Luận án: Thông điệp BĐKH báo Đảng ĐBSCL, khảo sát An Giang, Cà Mau, Cần Thơ
Luận án TS khảo sát, phân tích thông điệp biến đổi khí hậu trên báo Đảng ĐBSCL: An Giang, Cà Mau, Cần Thơ, giai đoạn 2017-06/2019.
Báo chí và Truyền thông
Luan An
Đề tài nghiên cứu
Số trang
211
Thời gian đọc
32 phút
Lượt xem
1
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- Biến đổi khí hậu: Thách thức toàn cầu, Việt Nam và ĐBSCL
- Số trang:
- 211 trang
- Chuyên ngành:
- Báo chí và Truyền thông
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I.Biến đổi khí hậu Thách thức toàn cầu Việt Nam và ĐBSCL
Biến đổi khí hậu (BĐKH) nổi lên như một thách thức lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ 21. Sự thay đổi bất thường của xu hướng thời tiết hiện ảnh hưởng sâu rộng đến sản xuất. Đời sống hàng ngày của người dân cũng chịu tác động nặng nề. Hiện tượng này đe dọa trực tiếp sức khỏe con người. BĐKH còn là nguyên nhân tiềm ẩn cho các xung đột nội bộ. Xung đột giữa các quốc gia và khu vực cũng gia tăng. Nó tác động làm gia tăng nhiều nguy cơ khác trên toàn cầu. Theo ước tính của Liên Hợp Quốc, khoảng 150 triệu người sẽ phải di cư. Sự di cư này do BĐKH gây ra các hiện tượng thời tiết cực đoan. Dự kiến xảy ra từ nay đến năm 2050. Phân nửa động thực vật sẽ đối mặt nguy cơ tuyệt chủng. Điều này xảy ra nếu nhiệt độ Trái Đất tăng thêm từ 1.1 đến 6.4 độ C. Tại Hội nghị COP26, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam nhấn mạnh tầm quan trọng của vấn đề. Ông Phạm Minh Chính phát biểu: "Tác động tiêu cực của BĐKH ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh lương thực, nguồn nước, phát triển bền vững, thậm chí đe dọa sự tồn vong của nhiều quốc gia và cộng đồng dân cư". Việt Nam hiện nằm trong số 5 quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ BĐKH. Tác động của BĐKH đã gây nhiều tổn thất to lớn. Thiệt hại về người, tài sản, cơ sở hạ tầng đã xảy ra. Kinh tế, văn hóa, xã hội bị ảnh hưởng xấu. Môi trường tự nhiên cũng suy thoái nghiêm trọng. Đây là nguy cơ hiện hữu cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ. BĐKH đe dọa trực tiếp sự phát triển bền vững của đất nước. Tình hình đòi hỏi hành động quyết liệt và đồng bộ.
1.1. BĐKH Hiểm họa toàn cầu tác động nghiêm trọng
Biến đổi khí hậu là thách thức toàn cầu. Hiện tượng này gây ra những biến động lớn về thời tiết. Các hiện tượng cực đoan như bão, lũ, hạn hán xảy ra thường xuyên hơn. Sự thay đổi khí hậu ảnh hưởng trực tiếp đến nông nghiệp. Năng suất cây trồng giảm sút. Ngành chăn nuôi và thủy sản cũng gặp nhiều khó khăn. Sức khỏe cộng đồng chịu tác động tiêu cực. Dịch bệnh mới có thể xuất hiện. Các bệnh truyền nhiễm có thể lây lan nhanh chóng. Biến đổi khí hậu còn là một yếu tố thúc đẩy di cư. Hàng triệu người phải rời bỏ quê hương tìm kiếm nơi ở mới. Đa dạng sinh học bị đe dọa nghiêm trọng. Nhiều loài động, thực vật đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Tác động biến đổi khí hậu không chỉ là vấn đề môi trường. Đó còn là vấn đề kinh tế, xã hội và an ninh. Việt Nam, với đường bờ biển dài và địa hình thấp, đặc biệt dễ tổn thương. Các kịch bản biến đổi khí hậu cho thấy nguy cơ ngập lụt, xâm nhập mặn ngày càng cao. Vấn đề này đòi hỏi sự hợp tác quốc tế. Cần có các chính sách thích ứng BĐKH hiệu quả. Nhận thức của cộng đồng cần được nâng cao. Hành động ứng phó biến đổi khí hậu miền Tây phải được ưu tiên.
1.2. ĐBSCL Vùng dễ tổn thương trọng yếu quốc gia
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) được xác định là một trong ba đồng bằng trên thế giới dễ bị tổn thương nhất. Đặc biệt, khu vực này chịu ảnh hưởng nghiêm trọng do nước biển dâng. Các kịch bản biến đổi khí hậu dự báo rõ ràng. Vào cuối thế kỷ 21, mực nước biển có thể dâng cao từ 75 cm đến 1 mét. Mức này so với thời kỳ 1980-1999. Khi đó, khoảng 40% diện tích vùng ĐBSCL sẽ bị ngập. Khoảng 35% dân số sẽ chịu ảnh hưởng xấu do thời tiết phức tạp. ĐBSCL không chỉ là vựa lúa của Việt Nam. Vùng này là trung tâm địa kinh tế - chính trị có vị trí trọng yếu. ĐBSCL có số dân chiếm gần 18% dân số cả nước, khoảng 17 triệu người. Vị trí chiến lược này rất quan trọng về an ninh, quốc phòng. Vùng đóng góp khoảng 18% GDP quốc gia. Nơi đây cung cấp 90% tổng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam. Gần 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản cũng từ ĐBSCL. Hơn nữa, 70% sản lượng trái cây của Việt Nam xuất phát từ vùng này. ĐBSCL có vai trò then chốt trong việc đảm bảo an ninh lương thực cho cả nước. Xâm nhập mặn Đồng bằng sông Cửu Long đe dọa trực tiếp sản xuất. Tình hình BĐKH Cà Mau cho thấy rõ nguy cơ sạt lở. Ảnh hưởng BĐKH Cần Thơ cũng làm tăng áp lực lên hạ tầng. Nước biển dâng ĐBSCL là mối lo ngại hàng đầu. Việc bảo vệ và phát triển bền vững ĐBSCL là ưu tiên quốc gia.
II.Tác động biến đổi khí hậu ĐBSCL Nguy cơ và thiệt hại
Thực tế diễn biến thời tiết vùng ĐBSCL trong 10 năm trở lại đây có nhiều dấu hiệu bất thường. Tình trạng hạn hán kéo dài và nghiêm trọng hơn. Xâm nhập mặn diễn biến phức tạp, lan rộng vào sâu nội đồng. Sạt lở bờ sông, bờ biển xảy ra thường xuyên, gây thiệt hại lớn. Ngập úng cục bộ và diện rộng cũng trở nên nghiêm trọng. Những hiện tượng này đã gây ra nhiều thách thức cho vùng đất trù phú này. Mất mát về đất đai canh tác là đáng kể. Nguồn nước ngọt sinh hoạt và sản xuất bị thiếu hụt. Cơ sở hạ tầng như đường sá, cầu cống cũng chịu ảnh hưởng. Tác động biến đổi khí hậu ĐBSCL đang ngày càng rõ rệt. Đời sống của hàng triệu người dân bị xáo trộn. Sinh kế truyền thống bị đe dọa. Khảo sát khí hậu An Giang cho thấy những thay đổi đáng kể. Tình hình BĐKH Cà Mau đặc biệt nghiêm trọng với sạt lở và xâm nhập mặn. Ảnh hưởng BĐKH Cần Thơ cũng gây áp lực lên đô thị hóa và phát triển kinh tế. Những nguy cơ này đòi hỏi các giải pháp ứng phó biến đổi khí hậu miền Tây một cách chủ động và toàn diện. Cần có sự phối hợp giữa chính quyền, khoa học và cộng đồng.
