Luận án đổi mới công tác tuyên truyền của đảng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ở việt nam hiện nay
Luận án nghiên cứu đổi mới công tác tuyên truyền đảng đáp ứng hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả.
Số trang
155
Thời gian đọc
24 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Đổi mới công tác tuyên truyền của Đảng trong thời kỳ mới
- Số trang:
- 155 trang
- Chuyên ngành:
- Chính trị học
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Đổi mới công tác tuyên truyền của Đảng trong thời kỳ mới
Công tác tuyên truyền giữ vai trò nền tảng trong hoạt động của một đảng chính trị cầm quyền. Hoạt động này phục vụ trực tiếp cho mục tiêu giành, giữ và thực thi quyền lực nhà nước. Nhiệm vụ trọng tâm là truyền bá hệ tư tưởng và đường lối cách mạng sâu rộng vào quần chúng nhân dân. Qua đó, lý luận được biến thành hành động thực tiễn sinh động. Trong bối cảnh hiện nay, việc đổi mới công tác tuyên giáo trở thành đòi hỏi khách quan và cấp thiết. Công tác tuyên truyền không chỉ là phương thức truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Hoạt động này còn là phương thức cầm quyền then chốt của Đảng. Đồng thời, tuyên truyền đóng vai trò là một mắt xích trọng yếu trong chu trình chính sách công. Toàn bộ tiến trình từ lập nghị trình, ban hành quyết định, tổ chức thực thi đến đánh giá chính sách đều cần truyền thông định hướng kịp thời.
1.1. Vai trò cốt lõi trong công tác tư tưởng của Đảng
Công tác tuyên truyền là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng của công tác tư tưởng của Đảng. Nhiệm vụ hàng đầu là xây dựng thế giới quan khoa học và củng cố niềm tin chính trị vững chắc cho cán bộ, đảng viên. Công tác này khơi dậy lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần đoàn kết toàn dân tộc. Hoạt động giáo dục lý luận chính trị giúp nâng cao bản lĩnh cho các tầng lớp nhân dân. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh sức mạnh to lớn của mặt trận tuyên truyền. Từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến hai cuộc kháng chiến vĩ đại, tuyên truyền luôn đi trước mở đường. Bước vào thời kỳ đổi mới và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhiệm vụ này càng mang tính quyết định. Đổi mới nội dung tuyên truyền giúp củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
1.2. Đổi mới công tác tuyên giáo gắn với chu trình chính sách
Đổi mới công tác tuyên giáo đòi hỏi sự gắn kết chặt chẽ với từng bước thực hiện chính sách công. Tuyên truyền phải tham gia ngay từ khâu xây dựng nghị trình, lấy ý kiến nhân dân và hoàn thiện dự thảo luật. Trong giai đoạn thực thi, phương thức tuyên truyền của Đảng thời kỳ mới cần giải thích rõ ràng mục tiêu và lợi ích của chính sách. Điều này tạo sự đồng thuận cao trong xã hội và giảm thiểu xung đột xã hội. Ở giai đoạn đánh giá, kênh tuyên truyền tiếp nhận phản hồi từ thực tiễn cơ sở để đề xuất hoàn thiện chính sách. Việc gắn tuyên truyền với chu trình chính sách giúp các chủ trương của Đảng nhanh chóng đi vào đời sống. Mối liên kết này biến nhận thức lý luận thành hành động cụ thể, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
II. Đổi mới công tác tuyên truyền của Đảng đáp ứng hội nhập
Tiến trình hội nhập quốc tế mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra vô số thách thức đối với công tác tư tưởng. Quá trình này đòi hỏi sự đổi mới công tác tuyên truyền của Đảng một cách toàn diện và sâu sắc. Môi trường thông tin toàn cầu biến đổi nhanh chóng với lượng dữ liệu khổng lồ. Nhận thức của cán bộ, đảng viên và người dân ngày càng được nâng cao. Nhu cầu tiếp cận thông tin đa chiều, chính xác và kịp thời gia tăng mạnh mẽ. Thực tế cho thấy công tác tuyên truyền về hội nhập quốc tế đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn bộc lộ những hạn chế nhất định. Việc thiếu cập nhật thông tin và tính chủ động chưa cao làm giảm sức hấp dẫn của các thông điệp chính trị.
