Luận án: Thông điệp BĐKH báo Đảng ĐBSCL, khảo sát An Giang, Cà Mau, Cần Thơ
Luận án TS khảo sát, phân tích thông điệp biến đổi khí hậu trên báo Đảng ĐBSCL: An Giang, Cà Mau, Cần Thơ, giai đoạn 2017-06/2019.
Báo chí và Truyền thông
Luan An
Đề tài nghiên cứu
Số trang
211
Thời gian đọc
32 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tóm tắt nội dung
I.Biến đổi khí hậu Thách thức toàn cầu Việt Nam và ĐBSCL
Biến đổi khí hậu (BĐKH) nổi lên như một thách thức lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ 21. Sự thay đổi bất thường của xu hướng thời tiết hiện ảnh hưởng sâu rộng đến sản xuất. Đời sống hàng ngày của người dân cũng chịu tác động nặng nề. Hiện tượng này đe dọa trực tiếp sức khỏe con người. BĐKH còn là nguyên nhân tiềm ẩn cho các xung đột nội bộ. Xung đột giữa các quốc gia và khu vực cũng gia tăng. Nó tác động làm gia tăng nhiều nguy cơ khác trên toàn cầu. Theo ước tính của Liên Hợp Quốc, khoảng 150 triệu người sẽ phải di cư. Sự di cư này do BĐKH gây ra các hiện tượng thời tiết cực đoan. Dự kiến xảy ra từ nay đến năm 2050. Phân nửa động thực vật sẽ đối mặt nguy cơ tuyệt chủng. Điều này xảy ra nếu nhiệt độ Trái Đất tăng thêm từ 1.1 đến 6.4 độ C. Tại Hội nghị COP26, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề. Ông Phạm Minh Chính phát biểu: "Tác động tiêu cực của BĐKH ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh lương thực, nguồn nước, phát triển bền vững, thậm chí đe dọa sự tồn vong của nhiều quốc gia và cộng đồng dân cư". Việt Nam hiện nằm trong số 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ BĐKH. Tác động của BĐKH đã gây nhiều tổn thất to lớn. Thiệt hại về người, tài sản, cơ sở hạ tầng đã xảy ra. Kinh tế, văn hóa, xã hội bị ảnh hưởng xấu. Môi trường tự nhiên cũng suy thoái nghiêm trọng. Đây là nguy cơ hiện hữu cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ. BĐKH đe dọa trực tiếp sự phát triển bền vững của đất nước. Tình hình đòi hỏi hành động quyết liệt và đồng bộ.
1.1. BĐKH Hiểm họa toàn cầu tác động nghiêm trọng
Biến đổi khí hậu là thách thức toàn cầu. Hiện tượng này gây ra những biến động lớn về thời tiết. Các hiện tượng cực đoan như bão, lũ, hạn hán xảy ra thường xuyên hơn. Sự thay đổi khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến nông nghiệp. Năng suất cây trồng giảm sút. Ngành chăn nuôi và thủy sản cũng gặp nhiều khó khăn. Sức khỏe cộng đồng chịu tác động tiêu cực. Dịch bệnh mới có thể xuất hiện. Các bệnh truyền nhiễm có thể lây lan nhanh chóng. Biến đổi khí hậu còn là một yếu tố thúc đẩy di cư. Hàng triệu người phải rời bỏ quê hương tìm kiếm nơi ở mới. Đa dạng sinh học bị đe dọa nghiêm trọng. Nhiều loài động, thực vật đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Tác động biến đổi khí hậu không chỉ là vấn đề môi trường. Đó còn là vấn đề kinh tế, xã hội và an ninh. Việt Nam, với đường bờ biển dài và địa hình thấp, đặc biệt dễ tổn thương. Các kịch bản biến đổi khí hậu cho thấy nguy cơ ngập lụt, xâm nhập mặn ngày càng cao. Vấn đề này đòi hỏi sự hợp tác quốc tế. Cần có các chính sách thích ứng BĐKH hiệu quả. Nhận thức của cộng đồng cần được nâng cao. Hành động ứng phó biến đổi khí hậu miền Tây phải được ưu tiên.