2.1. Diễn biến khí hậu bất thường Hạn hán xâm nhập mặn
Diễn biến khí hậu vùng ĐBSCL trong thập kỷ qua đã cho thấy sự bất thường rõ rệt. Các đợt hạn hán kéo dài hơn, gay gắt hơn. Nguồn nước từ thượng nguồn sông Mê Kông về ĐBSCL suy giảm. Điều này gây thiếu hụt nước ngọt nghiêm trọng cho sản xuất nông nghiệp. Đặc biệt là lúa và cây ăn trái. Xâm nhập mặn Đồng bằng sông Cửu Long đã trở thành vấn đề cấp bách. Nước mặn lấn sâu vào các cửa sông, kênh rạch. Vượt qua giới hạn cho phép của cây trồng và vật nuôi. Điều này hủy hoại hàng ngàn hecta đất nông nghiệp. Ảnh hưởng đến nguồn nước sinh hoạt của người dân. Tình hình BĐKH Cà Mau đang đối mặt với nguy cơ sạt lở bờ biển. Nhiều diện tích đất bị biển cuốn trôi. Tình trạng ngập úng cũng xảy ra thường xuyên ở các vùng thấp trũng. Đặc biệt vào mùa mưa bão. Những hiện tượng này làm giảm năng suất cây trồng. Gây thiệt hại lớn cho ngư dân và nông dân. Cần có các biện pháp khẩn cấp để thích ứng. Chính sách thích ứng BĐKH cần được triển khai hiệu quả. Khảo sát khí hậu An Giang và các tỉnh khác cần cung cấp dữ liệu chính xác để hoạch định chiến lược.
2.2. Hậu quả kinh tế xã hội Di cư và bất ổn
Tác động biến đổi khí hậu ĐBSCL đã gây ra những hệ lụy sâu sắc về kinh tế - xã hội. Một trong những hệ quả đáng chú ý là làn sóng di cư lớn. Khoảng 1.7 triệu người dân đã rời khỏi ĐBSCL. Con số này hơn gấp đôi mức trung bình di cư của cả nước. Di cư do BĐKH ảnh hưởng đến nguồn nhân lực tại địa phương. Đặc biệt là lực lượng lao động trẻ, có trình độ. Điều này tạo ra khoảng trống lớn trong phát triển kinh tế vùng. ĐBSCL là vùng trọng điểm sản xuất lương thực. Sự suy giảm nguồn lực và tài nguyên đe dọa an ninh lương thực quốc gia. Nền kinh tế địa phương phụ thuộc vào nông nghiệp và thủy sản. Những ngành này bị tổn thương nghiêm trọng. Thu nhập của người dân giảm sút. Tình trạng này có thể dẫn đến bất ổn xã hội. Chính phủ và các địa phương cần triển khai hiệu quả các chính sách thích ứng BĐKH. Cần tạo ra sinh kế bền vững cho người dân. Đồng thời, hỗ trợ người dân ứng phó biến đổi khí hậu miền Tây. Đặc biệt là tại các tỉnh chịu ảnh hưởng nặng như Cà Mau, An Giang, Cần Thơ. Ảnh hưởng BĐKH Cần Thơ đặt ra bài toán về quy hoạch đô thị bền vững. Cần có sự đầu tư mạnh mẽ vào cơ sở hạ tầng. Mục tiêu là giảm thiểu rủi ro và tăng cường khả năng chống chịu.
III.Vai trò thông điệp truyền thông BĐKH Nâng cao nhận thức
Báo chí và truyền thông đóng vai trò không thể thiếu. Chức năng chính là cung cấp thông tin và định hướng dư luận xã hội. Nhiều quốc gia và tổ chức trên thế giới đã nhìn nhận rõ vai trò này. Họ tận dụng tối đa truyền thông như một công cụ hữu ích. Mục đích là nâng cao nhận thức về biến đổi khí hậu cho công chúng. Truyền thông còn giúp tạo dựng các diễn đàn thảo luận. Những diễn đàn này tìm kiếm giải pháp phù hợp ứng phó với BĐKH. Các giải pháp cần đặc thù cho từng khu vực và cộng đồng cụ thể. Đây cũng là giải pháp mà Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam đang hướng đến. Mục tiêu là nâng cao nhận thức của cộng đồng. Đồng thời, tăng cường năng lực thích nghi và ứng phó với BĐKH. Thông điệp truyền thông BĐKH cần được xây dựng một cách khoa học. Nội dung phải rõ ràng và dễ hiểu. Việc truyền tải thông tin chính xác giúp người dân hiểu đúng về tình hình. Từ đó, họ có thể tham gia vào các hoạt động ứng phó. Chính sách thích ứng BĐKH cũng cần được truyền đạt hiệu quả. Điều này góp phần xây dựng một cộng đồng kiên cường trước thách thức khí hậu.
3.1. Truyền thông BĐKH Công cụ thiết yếu định hướng dư luận
Truyền thông BĐKH là một công cụ thiết yếu trong cuộc chiến chống lại biến đổi khí hậu. Nó không chỉ đơn thuần là việc cung cấp tin tức. Mà còn là định hướng dư luận, xây dựng nhận thức. Các kênh truyền thông có khả năng tiếp cận rộng rãi công chúng. Từ đó, truyền tải các thông điệp quan trọng về BĐKH. Mục tiêu là giúp người dân hiểu rõ về nguyên nhân, hậu quả. Đồng thời, khuyến khích họ thay đổi hành vi để thích ứng. Truyền thông cũng tạo ra một diễn đàn mở. Nơi các chuyên gia, nhà khoa học, chính phủ và cộng đồng cùng thảo luận. Họ tìm ra các giải pháp ứng phó biến đổi khí hậu miền Tây phù hợp nhất. Việc này đặc biệt quan trọng ở các vùng dễ tổn thương như ĐBSCL. Các thông điệp truyền thông BĐKH cần tập trung vào hành động. Chúng cần cung cấp thông tin hữu ích. Từ đó, người dân có thể áp dụng vào thực tiễn cuộc sống. Điều này giúp nâng cao năng lực tự bảo vệ. Cũng như tăng cường khả năng phục hồi của cộng đồng trước các thảm họa. Chính sách thích ứng BĐKH cần được phổ biến rộng rãi thông qua truyền thông. Điều này đảm bảo người dân hiểu và tham gia tích cực.
