Tổng quan về luận án

Công trình nghiên cứu tiến sĩ chuyên ngành Hán Nôm (Mã số: 922 01 04) của nghiên cứu sinh Ye Shao Fei (Nguyễn Kim Măng) dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS. Đinh Khắc Thuân và PGS.TS. Nguyễn Tuấn Cường tại Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (2022) mang tiêu đề: "Nghiên cứu phương pháp viết sử của sử gia Việt Nam qua bộ quốc sử thời Lê Đại Việt sử ký Toàn thư". Luận án giải quyết khoảng trống học thuật then chốt (research gap) tồn tại hơn một thế kỷ trong giới nghiên cứu Đông Á học: sự thiếu vắng một nghiên cứu liên ngành toàn diện kết hợp giữa Văn bản học (Codicology/Bibliography), Văn hiến học Hán Nôm và Lịch sử sử học (Historiography) nhằm giải mã cấu trúc đa tầng văn bản và sự biến chuyển hệ tư tưởng sử học trong quá trình biên soạn kéo dài hơn 400 năm (1272–1697) của bộ quốc sử vĩ đại nhất Việt Nam thời trung đại – Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT).

Nhiệm vụ nghiên cứu được cụ thể hóa qua 4 câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học cốt lõi:

  1. Câu hỏi nghiên cứu 1 (RQ1): Bản in "Nội các quan bản" (NCQB) niên hiệu Chính Hòa thứ 18 (1697) lưu trữ tại Hội Á Châu (Société Asiatique, Paris, ký hiệu SA.PD 2310) có phải là một văn bản thuần nhất hay là sự tích hợp của các đợt khắc in ván gỗ khác nhau trong lịch sử? Giả thuyết (H1): Bản Démiville thực chất là một chỉnh thể phức hợp tạo thành từ hai hệ thống bản khắc in độc lập ("bản ĐVSKTT" và "bản Việt sử").
  2. Câu hỏi nghiên cứu 2 (RQ2): Cấu trúc phân quyển và hình thức biên soạn của ĐVSKTT đã chuyển dịch như thế nào qua các giai đoạn Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên, Phạm Công Trứ và Lê Hy? Giả thuyết (H2): Có sự tương tác phức tạp giữa thể Biên niên (Annalistic), thể Kỷ truyện (Biographical-thematic) và thể Cương mục (Gangmu) dưới tác động của bối cảnh chính trị từng thời kỳ.
  3. Câu hỏi nghiên cứu 3 (RQ3): Hệ hình tư tưởng sử học (Historiographical paradigms) của các sử gia Việt Nam chịu ảnh hưởng và cải biến ra sao từ các mô hình kinh điển Trung Hoa? Giả thuyết (H3): Các sử gia Đại Việt đã tiếp biến có phê phán các lý thuyết của Tư Mã Thiên (Sử ký), Tư Mã Quang (Tư trị thông giám), Chu Hi (Tư trị thông giám cương mục) và Lưu Tri Cơ (Sử thông) nhằm xây dựng ý thức hệ chính thống và tinh thần độc lập dân tộc.
  4. Câu hỏi nghiên cứu 4 (RQ4): Tính kế thừa và xung đột quan điểm giữa các nhóm sử gia (thời Trần, Lê sơ, Lê Trung hưng) được phản ánh cụ thể qua sử bút, sử luận và hệ thống "phàm lệ" như thế nào? Giả thuyết (H4): Sự chuyển dịch từ Nho - Phật dung hợp thời Trần sang Nho giáo độc tôn thời Lê sơ và Nho giáo thực dụng thời Lê - Trịnh đã định hình trực tiếp phương pháp đánh giá nhân vật và sự kiện lịch sử.