1.2. ĐBSCL Vùng dễ tổn thương trọng yếu quốc gia
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được xác định là một trong ba đồng bằng trên thế giới dễ bị tổn thương nhất. Đặc biệt, khu vực này chịu ảnh hưởng nghiêm trọng do nước biển dâng. Các kịch bản biến đổi khí hậu dự báo rõ ràng. Vào cuối thế kỷ 21, mực nước biển có thể dâng cao từ 75 cm đến 1 mét. Mức này so với thời kỳ 1980-1999. Khi đó, khoảng 40% diện tích vùng ĐBSCL sẽ bị ngập. Khoảng 35% dân số sẽ chịu ảnh hưởng xấu do thời tiết phức tạp. ĐBSCL không chỉ là vựa lúa của Việt Nam. Vùng này là trung tâm địa kinh tế - chính trị có vị trí trọng yếu. ĐBSCL có số dân chiếm gần 18% dân số cả nước, khoảng 17 triệu người. Vị trí chiến lược này rất quan trọng về an ninh, quốc phòng. Vùng đóng góp khoảng 18% GDP quốc gia. Nơi đây cung cấp 90% tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Gần 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản cũng từ ĐBSCL. Hơn nữa, 70% sản lượng trái cây của Việt Nam xuất phát từ vùng này. ĐBSCL có vai trò then chốt trong việc đảm bảo an ninh lương thực cho cả nước. Xâm nhập mặn Đồng bằng sông Cửu Long đe dọa trực tiếp sản xuất. Tình hình BĐKH Cà Mau cho thấy rõ nguy cơ sạt lở. Ảnh hưởng BĐKH Cần Thơ cũng làm tăng áp lực lên hạ tầng. Nước biển dâng ĐBSCL là mối lo ngại hàng đầu. Việc bảo vệ và phát triển bền vững ĐBSCL là ưu tiên quốc gia.
II.Tác động biến đổi khí hậu ĐBSCL Nguy cơ và thiệt hại
Thực tế diễn biến thời tiết vùng ĐBSCL trong 10 năm trở lại đây có nhiều dấu hiệu bất thường. Tình trạng hạn hán kéo dài và nghiêm trọng hơn. Xâm nhập mặn diễn biến phức tạp, lan rộng vào sâu nội đồng. Sạt lở bờ sông, bờ biển xảy ra thường xuyên, gây thiệt hại lớn. Ngập úng cục bộ và diện rộng cũng trở nên nghiêm trọng. Những hiện tượng này đã gây ra nhiều thách thức cho vùng đất trù phú này. Mất mát về đất đai canh tác là đáng kể. Nguồn nước ngọt sinh hoạt và sản xuất bị thiếu hụt. Cơ sở hạ tầng như đường sá, cầu cống cũng chịu ảnh hưởng. Tác động biến đổi khí hậu ĐBSCL đang ngày càng rõ rệt. Đời sống của hàng triệu người dân bị xáo trộn. Sinh kế truyền thống bị đe dọa. Khảo sát khí hậu An Giang cho thấy những thay đổi đáng kể. Tình hình BĐKH Cà Mau đặc biệt nghiêm trọng với sạt lở và xâm nhập mặn. Ảnh hưởng BĐKH Cần Thơ cũng gây áp lực lên đô thị hóa và phát triển kinh tế. Những nguy cơ này đòi hỏi các giải pháp ứng phó biến đổi khí hậu miền Tây một cách chủ động và toàn diện. Cần có sự phối hợp giữa chính quyền, khoa học và cộng đồng.