3.2. Báo chí Việt Nam Nỗ lực tuyên truyền phổ biến chính sách
Báo chí Việt Nam trong thời gian qua đã tích cực bám sát định hướng chỉ đạo. Các cơ quan báo chí đẩy mạnh thông tin tuyên truyền về biến đổi khí hậu. Mục tiêu là phổ biến và giải thích đường lối, chính sách, pháp luật. Những chính sách này liên quan đến BĐKH và ứng phó BĐKH. Những thông điệp mà báo chí chuyển tải cung cấp nhiều kiến thức bổ ích. Chúng giúp người dân và cộng đồng thêm hiểu biết sâu sắc. Từ đó, tạo dựng niềm tin vững chắc vào các giải pháp của Đảng và Nhà nước. Điều này cung cấp cơ sở để thực hiện đường lối của Đảng. Áp dụng chính sách và pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn. Mục tiêu cuối cùng là ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu. Báo chí đã thực hiện nhiều chuyên đề, phóng sự. Họ đưa tin về các mô hình thích ứng thành công ở địa phương. Ví dụ như tại An Giang, Cà Mau, Cần Thơ. Những thông tin này giúp cộng đồng hình dung rõ hơn. Từ đó, họ có thể học hỏi và áp dụng. Việc truyền thông về Chính sách thích ứng BĐKH là một phần quan trọng. Nó giúp đảm bảo tính hiệu quả và sự đồng thuận của xã hội. Thông điệp truyền thông BĐKH không ngừng được cải tiến. Mục đích là để tiếp cận đa dạng đối tượng công chúng.
IV.Hạn chế truyền thông BĐKH Thông điệp chưa hiệu quả
Mặc dù có nhiều nỗ lực, những nghiên cứu thực tiễn gần đây cho thấy hạn chế. Báo chí thông tin về biến đổi khí hậu vẫn còn những điểm yếu nhất định. Một số cơ quan báo chí chỉ thông tin về BĐKH khi có các sự kiện lớn. Hoặc các hoạt động trọng điểm về nội dung này. Việc thiếu chủ động xây dựng kế hoạch thông tin thường xuyên là một vấn đề. Các thông điệp về BĐKH thường rời rạc, thiếu hệ thống. Điều này khiến chúng không đủ mạnh để tác động đến công chúng. Công chúng chưa nhận ra tầm quan trọng của vấn đề này đối với đời sống. Từ đó, việc thay đổi hành vi nhằm giảm thiểu tác động có hại đến môi trường chưa đạt hiệu quả. Nhiều tác phẩm báo chí khi đề cập đến BĐKH. Chúng chú trọng mô tả diễn biến và nhấn mạnh tác động tiêu cực. Nhưng lại ít quan tâm đến những giải pháp 'thích nghi' và 'thích ứng' cụ thể. Thông tin về định hướng, chủ trương chính sách. Hoặc các hoạt động, phát biểu của lãnh đạo Trung ương, địa phương thì nhiều. Nhưng thiếu những bài phân tích sâu về nguyên nhân. Thiếu các giải pháp ứng phó và thích nghi hiệu quả. Khảo sát khí hậu An Giang hay Tình hình BĐKH Cà Mau cần những phân tích sâu hơn. Ảnh hưởng BĐKH Cần Thơ cần được mổ xẻ chi tiết hơn về các giải pháp.
4.1. Thực trạng thông tin Rời rạc thiếu chủ động nặng tiêu cực
Thực trạng thông tin về biến đổi khí hậu trên báo chí Việt Nam còn tồn tại nhiều hạn chế. Việc thiếu chủ động trong việc lập kế hoạch truyền thông là một vấn đề. Nhiều cơ quan báo chí chỉ phản ứng khi có sự kiện lớn. Ví dụ như hội nghị quốc tế hoặc thảm họa thiên tai. Điều này dẫn đến thông tin không liên tục. Các thông điệp truyền thông BĐKH bị rời rạc, thiếu sự kết nối. Chúng không tạo thành một bức tranh tổng thể về BĐKH. Công chúng khó nắm bắt được chiều sâu của vấn đề. Hơn nữa, nhiều bài báo chỉ tập trung vào việc mô tả các diễn biến tiêu cực. Ví dụ như hạn hán, xâm nhập mặn Đồng bằng sông Cửu Long. Họ ít đề cập đến các giải pháp cụ thể. Hoặc các câu chuyện thành công về ứng phó biến đổi khí hậu miền Tây. Điều này có thể khiến công chúng cảm thấy bi quan. Nó làm giảm động lực tham gia vào các hoạt động ứng phó. Để khắc phục, cần có kế hoạch truyền thông dài hạn. Kế hoạch phải chủ động, tích cực và cân bằng. Cần nhấn mạnh cả những giải pháp và cơ hội. Thông tin về Chính sách thích ứng BĐKH cũng cần được truyền tải một cách nhất quán và dễ hiểu.
4.2. Ngôn ngữ và nội dung Khó hiểu thiếu khoa học gây hoang mang
Ngôn ngữ sử dụng trong nhiều tác phẩm báo chí về BĐKH thường khô khan. Nhiều thuật ngữ chuyên ngành được sử dụng mà không được giải thích. Điều này khiến công chúng khó tiếp cận và hiểu. Nội dung thường tập trung vào các định hướng vĩ mô. Hoặc các phát biểu của lãnh đạo mà thiếu những kiến thức thực tế. Thiếu đi những phân tích sâu sắc về nguyên nhân gốc rễ. Các giải pháp ứng phó và thích nghi cụ thể cho từng địa phương cũng ít được đề cập. Ví dụ, về Khảo sát khí hậu An Giang hay Tình hình BĐKH Cà Mau. Thông tin chưa được chủ động cung cấp một cách dễ hiểu. Các diễn đàn để công chúng thảo luận, đóng góp ý kiến còn hạn chế. Điều này tạo ra những thông điệp hời hợt, đôi khi sai lệch. Chúng thiếu tính khoa học và có thể gây hoang mang cho công chúng. Người dân có thể cảm thấy lo lắng, bi quan. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu nâng cao nhận thức. Nó cản trở sự hiểu biết và hành động về ứng phóchống biến đổi khí hậu. Để cải thiện, cần đơn giản hóa ngôn ngữ. Cần tăng cường tính khoa học và thực tiễn trong nội dung. Đồng thời, phải khuyến khích sự tham gia của cộng đồng. Thông điệp truyền thông BĐKH cần truyền cảm hứng và niềm tin. Chúng không chỉ đưa tin về Ảnh hưởng BĐKH Cần Thơ mà còn cung cấp các giải pháp thiết thực.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (211 trang)Nội dung chính
Với tư cách là chuyên gia viết content SEO có 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực học thuật tiếng Việt, tôi xin trình bày nội dung SEO chi tiết dựa trên tài liệu bạn cung cấp.
Thông điệp Biến đổi Khí hậu trên Báo Đảng Đồng bằng Sông Cửu Long: Phân tích Thực trạng và Giải pháp
Tổng quan nghiên cứu
Biến đổi khí hậu (BĐKH) đã và đang là thách thức toàn cầu nghiêm trọng nhất của nhân loại trong thế kỷ 21, ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt đời sống, sản xuất và an ninh quốc gia. Việt Nam, đặc biệt là khu vực Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), nằm trong số 5 quốc gia chịu tác động nặng nề nhất. Theo các kịch bản BĐKH, ĐBSCL đối mặt với nguy cơ ngập lụt 40% diện tích, hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở và di cư hàng triệu người, đe dọa trực tiếp đến an ninh lương thực và phát triển bền vững của đất nước.