2.1. Thách thức thông tin và định hướng dư luận xã hội
Công tác định hướng dư luận xã hội trong thời kỳ mở cửa đang đối mặt với sức ép rất lớn. Luồng thông tin trái chiều và tin giả lan truyền với tốc độ chóng mặt trên không gian mạng. Khả năng phản ứng và định hướng thông tin chính thống đôi lúc còn chậm trễ. Tình trạng để khoảng trống thông tin tạo điều kiện cho các quan điểm sai lệch phát tán. Điều này tác động tiêu cực đến tâm tư, tình cảm và nhận thức của một bộ phận quần chúng. Hoạt động tuyên truyền miệng và báo cáo viên ở một số cơ sở chưa phát huy hết hiệu quả định hướng. Việc nắm bắt diễn biến tư tưởng nhân dân chưa thật sự kịp thời và nhạy bén. Đổi mới cách tiếp cận thông tin là yêu cầu sống còn nhằm ổn định tình hình chính trị - xã hội.
2.2. Hạn chế về phương pháp và tính chủ động truyền thông
Phương thức truyền thông trước đây chủ yếu mang tính áp đặt một chiều, giáo điều và nặng về hình thức. Hoạt động tuyên truyền còn thiếu các hình thức đối thoại cởi mở và tranh luận dân chủ. Đội ngũ cán bộ làm công tác tư tưởng ở một số nơi còn hạn chế về kỹ năng đối thoại và trình độ công nghệ. Nội dung truyền đạt chưa sắc bén, thiếu sức thuyết phục đối với thế hệ trẻ. Cơ sở vật chất và phương tiện kỹ thuật phục vụ tuyên truyền ở nhiều cấp còn thiếu thốn và lạc hậu. Trong khi đó, các thế lực thù địch liên tục thay đổi thủ đoạn chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. Công tác đấu tranh phản bác quan điểm sai trái thù địch vẫn còn lúng túng, bị động và chưa thu hút được đông đảo quần chúng tham gia.
III. Đột phá đổi mới công tác tuyên truyền của Đảng hiện nay
Sự bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm thay đổi sâu sắc phương thức truyền nhận thông tin. Yêu cầu đổi mới công tác tuyên truyền của Đảng trong kỷ nguyên số trở nên cấp bách hơn bao giờ hết. Đảng cần tận dụng tối đa các thành tựu khoa học công nghệ để lan tỏa chủ trương, đường lối cách mạng. Việc chuyển đổi mô hình tuyên truyền từ truyền thống sang đa phương tiện là xu thế tất yếu. Phương thức mới phải đảm bảo tính tương tác cao, hấp dẫn và đến đúng đối tượng tiếp nhận. Đồng thời, phạm vi tuyên truyền không chỉ giới hạn trong nước mà cần mở rộng ra cộng đồng quốc tế. Đây là chìa khóa để bảo vệ chủ quyền tư tưởng quốc gia và quảng bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới.
3.1. Chuyển đổi số trong công tác tuyên truyền hiện đại
Chuyển đổi số trong công tác tuyên truyền là bước đột phá mang tính chiến lược. Các cơ quan tuyên giáo cần đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và điện toán đám mây vào phân tích dư luận. Việc số hóa toàn bộ kho tư liệu giáo dục lý luận chính trị giúp việc tiếp cận kiến thức trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn. Các sản phẩm tuyên truyền cần được hiện đại hóa dưới dạng đồ họa thông tin (infographic), video ngắn và podcast chuyên đề. Những định dạng này phù hợp với thị hiếu tiếp nhận của công chúng hiện đại, đặc biệt là đoàn viên thanh niên. Hạ tầng kỹ thuật số hiện đại giúp thông tin chính thống được truyền tải tức thì, chính xác và đồng bộ từ trung ương đến cơ sở.
3.2. Đẩy mạnh tuyên truyền qua mạng xã hội và không gian mạng
Môi trường Internet là mặt trận tư tưởng trọng yếu cần được làm chủ và phủ sóng thông tin tích cực. Tuyên truyền qua mạng xã hội và không gian mạng giúp mở rộng phạm vi tiếp cận công chúng theo cấp số nhân. Các trang tin, fanpage và kênh truyền thông chính thống cần hoạt động chuyên nghiệp, linh hoạt và chủ động. Việc chia sẻ những câu chuyện người tốt, việc tốt và thành tựu đất nước tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng. Đây cũng là phương tiện đắc lực phục vụ nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên không gian số. Việc xây dựng lực lượng nòng cốt tham gia tương tác, giải thích chính sách trên mạng xã hội giúp hóa giải kịp thời các luồng thông tin độc hại.