2.1. Diễn biến khí hậu bất thường Hạn hán xâm nhập mặn
Diễn biến khí hậu vùng ĐBSCL trong thập kỷ qua đã cho thấy sự bất thường rõ rệt. Các đợt hạn hán kéo dài hơn, gay gắt hơn. Nguồn nước từ thượng nguồn sông Mê Kông về ĐBSCL suy giảm. Điều này gây thiếu hụt nước ngọt nghiêm trọng cho sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt là lúa và cây ăn trái. Xâm nhập mặn Đồng bằng sông Cửu Long đã trở thành vấn đề cấp bách. Nước mặn lấn sâu vào các cửa sông, kênh rạch. Vượt qua giới hạn cho phép của cây trồng và vật nuôi. Điều này hủy hoại hàng ngàn hecta đất nông nghiệp. Ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt của người dân. Tình hình BĐKH Cà Mau đang đối mặt với nguy cơ sạt lở bờ biển. Nhiều diện tích đất bị biển cuốn trôi. Tình trạng ngập úng cũng xảy ra thường xuyên ở các vùng thấp trũng. Đặc biệt vào mùa mưa bão. Những hiện tượng này làm giảm năng suất cây trồng. Gây thiệt hại lớn cho ngư dân và nông dân. Cần có các biện pháp khẩn cấp để thích ứng. Chính sách thích ứng BĐKH cần được triển khai hiệu quả. Khảo sát khí hậu An Giang và các tỉnh khác cần cung cấp dữ liệu chính xác để hoạch định chiến lược.
2.2. Hậu quả kinh tế xã hội Di cư và bất ổn
Tác động biến đổi khí hậu ĐBSCL đã gây ra những hệ lụy sâu sắc về kinh tế - xã hội. Một trong những hệ quả đáng chú ý là làn sóng di cư lớn. Khoảng 1.7 triệu người dân đã rời khỏi ĐBSCL. Con số này hơn gấp đôi mức trung bình di cư của cả nước. Di cư do BĐKH ảnh hưởng đến nguồn nhân lực tại địa phương. Đặc biệt là lực lượng lao động trẻ, có trình độ. Điều này tạo ra khoảng trống lớn trong phát triển kinh tế vùng. ĐBSCL là vùng trọng điểm sản xuất lương thực. Sự suy giảm nguồn lực và tài nguyên đe dọa an ninh lương thực quốc gia. Nền kinh tế địa phương phụ thuộc vào nông nghiệp và thủy sản. Những ngành này bị tổn thương nghiêm trọng. Thu nhập của người dân giảm sút. Tình trạng này có thể dẫn đến bất ổn xã hội. Chính phủ và các địa phương cần triển khai hiệu quả các chính sách thích ứng BĐKH. Cần tạo ra sinh kế bền vững cho người dân. Đồng thời, hỗ trợ người dân ứng phó biến đổi khí hậu miền Tây. Đặc biệt là tại các tỉnh chịu ảnh hưởng nặng như Cà Mau, An Giang, Cần Thơ. Ảnh hưởng BĐKH Cần Thơ đặt ra bài toán về quy hoạch đô thị bền vững. Cần có sự đầu tư mạnh mẽ vào cơ sở hạ tầng. Mục tiêu là giảm thiểu rủi ro và tăng cường khả năng chống chịu.
III.Vai trò thông điệp truyền thông BĐKH Nâng cao nhận thức
Báo chí và truyền thông đóng vai trò không thể thiếu. Chức năng chính là cung cấp thông tin và định hướng dư luận xã hội. Nhiều quốc gia và tổ chức trên thế giới đã nhìn nhận rõ vai trò này. Họ tận dụng tối đa truyền thông như một công cụ hữu ích. Mục đích là nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu cho công chúng. Truyền thông còn giúp tạo dựng các diễn đàn thảo luận. Những diễn đàn này tìm kiếm giải pháp phù hợp ứng phó với BĐKH. Các giải pháp cần đặc thù cho từng khu vực và cộng đồng cụ thể. Đây cũng là giải pháp mà Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam đang hướng đến. Mục tiêu là nâng cao nhận thức của cộng đồng. Đồng thời, tăng cường năng lực thích nghi và ứng phó với BĐKH. Thông điệp truyền thông BĐKH cần được xây dựng một cách khoa học. Nội dung phải rõ ràng và dễ hiểu. Việc truyền tải thông tin chính xác giúp người dân hiểu đúng về tình hình. Từ đó, họ có thể tham gia vào các hoạt động ứng phó. Chính sách thích ứng BĐKH cũng cần được truyền đạt hiệu quả. Điều này góp phần xây dựng một cộng đồng kiên cường trước thách thức khí hậu.