Trong bối cảnh cấp thiết đó, truyền thông – đặc biệt là báo chí – đóng vai trò không thể thiếu trong việc nâng cao nhận thức, định hướng dư luận và thúc đẩy hành động ứng phó với BĐKH. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng vai trò của báo chí trong việc chuyển tải đường lối, chính sách và pháp luật về BĐKH. Tuy nhiên, các nghiên cứu thực tiễn cho thấy báo chí vẫn còn những hạn chế nhất định, từ việc thiếu chủ động trong thông tin, thông điệp rời rạc, khô khan, đến việc chưa chú trọng phân tích sâu giải pháp thích nghi và thích ứng.
Luận án này ra đời nhằm lấp đầy khoảng trống nghiên cứu về "Thông điệp về biến đổi khí hậu trên báo Đảng khu vực Đồng bằng sông Cửu Long", khảo sát cụ thể tại An Giang, Cà Mau và Cần Thơ từ năm 2017 đến tháng 6 năm 2019. Nghiên cứu tập trung giải quyết các câu hỏi trọng tâm: Báo Đảng đã chuyển tải thông điệp gì và như thế nào, mức độ ảnh hưởng đến công chúng, và những tiêu chí cần đáp ứng để nâng cao chất lượng thông điệp. Bằng cách tiếp cận đa chiều từ phân tích nội dung, khảo sát công chúng đến phỏng vấn chuyên gia, tài liệu này mang đến cái nhìn toàn diện và đề xuất các giải pháp thiết thực để báo Đảng ĐBSCL phát huy tối đa vai trò của mình trong công cuộc ứng phó BĐKH.
Nội dung chi tiết
Thông điệp Biến đổi Khí hậu: Bối cảnh và Vai trò Báo chí tại Đồng bằng Sông Cửu Long
Biến đổi khí hậu (BĐKH) không còn là khái niệm xa vời mà đã trở thành hiện thực cấp bách, định hình lại bối cảnh phát triển của nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. ĐBSCL, với vị thế địa kinh tế - chính trị trọng yếu, đóng góp lớn vào GDP quốc gia, đặc biệt là an ninh lương thực và xuất khẩu nông thủy sản, lại là một trong ba đồng bằng trên thế giới dễ bị tổn thương nhất. Thực tế 10 năm gần đây cho thấy diễn biến thời tiết tại vùng này có nhiều bất thường, tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở, ngập úng trở nên nghiêm trọng, dẫn đến di cư hàng loạt và đe dọa sự phát triển bền vững.
Trong bối cảnh đó, báo chí và truyền thông được nhìn nhận như một công cụ hữu ích trong việc nâng cao nhận thức về BĐKH cho công chúng, tạo dựng các diễn đàn thảo luận về giải pháp ứng phó. Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam đã định hướng báo chí chủ động đẩy mạnh thông tin tuyên truyền, phổ biến đường lối, chính sách về BĐKH. Tuy nhiên, các nghiên cứu thực tiễn chỉ ra rằng thông điệp về BĐKH trên báo chí vẫn còn hạn chế: thiếu tính hệ thống, thường chỉ tập trung mô tả tác động tiêu cực mà ít đi sâu vào các giải pháp thích nghi, thích ứng, và ngôn ngữ còn khô khan, khó hiểu, dẫn đến công chúng hoang mang, lo lắng.
Để giải mã vai trò và hiệu quả của báo chí, đặc biệt là báo Đảng địa phương, trong việc truyền tải thông điệp BĐKH, luận án sử dụng các lý thuyết nền tảng. Theo quan điểm Mác-Lê-nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, báo chí không chỉ là công cụ tuyên truyền, cổ động mà còn là người tổ chức tập thể, phải có tính quần chúng và tinh thần chiến đấu, phục vụ đông đảo nhân dân lao động. Lý thuyết Thiết lập chương trình nghị sự (Agenda Setting Theory) nhấn mạnh rằng tần suất và cường độ thông tin của truyền thông đại chúng (TTĐC) ảnh hưởng đến mức độ quan tâm của công chúng về tầm quan trọng của một vấn đề. Bên cạnh đó, Lý thuyết Đóng khung (Framing Theory) giải thích cách truyền thông định hướng và điều chỉnh dư luận xã hội bằng cách lựa chọn và làm nổi bật các khía cạnh của một vấn đề. Cuối cùng, Lý thuyết Truyền thông can thiệp xã hội khẳng định vai trò của báo chí trong việc cung cấp thông tin, kiến thức, tạo diễn đàn chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm, từ đó giúp công chúng thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi trong quá trình giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội, bao gồm cả BĐKH.
Các nghiên cứu quốc tế và Việt Nam cũng đã chỉ ra tầm quan trọng của truyền thông BĐKH. Nhiều công trình tập trung phân tích cách các phương tiện truyền thông ở các quốc gia khác nhau đưa tin về BĐKH, mức độ khoa học, tính khách quan hay xu hướng hoài nghi. Ở Việt Nam, các nghiên cứu cũng đã điểm qua thực trạng truyền thông BĐKH trên các báo, tạp chí, nhưng chưa có công trình nào đi sâu một cách có hệ thống vào thông điệp BĐKH trên báo Đảng khu vực ĐBSCL, đặc biệt là trên các tờ báo in của Đảng bộ địa phương. Điều này tạo nên một khoảng trống cần thiết được lấp đầy, giúp đánh giá cụ thể hơn về hiệu quả truyền thông tại một trong những vùng trọng điểm chịu tác động nặng nề nhất của BĐKH.
Phương pháp Nghiên cứu và Cách tiếp cận Độc đáo của Luận án
Luận án "Thông điệp về biến đổi khí hậu trên báo Đảng khu vực Đồng bằng sông Cửu Long" áp dụng một phương pháp nghiên cứu đa chiều, kết hợp cả định tính và định lượng để mang lại cái nhìn toàn diện và sâu sắc về vấn đề này. Phương pháp tiếp cận độc đáo này không chỉ phân tích thông điệp truyền thông mà còn khảo sát trực tiếp mức độ tiếp nhận và ảnh hưởng đến công chúng.
Phương pháp nghiên cứu độc đáo: Luận án kết hợp hài hòa phân tích nội dung định tính và định lượng, khảo sát công chúng và phỏng vấn sâu chuyên gia. Điểm đặc biệt là nghiên cứu được tiến hành tại ba địa phương điển hình của ĐBSCL chịu ảnh hưởng nặng nề và đặc trưng của BĐKH: An Giang (đầu nguồn, ngập lũ, sạt lở), Cà Mau (giáp biển, nước biển dâng, xâm nhập mặn, mất rừng phòng hộ), và Cần Thơ (đô thị trung tâm, chịu tác động tổng hợp). Việc chọn lựa các địa phương này giúp đảm bảo tính đại diện và phản ánh đa dạng các biểu hiện của BĐKH trong khu vực. Phạm vi thời gian từ tháng 01 năm 2017 đến tháng 6 năm 2019 cho các tác phẩm báo chí, cùng với khảo sát công chúng và phỏng vấn sâu trong khung thời gian 2019-đầu 2020, cung cấp dữ liệu cập nhật và có giá trị thực tiễn cao.