IV. Giải pháp đổi mới công tác tuyên truyền của Đảng sâu rộng
Để thực hiện thành công các mục tiêu chiến lược, cần triển khai đồng bộ hệ thống giải pháp đổi mới công tác tuyên giáo. Trọng tâm là hoàn thiện tổ chức bộ máy tinh gọn, chuyên nghiệp và hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Phương thức tuyên truyền của Đảng thời kỳ mới phải kết hợp nhuần nhuyễn giữa truyền thống và hiện đại. Nội dung thông tin cần bảo đảm tính trung thực, khách quan, giàu sức thuyết phục và bám sát hơi thở cuộc sống. Việc đầu tư cơ sở vật chất, công nghệ kỹ thuật phục vụ công tác tuyên truyền cần được ưu tiên thích đáng. Xây dựng chiến lược truyền thông chủ động giúp giữ vững vai trò chủ đạo của hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa trong toàn xã hội.
4.1. Nâng cao chất lượng tuyên truyền miệng và báo cáo viên
Tuyên truyền miệng và báo cáo viên vẫn là kênh truyền thông trực tiếp có sức lan tỏa và tính thuyết phục sâu sắc. Cần chuẩn hóa tiêu chuẩn, bồi dưỡng kỹ năng và nâng cao bản lĩnh chính trị cho đội ngũ báo cáo viên các cấp. Báo cáo viên phải nắm vững kiến thức giáo dục lý luận chính trị và am hiểu tình hình thời sự trong nước, quốc tế. Phương pháp báo cáo cần chuyển mạnh từ thuyết trình một chiều sang đối thoại, trao đổi dân chủ và giải đáp thẳng thắn thắc mắc của quần chúng. Đội ngũ tuyên truyền viên cơ sở cần bám sát địa bàn, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Sự gắn bó mật thiết này giúp củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.
4.2. Đấu tranh phản bác quan điểm sai trái thù địch hiệu quả
Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ sống còn của toàn bộ hệ thống chính trị. Cần tổ chức lực lượng chuyên trách sắc bén để đấu tranh phản bác quan điểm sai trái thù địch trên mọi mặt trận. Các bài viết phê phán, vạch trần âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch phải có lập luận chặt chẽ, dẫn chứng xác thực và tính khoa học cao. Cần kết hợp chặt chẽ giữa biện pháp kỹ thuật ngăn chặn thông tin độc hại với công tác tuyên truyền giáo dục thuyết phục. Đồng thời, huy động sức mạnh tổng hợp của các cơ quan báo chí, truyền thông và các tầng lớp nhân dân cùng tham gia bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (155 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộTính cấp thiết của đề tài Công tác tuyên truyền (CTTT), từ góc độ của khoa học chính trị, nhất là chính trị học, là hình thức hoạt động quan trọng và cần thiết của một đảng chính trị nhằm thực hiện nhiệm vụ giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước. Đó là do CTTT - một bộ phận cấu thành quan trọng của công tác tư tưởng - có nhiệm vụ truyền bá hệ tư tưởng và đường lối cách mạng trong quần chúng; xây dựng thế giới quan, niềm tin chính trị, tập hợp và cổ vũ quần chúng hoạt động cách mạng. Vai trò của CTTT là làm cho lý luận thâm nhập sâu vào quần chúng, tạo nên sự thống nhất giữa tư tưởng và hành động và thông qua đó biến lý luận thành thực tiễn. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, CTTT của Đảng không chỉ phương thức truyền bá hệ tư tưởng chính trị, làm cho hệ tư tưởng của giai cấp công nhân trở thành hệ tư tưởng chủ đạo trong đời sống tinh thần của xã hội; mà còn trở thành phương thức cầm quyền của Đảng - tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước.
Hơn nữa, CTTT của Đảng còn trở thành một nội dung, một mắt khâu quan trọng của chu trình chính sách công - từ nghị trình chính sách đến quyết định, thực thi và đánh giá chính sách. Trong sự nghiệp cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đây gọi tắt là Đảng) và dân tộc ta, CTTT trở thành công tác cách mạng và là công tác cách mạng đầu tiên của của Đảng. CTTT có vai trò hết sức to lớn trong việc truyền bá, phổ biến hệ tư tưởng cách mạng trong xã hội, trước hết là trong các lực lượng xã hội tiên tiến, khơi dậy tinh thần yêu nước, tính sáng tạo của quần chúng, động viên lực lượng quần chúng tham gia sự nghiệp cách mạng. CTTTcủa Đảng đã cổ vũ toàn dân tộc theo Đảng, làm nên Cách mạng Tháng Tám, lập nên Nhà nước dân chủ cộng hòa, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.