3.1. Truyền thông BĐKH Công cụ thiết yếu định hướng dư luận
Truyền thông BĐKH là một công cụ thiết yếu trong cuộc chiến chống lại biến đổi khí hậu. Nó không chỉ đơn thuần là việc cung cấp tin tức. Mà còn là định hướng dư luận, xây dựng nhận thức. Các kênh truyền thông có khả năng tiếp cận rộng rãi công chúng. Từ đó, truyền tải các thông điệp quan trọng về BĐKH. Mục tiêu là giúp người dân hiểu rõ về nguyên nhân, hậu quả. Đồng thời, khuyến khích họ thay đổi hành vi để thích ứng. Truyền thông cũng tạo ra một diễn đàn mở. Nơi các chuyên gia, nhà khoa học, chính phủ và cộng đồng cùng thảo luận. Họ tìm ra các giải pháp ứng phó biến đổi khí hậu miền Tây phù hợp nhất. Việc này đặc biệt quan trọng ở các vùng dễ tổn thương như ĐBSCL. Các thông điệp truyền thông BĐKH cần tập trung vào hành động. Chúng cần cung cấp thông tin hữu ích. Từ đó, người dân có thể áp dụng vào thực tiễn cuộc sống. Điều này giúp nâng cao năng lực tự bảo vệ. Cũng như tăng cường khả năng phục hồi của cộng đồng trước các thảm họa. Chính sách thích ứng BĐKH cần được phổ biến rộng rãi thông qua truyền thông. Điều này đảm bảo người dân hiểu và tham gia tích cực.
3.2. Báo chí Việt Nam Nỗ lực tuyên truyền phổ biến chính sách
Báo chí Việt Nam trong thời gian qua đã tích cực bám sát định hướng chỉ đạo. Các cơ quan báo chí đẩy mạnh thông tin tuyên truyền về biến đổi khí hậu. Mục tiêu là phổ biến và giải thích đường lối, chính sách, pháp luật. Những chính sách này liên quan đến BĐKH và ứng phó BĐKH. Những thông điệp mà báo chí chuyển tải cung cấp nhiều kiến thức bổ ích. Chúng giúp người dân và cộng đồng thêm hiểu biết sâu sắc. Từ đó, tạo dựng niềm tin vững chắc vào các giải pháp của Đảng và Nhà nước. Điều này cung cấp cơ sở để thực hiện đường lối của Đảng. Áp dụng chính sách và pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn. Mục tiêu cuối cùng là ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu. Báo chí đã thực hiện nhiều chuyên đề, phóng sự. Họ đưa tin về các mô hình thích ứng thành công ở địa phương. Ví dụ như tại An Giang, Cà Mau, Cần Thơ. Những thông tin này giúp cộng đồng hình dung rõ hơn. Từ đó, họ có thể học hỏi và áp dụng. Việc truyền thông về Chính sách thích ứng BĐKH là một phần quan trọng. Nó giúp đảm bảo tính hiệu quả và sự đồng thuận của xã hội. Thông điệp truyền thông BĐKH không ngừng được cải tiến. Mục đích là để tiếp cận đa dạng đối tượng công chúng.