Quy trình thực hiện nghiên cứu:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và xây dựng khung lý thuyết: Luận án bắt đầu bằng việc khảo cứu các công trình khoa học liên quan đến BĐKH, vai trò của truyền thông và các lý thuyết chuyên ngành (Thiết lập chương trình nghị sự, Đóng khung, Truyền thông can thiệp xã hội, Tâm lý tiếp nhận công chúng...). Điều này tạo nền tảng vững chắc cho việc định hình vấn đề và phương pháp nghiên cứu.
- Khảo sát thực trạng thông điệp BĐKH trên báo Đảng ĐBSCL: Nghiên cứu đi sâu vào nhận diện vấn đề thực tiễn của thông điệp, tiếp cận ở cả hai hướng: nội dung (chủ đề, góc độ, tính khoa học, giải pháp...) và hình thức (ngôn ngữ, hình ảnh, thể loại báo chí...).
- Tìm hiểu việc tiếp nhận của công chúng: Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các thông điệp BĐKH trên báo Đảng địa phương đối với nhận thức, thái độ và hành vi của công chúng xã hội trong khu vực.
- Phân tích vấn đề thực tiễn và đề xuất giải pháp: Dựa trên kết quả khảo sát và phân tích, luận án chỉ ra những thuận lợi, thách thức và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng thông điệp về BĐKH trên báo Đảng ĐBSCL.
Công cụ và phương pháp cụ thể:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Dùng để hệ thống hóa lý luận và xây dựng khung lý thuyết.
- Phân tích nội dung (định tính và định lượng):
- Định lượng: Phân tích 1.290 tác phẩm báo chí từ báo in An Giang, Cà Mau, Cần Thơ (01/2017 - 06/2019) có chứa từ khóa "Biến đổi khí hậu" và các từ liên quan (nóng lên toàn cầu, nước biển dâng, hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở...). Dữ liệu được mã hóa và phân tích bằng phần mềm SPSS 16.0 để thống kê tần suất, cơ cấu.
- Định tính: Phân tích sâu các tác phẩm báo chí theo từng chủ đề để làm rõ hơn các kết quả định lượng.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện với 18 người (chuyên gia BĐKH, nhà quản lý, nhà báo chuyên viết về BĐKH) để thu thập cứ liệu thực tế và thông tin định tính.
- Phương pháp bảng hỏi anket: Khảo sát 450 người dân (mỗi địa phương 150 người) để tìm hiểu mức độ ảnh hưởng và đánh giá của công chúng đối với thông điệp BĐKH trên báo Đảng địa phương.
- Phương pháp thống kê - phân loại: Dùng để tìm hiểu tần suất và cơ cấu các loại thông điệp.
Cách tiếp cận toàn diện này giúp luận án không chỉ mô tả thực trạng mà còn lý giải sâu sắc nguyên nhân và đưa ra các khuyến nghị có cơ sở khoa học, góp phần nâng cao hiệu quả truyền thông về BĐKH.
Kết quả Nghiên cứu và Đóng góp Giá trị
Luận án "Thông điệp về biến đổi khí hậu trên báo Đảng khu vực Đồng bằng sông Cửu Long" đã mang lại những kết quả nghiên cứu và đóng góp giá trị quan trọng, không chỉ về mặt lý luận mà còn về ý nghĩa thực tiễn, đặc biệt đối với công tác truyền thông về BĐKH ở ĐBSCL.
Kết quả chính của nghiên cứu:
- Thực trạng thông điệp BĐKH trên báo Đảng ĐBSCL: Nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng chi tiết về nội dung và hình thức thông điệp BĐKH trên các báo Đảng tại An Giang, Cà Mau và Cần Thơ. Phát hiện những hạn chế cố hữu như thông tin còn rời rạc, thiếu hệ thống, thường chỉ xuất hiện khi có sự kiện lớn về BĐKH. Các bài viết có xu hướng mô tả diễn biến và nhấn mạnh tác động tiêu cực, nhưng lại ít quan tâm đến các giải pháp "thích nghi", "thích ứng", hoặc thiếu những phân tích sâu về nguyên nhân và giải pháp ứng phó cụ thể. Ngôn ngữ sử dụng đôi khi khô khan, khó hiểu, thậm chí chưa chính xác, dẫn đến thông điệp hời hợt, sai lệch, khiến công chúng hoang mang, lo lắng.
- Thái độ tiếp nhận và nhu cầu công chúng: Khảo sát công chúng đã làm rõ thái độ tiếp nhận và nhu cầu thông tin về BĐKH của người dân ĐBSCL. Mặc dù công chúng nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề, nhưng hiệu quả tác động của thông điệp còn hạn chế do những yếu tố đã nêu. Nghiên cứu cũng đánh giá mức độ ảnh hưởng của các thông điệp này đối với việc thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của công chúng.
- Năng lực thiết kế thông điệp của đội ngũ nhà báo: Luận án nhận diện những điểm mạnh và hạn chế trong năng lực, kỹ năng thiết kế thông điệp BĐKH của đội ngũ nhà báo địa phương, từ đó khẳng định nhu cầu cần được cải thiện liên tục để đáp ứng yêu cầu truyền thông trong bối cảnh BĐKH ngày càng phức tạp.
Đóng góp và ý nghĩa thực tiễn:
- Là công trình tiên phong và có hệ thống: Luận án là nghiên cứu đầu tiên tiếp cận một cách cơ bản và hệ thống vấn đề thông điệp về BĐKH trên các báo in của Đảng bộ khu vực ĐBSCL. Điều này làm phong phú thêm cho lĩnh vực nghiên cứu truyền thông, cụ thể là khía cạnh phân tích thông điệp trên báo in và cung cấp một mô hình nghiên cứu đáng giá.
- Chỉ ra thực trạng và nhu cầu cấp thiết: Bằng cách chỉ ra thực trạng thông điệp BĐKH và nhu cầu tiếp nhận của công chúng, luận án cung cấp cái nhìn tổng quan, khách quan giúp các cơ quan báo chí địa phương nhìn nhận lại kết quả hoạt động, từ đó cải thiện và nâng cao chất lượng thông tin về BĐKH.
- Đề xuất giải pháp cụ thể: Luận án đưa ra những dự báo về thuận lợi và thách thức của báo Đảng trong môi trường truyền thông mới, đồng thời khuyến nghị các giải pháp chi tiết nhằm nâng cao chất lượng thông điệp về BĐKH. Các giải pháp này không chỉ hướng đến đội ngũ nhà báo mà còn đến các nhà hoạch định chính sách, góp phần thực hiện mục tiêu mở mang hiểu biết, thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi công chúng để ứng phó với BĐKH, đóng góp vào quá trình phát triển bền vững của ĐBSCL.
- Tài liệu tham khảo giá trị: Công trình này là tài liệu tham khảo bổ ích cho giới báo chí – truyền thông, các cơ sở nghiên cứu – đào tạo nhân lực, các nhà hoạch định chính sách về BĐKH (nhất là ở ĐBSCL), và cả những độc giả quốc tế quan tâm đến chủ đề này. Nó không chỉ giúp nâng cao năng lực tác động và hiệu quả truyền thông về BĐKH trên báo chí nói chung, báo Đảng khu vực ĐBSCL nói riêng, mà còn gợi mở hướng nghiên cứu cho các đề tài khoa học khác liên quan. Các trường hợp điển hình như An Giang với ngập lũ, Cà Mau với nước biển dâng, hay Cần Thơ với tác động tổng hợp, đều minh chứng cho tính cấp thiết của việc cải thiện chất lượng thông điệp BĐKH.
