lập trên đất nước Tiệp Khắc đã có tác dụng giải phóng sức sản xuất và khả năng sáng tạo của hai dân tộc Séc và Xlôvaky. Sau hai mươi năm độc lập phát triển, Tiệp Khắc đã trở thành một trong số 10 nước có nền công nghiệp tiền tiến của thế giới. Năm 1938, do sự phản bội của một số đế quốc lớn như Pháp, Anh và Đức, hiệp ước Muynich đã đẩy dân tộc Séc trở lại sống dưới ách áp bức của bọn Đức quốc xã.
Đất Séc bị chiếm đóng và trở thành vùng đất “bảo hộ” của phát xít Đức. Năm 1945, trước sức tấn công vũ bão của Hồng quân Liên xô và quân đội Đồng minh, kết hợp với phong trào khởi nghĩa tại chỗ, Tiệp Khắc được hoàn toàn giải phóng. Năm 1948, ba năm sau khi chiến tranh thế giới lần thứ 5 hai kết thúc, Đảng Cộng sản Tiệp Khắc giành được quyền lãnh đạo xã hội, quyết định đưa đất nước bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Đặc điểm thi pháp tiểu thuyết của Ian Ôtrênasêch" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án phân tích đặc điểm thi pháp tiểu thuyết của Ian Otrenesec, làm rõ ảnh hưởng văn hóa và nghệ thuật trong tác phẩm của ông.
Luận án "Đặc điểm thi pháp tiểu thuyết của Ian Ôtrênasêch" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Năm bảo vệ: 2002.
Luận án "Đặc điểm thi pháp tiểu thuyết của Ian Ôtrênasêch" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Đặc điểm thi pháp tiểu thuyết của Ian Ôtrênasêch" thuộc chuyên ngành Ngữ văn. Danh mục: Văn Học Việt Nam.
Luận án "Đặc điểm thi pháp tiểu thuyết của Ian Ôtrênasêch" có bao nhiêu trang?
Luận án "Đặc điểm thi pháp tiểu thuyết của Ian Ôtrênasêch" có 206 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Đặc điểm thi pháp tiểu thuyết của Ian Ôtrênasêch" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.