IV.Hạn chế truyền thông BĐKH Thông điệp chưa hiệu quả
Mặc dù có nhiều nỗ lực, những nghiên cứu thực tiễn gần đây cho thấy hạn chế. Báo chí thông tin về biến đổi khí hậu vẫn còn những điểm yếu nhất định. Một số cơ quan báo chí chỉ thông tin về BĐKH khi có các sự kiện lớn. Hoặc các hoạt động trọng điểm về nội dung này. Việc thiếu chủ động xây dựng kế hoạch thông tin thường xuyên là một vấn đề. Các thông điệp về BĐKH thường rời rạc, thiếu hệ thống. Điều này khiến chúng không đủ mạnh để tác động đến công chúng. Công chúng chưa nhận ra tầm quan trọng của vấn đề này đối với đời sống. Từ đó, việc thay đổi hành vi nhằm giảm thiểu tác động có hại đến môi trường chưa đạt hiệu quả. Nhiều tác phẩm báo chí khi đề cập đến BĐKH. Chúng chú trọng mô tả diễn biến và nhấn mạnh tác động tiêu cực. Nhưng lại ít quan tâm đến những giải pháp 'thích nghi' và 'thích ứng' cụ thể. Thông tin về định hướng, chủ trương chính sách. Hoặc các hoạt động, phát biểu của lãnh đạo Trung ương, địa phương thì nhiều. Nhưng thiếu những bài phân tích sâu về nguyên nhân. Thiếu các giải pháp ứng phó và thích nghi hiệu quả. Khảo sát khí hậu An Giang hay Tình hình BĐKH Cà Mau cần những phân tích sâu hơn. Ảnh hưởng BĐKH Cần Thơ cần được mổ xẻ chi tiết hơn về các giải pháp.
4.1. Thực trạng thông tin Rời rạc thiếu chủ động nặng tiêu cực
Thực trạng thông tin về biến đổi khí hậu trên báo chí Việt Nam còn tồn tại nhiều hạn chế. Việc thiếu chủ động trong việc lập kế hoạch truyền thông là một vấn đề. Nhiều cơ quan báo chí chỉ phản ứng khi có sự kiện lớn. Ví dụ như hội nghị quốc tế hoặc thảm họa thiên tai. Điều này dẫn đến thông tin không liên tục. Các thông điệp truyền thông BĐKH bị rời rạc, thiếu sự kết nối. Chúng không tạo thành một bức tranh tổng thể về BĐKH. Công chúng khó nắm bắt được chiều sâu của vấn đề. Hơn nữa, nhiều bài báo chỉ tập trung vào việc mô tả các diễn biến tiêu cực. Ví dụ như hạn hán, xâm nhập mặn Đồng bằng sông Cửu Long. Họ ít đề cập đến các giải pháp cụ thể. Hoặc các câu chuyện thành công về ứng phó biến đổi khí hậu miền Tây. Điều này có thể khiến công chúng cảm thấy bi quan. Nó làm giảm động lực tham gia vào các hoạt động ứng phó. Để khắc phục, cần có kế hoạch truyền thông dài hạn. Kế hoạch phải chủ động, tích cực và cân bằng. Cần nhấn mạnh cả những giải pháp và cơ hội. Thông tin về Chính sách thích ứng BĐKH cũng cần được truyền tải một cách nhất quán và dễ hiểu.
4.2. Ngôn ngữ và nội dung Khó hiểu thiếu khoa học gây hoang mang
Ngôn ngữ sử dụng trong nhiều tác phẩm báo chí về BĐKH thường khô khan. Nhiều thuật ngữ chuyên ngành được sử dụng mà không được giải thích. Điều này khiến công chúng khó tiếp cận và hiểu. Nội dung thường tập trung vào các định hướng vĩ mô. Hoặc các phát biểu của lãnh đạo mà thiếu những kiến thức thực tế. Thiếu đi những phân tích sâu sắc về nguyên nhân gốc rễ. Các giải pháp ứng phó và thích nghi cụ thể cho từng địa phương cũng ít được đề cập. Ví dụ, về Khảo sát khí hậu An Giang hay Tình hình BĐKH Cà Mau. Thông tin chưa được chủ động cung cấp một cách dễ hiểu. Các diễn đàn để công chúng thảo luận, đóng góp ý kiến còn hạn chế. Điều này tạo ra những thông điệp hời hợt, đôi khi sai lệch. Chúng thiếu tính khoa học và có thể gây hoang mang cho công chúng. Người dân có thể cảm thấy lo lắng, bi quan. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu nâng cao nhận thức. Nó cản trở sự hiểu biết và hành động về ứng phóchống biến đổi khí hậu. Để cải thiện, cần đơn giản hóa ngôn ngữ. Cần tăng cường tính khoa học và thực tiễn trong nội dung. Đồng thời, phải khuyến khích sự tham gia của cộng đồng. Thông điệp truyền thông BĐKH cần truyền cảm hứng và niềm tin. Chúng không chỉ đưa tin về Ảnh hưởng BĐKH Cần Thơ mà còn cung cấp các giải pháp thiết thực.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (211 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộLý do chọn đề tài BĐKH là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ 21. Sự thay đổi một cách bất thường của các xu hướng thời tiết ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống, đe dọa đến sức khỏe con người, là nguyên nhân “châm ngòi” cho các xung đột nội bộ và giữa các quốc gia, khu vực…, đồng thời tác động làm gia tăng nhiều nguy cơ khác làm thay đ ổi s ự phát triển của thế giới. Theo ước tính của LHQ, từ nay đến năm 2050, sẽ có khoảng 150 triệu người phải rời bỏ nơi sinh sống do BĐKH gây ra các hiện tượng thời tiết cực đoan; phân nửa động thực vật sẽ đối m ặt v ới nguy c ơ tuyệt chủng nếu nhiệt độ Trái Đất tăng thêm từ 1,1 - 6,4 độ C. Tại Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung c ủa Liên h ợp qu ốc v ề BĐKH (COP26), diễn ra tại Glasgow (Vương quốc Anh) ngày 1/11/2021, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Phạm Minh Chính nhấn mạnh: " Tác động tiêu cực của BĐKH ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh l ương th ực, ngu ồn nước, phát triển bền vững, thậm chí đe dọa sự tồn vong của nhiều quốc gia và cộng đồng dân cư”.
Việt Nam nằm trong số 5 quốc gia chịu ảnh hưởng năng nề nhất của BĐKH. Tác động của BĐKH đã gây nhiều tổn thất to lớn về ng ười, tài s ản, cơ sở hạ tầng, về kinh tế, văn hoá, xã hội, tác động xấu đến môi trường, là nguy cơ hiện hữu cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước. ĐBSCL là một trong 03 đồng bằng trên thế giới dễ bị tổn thương nhất do nước biển dâng. Theo các kịch bản BĐKH, vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam tăng khoảng 20 -300 C; mực nước biển có thể dâng cao thêm từ 75 cm đến 1 mét so với thời kỳ 1980 - 1999.
Khi đó, sẽ có khoảng 40% diện tích vùng ĐBSCL bị ngập, 35% dân s ố ch ịu ảnh 1 hưởng xấu do thời tiết phức tạp. Thực tế diễn biến thời ti ết vùng ĐBSCL 10 năm trở lại đây cũng có nhiều dấu hiệu bất thường, tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở, ngập úng… trở nên nghiêm trọng hơn; 1,7 tri ệu người đã di cư khỏi ĐBSCL, hơn gấp đôi trung bình cả n ước. Tình tr ạng này tiềm ẩn những nguy cơ lớn đối với quốc gia vì ĐBSCL là vùng địa kinh tế - chính trị, có số dân chiếm gần 18% dân số cả nước với 17 triệu dân, có vị trí trọng yếu về an ninh, quốc phòng, đóng góp khoảng 18% GDP v ới 90% tổng lượng gạo xuất khẩu, gần 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản và 70% sản lượng trái cây của Việt Nam, có vai trò đảm bảo an ninh l ương thực cho cả nước [11][13] [35][75][89]… Với chức năng đặc trưng là cung cấp thông tin, định hướng dư luận xã hội [17], báo chí nói riêng và truyền thông nói chung được nhi ều qu ốc gia và tổ chức thế giới nhìn nhận như một công cụ hữu ích và đ ược t ận dụng tối đa trong việc nâng cao nhận thức về BĐKH cho công chúng, t ạo dựng các diễn đàn thảo luận về giải pháp phù hợp ứng phó với BĐKH đối với từng khu vực và cộng đồng cụ thể. Đây cũng là giải pháp mà Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam hướng đến nhằm nâng cao nh ận th ức, năng lực thích nghi và ứng phó với BĐKH của cộng đồng.