2 Sau khi giành được chính quyền và trở thành đảng cầm quyền, CTTT trở thành một trong những phương thức cầm quyền của Đảng, đóng góp to lớn vào việc xây dựng chính quyền và các đoàn thể nhân dân đáp ứng các yêu cầu và nhiệm vụ cách mạng. Trong thời kỳ đổi mới, CTTT của Đảng đã có nhiều đổi mới, ngày càng trở thành bộ phận quan trọng trong công tác tư tưởng của Đảng nhằm truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, góp phần vào việc phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) và hội nhập quốc tế (HNQT). Trong mối quan hệ giữa CTTT của Đảng và HNQT, với tính cách là trường hợp nghiên cứu hay đối tượng nghiên cứu của luận án này, có thể thấy CTTT của Đảng đã có những đóng góp quan trọng vào quá trình và HNQT ở nước ta. CTTT của Đảng về HNQT đã tích lũy được những bài học kinh nghiệm bước đầu quý báu, làm cơ sở cho việc tiếp tục hoàn thành chức năng, nhiệm vụ tuyên truyền đáp ứng yêu cầu của HNQT ở nước ta hiện nay và những năm tới.
Tuy nhiên, CTTT Đảng trong điều kiện HNQT cũng bộc lộ nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Về khách quan, đó là những khó khăn của tình hình kinh tế - xã hội, điểm xuất phát thấp của đất nước khi tham gia HNQT, sự biến động phức tạp của tình hình thế giới. Về chủ quan, CTTT của Đảng về HNQT còn ít sức hấp dẫn, chưa cập nhật, chưa chủ động. Phương pháp CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT cơ bản vẫn một chiều, còn biểu hiện chủ quan, giáo điều, hình thức, ít đối thoại, tranh luận, thảo luận dân chủ.
Việc định hướng thông tin còn chậm, để có thông tin không chính thống, thông tin xấu lan tràn nhanh rộng trong xã hội, tác động không tốt đến tư tưởng của cán bộ và nhân dân. Việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái còn bị động, nội dung chưa sắc bén, chưa kịp thời thu hút 3 được đông đảo các lực lượng xã hội tham gia. Phạm vi tác động của CTTT của Đảng còn hạn hẹp, phương tiện thông tin còn thiếu thốn và lạc hậu. Tổ chức bộ máy CTTT của Đảng chưa tinh gọn, thiếu tính chuyên nghiệp.
Đội ngũ cán bộ làm CTTT của Đảng còn nhiều hạn chế về năng lực và trách nhiệm, trình độ công nghệ thông tin còn hạn chế. Công tác tuyên truyền của Đảng còn những bất cập nhất định như trình độ nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân ngày càng cao; yêu cầu và mức độ cập nhật thông tin của cán bộ đảng viên và nhân dân ngày càng nhanh chóng và đa chiều; chủ thể và đối tượng của CTTT của Đảng ngày càng đa dạng và phức tạp; phạm vi và giới hạn của CTTT của Đảng ngày càng rộng rãi, không chỉ tuyên truyền ở trong nước mà còn tuyên truyền ra với thế giới. Thực hiện chủ trương của Đại hội IX về chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 27/11/2001 của Bộ Chính trị (khóa IX) về hội nhập kinh tế quốc tế; chủ trương của Đại hội X về chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực khác và Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa X) ngày 05/02/2007 về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới; chủ trương của Đại hội XI về HNQT, Nghị quyết Bộ Chính trị (Khóa XI) ngày 10/4/2013 về HNQT, đã đánh giá những thành tựu, hạn chế và vấn đề đặt ra đối với quá trình HNQT, trong đó có CTTT của Đảng. Nghị quyết Bộ Chính trị (Khóa XI) ngày 10/4/2013 về HNQT xác định: "Tuyên truyền sâu rộng trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân về yêu cầu hội nhập quốc tế, về các cơ hội và thách thức, về phương hướng, nhiệm vụ trọng yếu của hội nhập quốc tế trong từng ngành, từng lĩnh vực, để thống nhất nhận thức và hành động, tạo nên sức mạnh tổng hợp trong quá trình hội nhập quốc tế" [35] là một trong những định hướng chỉ yếu của HNQT ở nước ta hiện nay.
Theo đó, CTTT của Đảng cần phải được đổi mới về vị trí 4 và chức năng, nội dung và hình thức, phương pháp và phương tiện, tổ chức bộ máy và cán bộ. Công cuộc đổi mới nói chung, HNQT nói riêng đang đặt ra cho CTTT của Đảng những yêu cầu mới - dân chủ,khách quan, kịp thời, chủ động, đa chiều,. CTTT của Đảng không chỉ là sự thuyết phục bằng lý luận mà còn phải được chứng minh bằng thực tiễn sinh động. Nếu trước kia chỉ cần coi trọng một mặt “Đảng nói, dân tin”, nhưng ngày nay phải chú trọng hơn mặt thứ hai “Đảng làm, dân theo”, “Dân nói, Đảng nghe”.