Ai nên đọc tài liệu này?
Tài liệu chuyên sâu về thông điệp biến đổi khí hậu trên báo Đảng khu vực Đồng bằng sông Cửu Long này mang lại giá trị to lớn cho nhiều nhóm đối tượng khác nhau, từ những người trực tiếp hoạt động trong ngành truyền thông đến các nhà hoạch định chính sách và cộng đồng khoa học.
Các đối tượng cụ thể nên đọc tài liệu này bao gồm:
- Nhà báo, biên tập viên, phóng viên: Đặc biệt là những người đang công tác tại các cơ quan báo Đảng địa phương và những người chuyên trách mảng môi trường, biến đổi khí hậu. Tài liệu cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng thông điệp hiện tại, những hạn chế cần khắc phục và các giải pháp thiết thực để cải thiện kỹ năng thiết kế, chuyển tải thông điệp một cách khoa học, hấp dẫn và hiệu quả hơn.
- Các nhà nghiên cứu, học giả trong lĩnh vực báo chí, truyền thông, khoa học xã hội và BĐKH: Luận án cung cấp một khung lý thuyết vững chắc, phương pháp nghiên cứu đa chiều và kết quả chi tiết, làm nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo. Đây là tài liệu quý giá để tham khảo về cách tiếp cận một vấn đề phức tạp từ góc độ truyền thông.
- Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách về BĐKH: Từ cấp trung ương (Bộ Tài nguyên & Môi trường) đến cấp địa phương (Ủy ban nhân dân, Sở Thông tin & Truyền thông các tỉnh/thành ĐBSCL). Kết quả nghiên cứu giúp họ hiểu rõ hơn về hiệu quả của các chiến lược truyền thông hiện tại, từ đó đề xuất và triển khai các chính sách truyền thông BĐKH phù hợp, có tính định hướng và tác động cao hơn đến cộng đồng.
- Các tổ chức phi chính phủ (NGOs), tổ chức quốc tế và cộng đồng hoạt động về môi trường, phát triển bền vững: Tài liệu này cung cấp thông tin hữu ích để các tổ chức này thiết kế các chiến dịch truyền thông cộng đồng hiệu quả, hỗ trợ người dân ĐBSCL tăng cường khả năng thích ứng với BĐKH.
Để tiếp thu tốt nhất nội dung tài liệu, độc giả nên có:
- Kiến thức cơ bản về biến đổi khí hậu: Hiểu về các khái niệm, nguyên nhân, biểu hiện và tác động của BĐKH, đặc biệt là đối với khu vực ĐBSCL.
- Hiểu biết về vai trò và chức năng của báo chí: Nắm vững vai trò của báo chí (đặc biệt là báo Đảng) trong việc định hướng dư luận xã hội, tuyên truyền chính sách.
- Một số khái niệm cơ bản về truyền thông và tâm lý công chúng: Các lý thuyết về thiết lập chương trình nghị sự, đóng khung, hoặc truyền thông can thiệp xã hội sẽ giúp bạn dễ dàng nắm bắt các luận điểm của tác giả.
Lợi ích cụ thể mà độc giả sẽ nhận được:
- Nhà báo: Nâng cao năng lực chuyên môn, sáng tạo ra các thông điệp BĐKH khoa học, hấp dẫn, dễ hiểu, thúc đẩy hành vi tích cực của công chúng.
- Nhà nghiên cứu: Mở rộng hướng nghiên cứu, tiếp cận các phương pháp tiên tiến, đóng góp vào sự phát triển của lĩnh vực báo chí – truyền thông.
- Nhà hoạch định chính sách: Có cơ sở dữ liệu thực tiễn để xây dựng và điều chỉnh chính sách truyền thông BĐKH, tối ưu hóa nguồn lực và đạt hiệu quả cao trong công tác ứng phó.
- Tổ chức phi chính phủ: Phát triển các chiến lược truyền thông cộng đồng mang tính thực tiễn, bền vững và phù hợp với đặc thù vùng ĐBSCL.
Câu hỏi thường gặp
1. Thông điệp về Biến đổi Khí hậu trên báo Đảng ĐBSCL nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án này nghiên cứu thực trạng nội dung và hình thức thông điệp về Biến đổi khí hậu (BĐKH) được chuyển tải trên các báo Đảng địa phương tại Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Cụ thể, tài liệu khảo sát báo An Giang, Cà Mau và Cần Thơ từ năm 2017 đến tháng 6 năm 2019, đồng thời đánh giá mức độ ảnh hưởng của các thông điệp này đến nhận thức, thái độ và hành vi của công chúng trong khu vực.
2. Làm thế nào để nâng cao chất lượng thông điệp BĐKH trên báo Đảng ĐBSCL?
Để nâng cao chất lượng thông điệp, báo Đảng ĐBSCL cần chủ động xây dựng kế hoạch thông tin thường xuyên, không chỉ dựa vào sự kiện. Nội dung cần phân tích sâu hơn về nguyên nhân và các giải pháp "thích nghi", "thích ứng" với BĐKH. Đồng thời, sử dụng ngôn ngữ khoa học nhưng dễ tiếp cận, tránh khô khan, hời hợt, hoặc gây hoang mang, nhằm cung cấp kiến thức thực tế và niềm tin cho công chúng.
3. Tại sao việc truyền thông về BĐKH ở ĐBSCL lại quan trọng?
ĐBSCL là vùng trọng yếu về kinh tế, an ninh lương thực của Việt Nam và là một trong những khu vực dễ bị tổn thương nhất do BĐKH. Truyền thông hiệu quả giúp nâng cao nhận thức đúng đắn của cộng đồng về BĐKH, trang bị kiến thức và kỹ năng để họ chủ động ứng phó, từ đó giảm thiểu thiệt hại và góp phần vào quá trình phát triển bền vững của vùng.
4. Khi nào báo chí nên tập trung thông tin về BĐKH?
Báo chí không nên chỉ thông tin về BĐKH khi có các sự kiện lớn hoặc thiên tai xảy ra. Thay vào đó, cần có kế hoạch thông tin thường xuyên, liên tục và đa dạng về các khía cạnh của BĐKH, từ biểu hiện, nguyên nhân, tác động đến các giải pháp thích ứng và dự báo. Việc gắn BĐKH với đời sống thường nhật của người dân sẽ giúp thông điệp trở nên gần gũi và dễ tiếp nhận hơn.
5. Luận án này có đóng góp gì mới cho lĩnh vực nghiên cứu?
Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên tiếp cận một cách cơ bản và hệ thống thông điệp về BĐKH trên báo Đảng khu vực ĐBSCL. Nó cung cấp cái nhìn toàn diện về thực trạng truyền thông, thái độ tiếp nhận của công chúng và đề xuất các giải pháp cụ thể. Nghiên cứu này không chỉ làm phong phú lý luận về truyền thông BĐKH mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần nâng cao hiệu quả truyền thông của báo Đảng.