Bám sát nh ững đ ịnh hướng chỉ đạo đó, báo chí Việt Nam thời gian qua đẩy mạnh thông tin tuyên truyền, phổ biến, giải thích đường lối, chính sách, pháp luật về BĐKH và ứng phó với BĐKH. Những thông điệp mà báo chí chuyển tải đã cung cấp nhiều kiến thức bổ ích giúp người dân, cộng đồng thêm hiểu biết, có niềm tin và cơ sở để từ đó thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn ứng phó với BĐKH [10][31][46]… Mặc dù vậy, những nghiên cứu thực tiễn vừa qua cho th ấy báo chí thông tin về BĐKH vẫn còn những hạn chế nhất định, như: Một số cơ quan báo chí chỉ thông tin về BĐKH khi có các sự kiện, hoạt động lớn về nội dung này chứ chưa chủ động xây dựng kế hoạch thông tin th ường xuyên. Các 2 thông điệp rời rạc, thiếu hệ thống về BĐKH tác động không đủ m ạnh đ ể công chúng nhận ra tầm quan trọng của vấn đề này với đời sống nhân loại để từ đó thay đổi hành vi nhằm giảm thiểu những tác động có hại đến môi trường. Nhiều tác phẩm báo chí khi đề cập đ ến n ội dung BĐKH chú tr ọng mô tả diễn biến, nhấn mạnh tác động tiêu cực mà chưa quan tâm nh ững giải pháp “thích nghi”, “thích ứng” với BĐKH; thông tin nhiều v ề nh ững định hướng, chủ trương chính sách về ứng phó với BĐKH hoặc các hoạt động, phát biểu của lãnh đạo Trung ương, địa phương nhưng lại thi ếu những bài phân tích sâu về nguyên nhân, các giải pháp ứng phó và thích nghi hoặc chưa chủ động cung cấp kiến thức, thông tin cho công chúng, cũng như chưa tổ chức diễn đàn thích ứng và dự báo về vấn đề này.
Ngôn ngữ sử dụng trong nhiều tác phẩm báo chí về lĩnh vực này còn khô khan, khó hiểu thậm chí chưa chính xác. Những hạn chế này tạo nên những thông điệp hời hợt, sai lệch, chưa khoa học về BĐKH khiến công chúng hoảng sợ, lo lắng và bi quan khi tiếp nhận; ảnh hưởng đến m ục tiêu nâng cao nhận thức, hiểu biết và hành động về ứng phó với BĐKH cho công chúng nước nhà [16][31][46][65][93]. Tầm quan trọng của vùng ĐBSCL đối với quốc gia và những nguy cơ, hiểm họa từ tác động tiêu cực của BĐKH mà vùng đất này đang đối mặt đòi hỏi cộng đồng dân cư nơi đây phải nhận thức đúng đắn, có kiến thức và kỹ năng để chủ động ứng phó với tác động tiêu cực của BĐKH một cách hiệu quả. Điều này lệ thuộc rất lớn vào thông điệp mà họ tiếp nhận qua các phương tiện truyền thông, mà gần gũi nhất là báo chí đ ịa ph ương.
Li ệu báo địa phương ĐBSCL có làm tốt chức năng, vai trò định hướng xã h ội trong việc xây dựng và chuyển tải đến công chúng trong khu v ực nh ững thông điệp khoa học, đa dạng, khách quan, dễ hiểu, có h ệ th ống …? Đó là câu hỏi đặt ra cần có những nghiên cứu từ các công trình khoa học cụ thể. 3 Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Thông điệp về biến đổi khí hậu trên báo Đảng khu vực đồng bằng sông Cửu Long (Kh ảo sát các báo An Giang, Cà Mau và Cần Thơ từ năm 2017 đ ến tháng 6 năm 2019)” làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Báo chí học. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu Khi thực tiễn đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc phải đ ẩy m ạnh hi ệu quả thông tin nhằm nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của công chúng trong ứng phó với tác động tiêu cực của BĐKH, báo Đảng khu v ực ĐBSCL đã chuyển tải các thông điệp gì và chuyển tải như thế nào về BĐKH đến công chúng? Mức độ ảnh hưởng của các thông điệp về BĐKH trên báo Đảng ĐBSCL đến công chúng như thế nào? Thông điệp về BĐKH trên báo Đảng khu vực ĐBSCL cần đáp ứng những tiêu chí nào? Là nh ững câu h ỏi nghiên cứu mà Luận án sẽ tập trung kiến giải. Cụ thể, có những vấn đề đặt ra cần quan tâm: Để thích ứng với quá trình BĐKH, các nhà hoạch định chính sách cũng như cư dân trong vùng cần có nhận thức, thái độ và hành vi phù hợp.