Xuất phát từ những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn vấn đề: “Đổi mới công tác tuyên truyền của Đảng đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài Luận án tiến sĩ Chính trị học của mình. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận về đổi mới CTTT của Đảng. Luận án phân tích thực trạng và đề xuất nhằm đổi mới CTTT của Đảng đáp ứng được yêu cầu của HNQT ở Việt Nam hiện nay góp phần cho hội nhập thành công.
Nhiệm vụ nghiên cứu Tổng quan hình hình nghiên cứu có liên quan: - Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận cần thiết, có liên quan về CTTT của Đảng và CTTT của Đảng trước yêu cầu của HNQT của Việt Nam hiện nay. - Làm rõ thực trạng (kết quả, hạn chế, nguyên nhân, kinh nghiệm và vấn đề đặt ra) của CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT ở Việt Nam hiện nay. - Đề ra những quan điểm và giải pháp nhằm đổi mới CTTT của Đảng đáp ứng yêu cầu của HNQT ở Việt Nam hiện nay. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.
Đối tượng và khách thể nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận án là CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT ở Việt Nam hiện nay và những vấn đề đổi mới CTTT của Đảng nhằm đáp ứng yêu cầu của HNQT ở Việt Nam hiện nay. 5 Khách thể nghiên cứu của luận án là các văn kiện của Đảng và Nhà nước có liên quan; các báo cáo thực tế của các cơ quan có liên quan; nghiên cứu, tham khảo các tài liệu thứ cấp khác. Phạm vi nghiên cứu - Về góc độ tiếp cận nghiên cứu, CTTT của Đảng được nghiên cứu dưới góc độ chính trị học, với tính cách một phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền của Đảng ở Việt Nam hiện nay. - Về thời gian luận án nghiên cứu, CTTT của Đảng trong quá trình HNQT từ năm 2007 (khi Việt Nam gia nhập WTO) cho đến 2015.
- Về không gian, luận án tập trung khảo sát, nghiên cứu ở Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng, một số bộ, ngành, đoàn thể, báo, đài ở Trung ương; Ban Tuyên giáo một số tỉnh, thành phố mang tính đại diện cho các vùng, miền trong cả nước. - Về nội dung nghiên cứu, luận án nghiên cứu các hoạt động nội dung của CTTT của Đảng trên các lĩnh vực về chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh quốc phòng (ANQP) đối ngoại. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 4. Cơ sở lý luận Luận án được nghiên cứu trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng về CTTT của Đảng.
Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp luận nghiên cứu của luận án là chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. - Các phương pháp công cụ cho việc nghiên cứu của luận án là phân tích, tổng hợp, lịch sử, lô gíc, so sánh và các phương pháp khác. Những đóng góp về khoa học Thứ nhất, bổ sung và phát triển một số vấn đề lý luận về CTTT và đổi mới CTTT của Đảng trong điều kiện HNQT ở Việt Nam hiện nay từ góc độ chính trị học. 6 Thứ hai, làm rõ nội hàm của khái niệm CTTT của Đảng với tính cách một phương thức cầm quyền của Đảng và những đặc điểm của nó.
Thứ ba, làm rõ những yêu cầu của HNQT đối với CTTT của Đảng ở Việt Nam hiện nay.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Luận án đổi mới công tác tuyên truyền của đảng (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/truyen-thong-bao-chi/ly-luan-bao-chi/luan-an-doi-moi-cong-tac-tuyen-truyen-cua-dang-dap-ung-yeu-cau-hoi-nhap-quoc-te
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Luận án đổi mới công tác tuyên truyền của đảng" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án nghiên cứu đổi mới công tác tuyên truyền đảng đáp ứng hội nhập quốc tế ở Việt Nam hiện nay, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả.
Luận án "Luận án đổi mới công tác tuyên truyền của đảng" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Luận án đổi mới công tác tuyên truyền của đảng" thuộc chuyên ngành Chính trị học. Danh mục: Lý Luận Báo Chí.
Luận án "Luận án đổi mới công tác tuyên truyền của đảng" có bao nhiêu trang?
Luận án "Luận án đổi mới công tác tuyên truyền của đảng" có 155 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Luận án đổi mới công tác tuyên truyền của đảng" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.