Kết luận
Nghiên cứu về "Thông điệp về biến đổi khí hậu trên báo Đảng khu vực Đồng bằng sông Cửu Long" khẳng định BĐKH là thách thức cấp bách, và ĐBSCL là một trong những vùng chịu tổn thương nặng nề nhất. Báo Đảng địa phương, với vai trò trụ cột trong hệ thống truyền thông, có tiềm năng lớn nhưng còn nhiều khoảng trống cần lấp đầy để nâng cao hiệu quả truyền tải thông điệp.
Những điểm chính cần ghi nhớ:
- BĐKH đe dọa trực tiếp đến an ninh lương thực và phát triển bền vững ĐBSCL.
- Báo chí là công cụ then chốt nhưng chất lượng thông điệp BĐKH còn hạn chế, cần cải thiện tính hệ thống, khoa học và dễ hiểu.
- Nghiên cứu cung cấp khung lý thuyết vững chắc và phương pháp tiếp cận đa chiều.
- Kết quả chỉ ra thực trạng và nhu cầu cấp thiết về thông điệp BĐKH trên báo Đảng ĐBSCL.
- Các giải pháp đề xuất tập trung vào nâng cao năng lực nhà báo và điều chỉnh chiến lược truyền thông.
Trong tương lai, cần có thêm các nghiên cứu tiếp theo về thông điệp BĐKH trên các loại hình truyền thông khác (báo mạng, truyền hình, mạng xã hội) ở ĐBSCL, cũng như đánh giá tác động dài hạn của các giải pháp truyền thông đã được đề xuất. Việc nghiên cứu sâu hơn về tâm lý tiếp nhận thông điệp của các nhóm công chúng đa dạng cũng sẽ là hướng đi quan trọng.
Chúng tôi khuyến khích các cơ quan báo chí, nhà hoạch định chính sách và cộng đồng ứng dụng những kết quả và khuyến nghị của luận án này để tối ưu hóa công tác truyền thông BĐKH, góp phần xây dựng một ĐBSCL kiên cường và bền vững. Hãy tải tài liệu đầy đủ để khám phá chi tiết về chiến lược truyền thông BĐKH hiệu quả!
Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộLý do chọn đề tài BĐKH là một trong những thách thức lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ 21. Sự thay đổi một cách bất thường của các xu hướng thời tiết ảnh hưởng tới sản xuất và đời sống, đe dọa đến sức khỏe con người, là nguyên nhân “châm ngòi” cho các xung đột nội bộ và giữa các quốc gia, khu vực…, đồng thời tác động làm gia tăng nhiều nguy cơ khác làm thay đ ổi s ự phát triển của thế giới. Theo ước tính của LHQ, từ nay đến năm 2050, sẽ có khoảng 150 triệu người phải rời bỏ nơi sinh sống do BĐKH gây ra các hiện tượng thời tiết cực đoan; phân nửa động thực vật sẽ đối m ặt v ới nguy c ơ tuyệt chủng nếu nhiệt độ Trái Đất tăng thêm từ 1,1 - 6,4 độ C. Tại Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung c ủa Liên h ợp qu ốc v ề BĐKH (COP26), diễn ra tại Glasgow (Vương quốc Anh) ngày 1/11/2021, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Phạm Minh Chính nhấn mạnh: " Tác động tiêu cực của BĐKH ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh l ương th ực, ngu ồn nước, phát triển bền vững, thậm chí đe dọa sự tồn vong của nhiều quốc gia và cộng đồng dân cư”.
Việt Nam nằm trong số 5 quốc gia chịu ảnh hưởng năng nề nhất của BĐKH. Tác động của BĐKH đã gây nhiều tổn thất to lớn về ng ười, tài s ản, cơ sở hạ tầng, về kinh tế, văn hoá, xã hội, tác động xấu đến môi trường, là nguy cơ hiện hữu cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỷ và sự phát triển bền vững của đất nước. ĐBSCL là một trong 03 đồng bằng trên thế giới dễ bị tổn thương nhất do nước biển dâng. Theo các kịch bản BĐKH, vào cuối thế kỷ 21, nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam tăng khoảng 20 -300 C; mực nước biển có thể dâng cao thêm từ 75 cm đến 1 mét so với thời kỳ 1980 - 1999.
Khi đó, sẽ có khoảng 40% diện tích vùng ĐBSCL bị ngập, 35% dân s ố ch ịu ảnh 1 hưởng xấu do thời tiết phức tạp. Thực tế diễn biến thời ti ết vùng ĐBSCL 10 năm trở lại đây cũng có nhiều dấu hiệu bất thường, tình trạng hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở, ngập úng… trở nên nghiêm trọng hơn; 1,7 tri ệu người đã di cư khỏi ĐBSCL, hơn gấp đôi trung bình cả n ước. Tình tr ạng này tiềm ẩn những nguy cơ lớn đối với quốc gia vì ĐBSCL là vùng địa kinh tế - chính trị, có số dân chiếm gần 18% dân số cả nước với 17 triệu dân, có vị trí trọng yếu về an ninh, quốc phòng, đóng góp khoảng 18% GDP v ới 90% tổng lượng gạo xuất khẩu, gần 60% kim ngạch xuất khẩu thủy sản và 70% sản lượng trái cây của Việt Nam, có vai trò đảm bảo an ninh l ương thực cho cả nước [11][13] [35][75][89]… Với chức năng đặc trưng là cung cấp thông tin, định hướng dư luận xã hội [17], báo chí nói riêng và truyền thông nói chung được nhi ều qu ốc gia và tổ chức thế giới nhìn nhận như một công cụ hữu ích và đ ược t ận dụng tối đa trong việc nâng cao nhận thức về BĐKH cho công chúng, t ạo dựng các diễn đàn thảo luận về giải pháp phù hợp ứng phó với BĐKH đối với từng khu vực và cộng đồng cụ thể. Đây cũng là giải pháp mà Đảng, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam hướng đến nhằm nâng cao nh ận th ức, năng lực thích nghi và ứng phó với BĐKH của cộng đồng.
Bám sát nh ững đ ịnh hướng chỉ đạo đó, báo chí Việt Nam thời gian qua đẩy mạnh thông tin tuyên truyền, phổ biến, giải thích đường lối, chính sách, pháp luật về BĐKH và ứng phó với BĐKH. Những thông điệp mà báo chí chuyển tải đã cung cấp nhiều kiến thức bổ ích giúp người dân, cộng đồng thêm hiểu biết, có niềm tin và cơ sở để từ đó thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn ứng phó với BĐKH [10][31][46]… Mặc dù vậy, những nghiên cứu thực tiễn vừa qua cho th ấy báo chí thông tin về BĐKH vẫn còn những hạn chế nhất định, như: Một số cơ quan báo chí chỉ thông tin về BĐKH khi có các sự kiện, hoạt động lớn về nội dung này chứ chưa chủ động xây dựng kế hoạch thông tin th ường xuyên. Các 2 thông điệp rời rạc, thiếu hệ thống về BĐKH tác động không đủ m ạnh đ ể công chúng nhận ra tầm quan trọng của vấn đề này với đời sống nhân loại để từ đó thay đổi hành vi nhằm giảm thiểu những tác động có hại đến môi trường. Nhiều tác phẩm báo chí khi đề cập đ ến n ội dung BĐKH chú tr ọng mô tả diễn biến, nhấn mạnh tác động tiêu cực mà chưa quan tâm nh ững giải pháp “thích nghi”, “thích ứng” với BĐKH; thông tin nhiều v ề nh ững định hướng, chủ trương chính sách về ứng phó với BĐKH hoặc các hoạt động, phát biểu của lãnh đạo Trung ương, địa phương nhưng lại thi ếu những bài phân tích sâu về nguyên nhân, các giải pháp ứng phó và thích nghi hoặc chưa chủ động cung cấp kiến thức, thông tin cho công chúng, cũng như chưa tổ chức diễn đàn thích ứng và dự báo về vấn đề này.