Vậy trong quá trình này, báo chí - truyền thông có những vai trò gì? Vai trò này được giới truyền thông khu vực ĐBSCL thể hiện như thế nào qua hoạt động của mình? Trong đó, hệ thống báo Đảng ĐBSCL có thực sự th ể hi ện vai trò trụ cột, nồng cốt của mình trong cung cấp kiến thức, thông tin, đ ể mở mang hiểu biết và thay đổi nhận thức, điều chỉnh thái đ ộ và hành vi công chúng? Nhà báo nói chuyện với công chúng bằng và thông qua thông điệp của mình. Vậy thông điệp về BĐKH trên báo Đảng khu v ực ĐBSCL hiện nay như thế nào và vấn đề này có thể nghiên cứu, tổng kết nó nh ằm tiếp tục nâng cao chất lượng thông điệp, để nâng cao năng lực và hiệu quả tác động của nó đối với khả năng thích ứng với quá trình BĐKH? Chúng tôi cũng nêu ra các giả thuyết nghiên cứu như sau: 4 - Giả thuyết thứ nhất: - BĐKH đã và đang là vấn đề quyết định sự phát triển bền vững của đất nước và khu vực ĐBSCL. Với hệ thống và mạng lưới truyền thông rộng khắp khu vực ĐBSCL, báo Đảng địa phương có vai trò trụ cột, đã có những đóng góp ngày càng tích c ực vào quá trình cung cấp kiến thức, thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi công chúng xã hội và nhân dân nói chung trong khu vực nhằm thích ứng v ới quá trình BĐKH. - Giả thuyết thứ hai: - Thông điệp về BĐKH trên báo Đảng địa phương ĐBSCL đã và đang đạt được những kết quả đáng khích l ệ, và những kết quả này rất cần được tổng kết để rút ra những vấn đề thực tiễn, đề xuất những giải pháp tiếp tục nâng cao chất lượng và năng lực tác động của thông điệp.
- Giả thuyết thứ ba: - Năng lực, kỹ năng thiết kế thông điệp BĐKH của đội ngũ nhà báo của báo Đảng địa phương khu vực ĐBSCL đang được c ải thiện và cần được nghiên cứu, tổng kết để tiếp tục nâng cao chất lượng và năng lực tác động của thông điệp, đáp ứng nhu cầu công chúng bản địa. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Thông điệp BĐKH báo Đảng ĐBSCL: Khảo sát An Giang, Cà Mau, Cần Thơ" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án TS khảo sát, phân tích thông điệp biến đổi khí hậu trên báo Đảng ĐBSCL: An Giang, Cà Mau, Cần Thơ, giai đoạn 2017-06/2019.
Luận án "Thông điệp BĐKH báo Đảng ĐBSCL: Khảo sát An Giang, Cà Mau, Cần Thơ" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Thông điệp BĐKH báo Đảng ĐBSCL: Khảo sát An Giang, Cà Mau, Cần Thơ" thuộc chuyên ngành Báo chí và Truyền thông. Danh mục: Lý Luận Báo Chí.
Luận án "Thông điệp BĐKH báo Đảng ĐBSCL: Khảo sát An Giang, Cà Mau, Cần Thơ" có bao nhiêu trang?
Luận án "Thông điệp BĐKH báo Đảng ĐBSCL: Khảo sát An Giang, Cà Mau, Cần Thơ" có 211 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Thông điệp BĐKH báo Đảng ĐBSCL: Khảo sát An Giang, Cà Mau, Cần Thơ" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.