Ngôn ngữ sử dụng trong nhiều tác phẩm báo chí về lĩnh vực này còn khô khan, khó hiểu thậm chí chưa chính xác. Những hạn chế này tạo nên những thông điệp hời hợt, sai lệch, chưa khoa học về BĐKH khiến công chúng hoảng sợ, lo lắng và bi quan khi tiếp nhận; ảnh hưởng đến m ục tiêu nâng cao nhận thức, hiểu biết và hành động về ứng phó với BĐKH cho công chúng nước nhà [16][31][46][65][93]. Tầm quan trọng của vùng ĐBSCL đối với quốc gia và những nguy cơ, hiểm họa từ tác động tiêu cực của BĐKH mà vùng đất này đang đối mặt đòi hỏi cộng đồng dân cư nơi đây phải nhận thức đúng đắn, có kiến thức và kỹ năng để chủ động ứng phó với tác động tiêu cực của BĐKH một cách hiệu quả. Điều này lệ thuộc rất lớn vào thông điệp mà họ tiếp nhận qua các phương tiện truyền thông, mà gần gũi nhất là báo chí đ ịa ph ương.
Li ệu báo địa phương ĐBSCL có làm tốt chức năng, vai trò định hướng xã h ội trong việc xây dựng và chuyển tải đến công chúng trong khu v ực nh ững thông điệp khoa học, đa dạng, khách quan, dễ hiểu, có h ệ th ống …? Đó là câu hỏi đặt ra cần có những nghiên cứu từ các công trình khoa học cụ thể. 3 Từ những lý do trên, tác giả lựa chọn đề tài “Thông điệp về biến đổi khí hậu trên báo Đảng khu vực đồng bằng sông Cửu Long (Kh ảo sát các báo An Giang, Cà Mau và Cần Thơ từ năm 2017 đ ến tháng 6 năm 2019)” làm đề tài luận án tiến sĩ chuyên ngành Báo chí học. Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu Khi thực tiễn đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc phải đ ẩy m ạnh hi ệu quả thông tin nhằm nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của công chúng trong ứng phó với tác động tiêu cực của BĐKH, báo Đảng khu v ực ĐBSCL đã chuyển tải các thông điệp gì và chuyển tải như thế nào về BĐKH đến công chúng? Mức độ ảnh hưởng của các thông điệp về BĐKH trên báo Đảng ĐBSCL đến công chúng như thế nào? Thông điệp về BĐKH trên báo Đảng khu vực ĐBSCL cần đáp ứng những tiêu chí nào? Là nh ững câu h ỏi nghiên cứu mà Luận án sẽ tập trung kiến giải. Cụ thể, có những vấn đề đặt ra cần quan tâm: Để thích ứng với quá trình BĐKH, các nhà hoạch định chính sách cũng như cư dân trong vùng cần có nhận thức, thái độ và hành vi phù hợp.
Vậy trong quá trình này, báo chí - truyền thông có những vai trò gì? Vai trò này được giới truyền thông khu vực ĐBSCL thể hiện như thế nào qua hoạt động của mình? Trong đó, hệ thống báo Đảng ĐBSCL có thực sự th ể hi ện vai trò trụ cột, nồng cốt của mình trong cung cấp kiến thức, thông tin, đ ể mở mang hiểu biết và thay đổi nhận thức, điều chỉnh thái đ ộ và hành vi công chúng? Nhà báo nói chuyện với công chúng bằng và thông qua thông điệp của mình. Vậy thông điệp về BĐKH trên báo Đảng khu v ực ĐBSCL hiện nay như thế nào và vấn đề này có thể nghiên cứu, tổng kết nó nh ằm tiếp tục nâng cao chất lượng thông điệp, để nâng cao năng lực và hiệu quả tác động của nó đối với khả năng thích ứng với quá trình BĐKH? Chúng tôi cũng nêu ra các giả thuyết nghiên cứu như sau: 4 - Giả thuyết thứ nhất: - BĐKH đã và đang là vấn đề quyết định sự phát triển bền vững của đất nước và khu vực ĐBSCL. Với hệ thống và mạng lưới truyền thông rộng khắp khu vực ĐBSCL, báo Đảng địa phương có vai trò trụ cột, đã có những đóng góp ngày càng tích c ực vào quá trình cung cấp kiến thức, thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi công chúng xã hội và nhân dân nói chung trong khu vực nhằm thích ứng v ới quá trình BĐKH. - Giả thuyết thứ hai: - Thông điệp về BĐKH trên báo Đảng địa phương ĐBSCL đã và đang đạt được những kết quả đáng khích l ệ, và những kết quả này rất cần được tổng kết để rút ra những vấn đề thực tiễn, đề xuất những giải pháp tiếp tục nâng cao chất lượng và năng lực tác động của thông điệp.
- Giả thuyết thứ ba: - Năng lực, kỹ năng thiết kế thông điệp BĐKH của đội ngũ nhà báo của báo Đảng địa phương khu vực ĐBSCL đang được c ải thiện và cần được nghiên cứu, tổng kết để tiếp tục nâng cao chất lượng và năng lực tác động của thông điệp, đáp ứng nhu cầu công chúng bản địa. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Thông điệp BĐKH báo Đảng ĐBSCL: Khảo sát An Giang, Cà Mau, Cần Thơ (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/truyen-thong-bao-chi/ly-luan-bao-chi/thong-diep-bdkh-bao-dang-dbsc-an-giang-ca-mau-can-tho
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Thông điệp BĐKH báo Đảng ĐBSCL: Khảo sát An Giang, Cà Mau, Cần Thơ" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án TS khảo sát, phân tích thông điệp biến đổi khí hậu trên báo Đảng ĐBSCL: An Giang, Cà Mau, Cần Thơ, giai đoạn 2017-06/2019.
Luận án "Thông điệp BĐKH báo Đảng ĐBSCL: Khảo sát An Giang, Cà Mau, Cần Thơ" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Thông điệp BĐKH báo Đảng ĐBSCL: Khảo sát An Giang, Cà Mau, Cần Thơ" thuộc chuyên ngành Báo chí và Truyền thông. Danh mục: Lý Luận Báo Chí.
Luận án "Thông điệp BĐKH báo Đảng ĐBSCL: Khảo sát An Giang, Cà Mau, Cần Thơ" có bao nhiêu trang?
Luận án "Thông điệp BĐKH báo Đảng ĐBSCL: Khảo sát An Giang, Cà Mau, Cần Thơ" có 211 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Thông điệp BĐKH báo Đảng ĐBSCL: Khảo sát An Giang, Cà Mau, Cần Thơ" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.