Khung lý thuyết của luận án tích hợp phương pháp luận sử học hiện đại của Hà Văn Tấn (1981) với lý luận phê bình văn bản học phương Đông. Phạm vi khảo sát bao quát 20 truyền bản ĐVSKTT hiện vật tại Việt Nam (6 bản: 5 bản tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm gồm VHv.2330-2336, A.3/4, A.2694, VHv.179, VHv.1499; 1 bản tại Thư viện Quốc gia Việt Nam R.1), Pháp (7 bản tại Thư viện Quốc gia Pháp và Hội Á Châu) và Nhật Bản (7 bản tại Đại học Keio, Đại học Tenri, Đại học Tokyo). Tác động khoa học của luận án thể hiện ở việc tái lập niên biểu hình thành văn bản, đính chính các nhận định ngộ nhận suốt nhiều thập kỷ về niên đại bản in Chính Hòa, đồng thời định danh tường minh quy chuẩn "Đại thư" (chữ lớn) và "Phân chú" (chú thích hai hàng) trong thi pháp biên soạn quốc sử.

[1272: Lê Văn Hưu - Đại Việt sử ký (30 quyển)] 
       ↓ (Kế thừa & Nho hóa)
[1445: Phan Phu Tiên - Sử ký tục biên (10 quyển)] 
       ↓ (Mở rộng cội nguồn Hồng Bàng)
[1479: Ngô Sĩ Liên - ĐVSKTT (15 quyển: Ngoại kỷ & Bản kỷ)] 
       ↓ (Tái cấu trúc & Thêm Bản kỷ Thực lục/Tục biên)
[1665: Phạm Công Trứ - ĐVSKTT (23 quyển)] 
       ↓ (San định Thượng/Hạ & Khắc in Chính Hòa)
[1697: Lê Hy - ĐVSKTT Nội các quan bản (24 quyển)]

Literature Review và Positioning

Lịch sử nghiên cứu ĐVSKTT trải dài qua hơn một thế kỷ với nhiều luồng quan điểm học thuật quốc tế và trong nước:

           TIẾP CẬN VĂN THƯ & THƯ TỊCH HỌC
   (L. Cadière & P. Pelliot 1904; E. Gaspardone 1934; 
    Phùng Thừa Quân 1932; Trần Văn Giáp 1936, 1970)
                      │
                      ▼
 ┌─────────────────────────────────────────────────────────┐
 │               TRANH LUẬN VỀ BẢN NỘI CÁC QUAN BẢN        │
 ├────────────────────────────┬────────────────────────────┤
 │  Trường phái Xác thực      │  Trường phái Phản biện     │
 │  (Phan Huy Lê 1983, 1988;  │  (Trần Kinh Hòa 1977-1986; │
 │   Ngô Thế Long 1988)       │   Bùi Thiết 1999;          │
 │  → Bản in chuẩn 1697 thời  │   A. Fedorin 2008, 2011)   │
 │    Lê - Trịnh              │  → Khắc muộn TK 18 hoặc    │
 │                            │    nhà Nguyễn (Tự Đức)     │
 └────────────────────────────┴────────────────────────────┘
                      │
                      ▼
       TIẾP BẬC TƯ TƯỞNG & PHƯƠNG PHÁP BIÊN SOẠN
 (O.W. Wolters 1979; Phan Đại Doãn 1998; Hoàng Văn Lâu 1999;
  Yu InSun 2006; Văn Tạo 2008; Ye Shao Fei 2022 [Luận án])
  1. Luồng Thư mục học và Khảo chứng văn bản sơ kỳ: Khởi đầu với công trình tiên phong của Léopold Cadière và Paul Pelliot (1904) trong "Première étude sur les sources annamites de l'histoire d'Annam", đặt nền móng phân loại nguồn sử liệu Việt Nam; tiếp nối bởi Emile Gaspardone (1934) với "Bibliographie Annamite", khảo sát toàn diện tiến trình từ Đại Việt sử ký đến Đại Việt sử ký tiền biên. Tại Việt Nam, Trần Văn Giáp (1964, 1970) xuất bản công trình đồ sộ Tìm hiểu kho sách Hán Nôm, xác lập quy mô 15 quyển nguyên thủy của Ngô Sĩ Liên và 24 quyển bản khắc in 1697.
  2. Tranh biện quốc tế về Niên đại và Bản chất bản Nội các quan bản: Cuộc tranh luận khoa học đỉnh điểm diễn ra xoay quanh bản in mang dòng chữ "Nội các quan bản" do Phan Huy Lê phát hiện tại Hội Á Châu (Paris) năm 1983. Phan Huy Lê (1983, 1988) cùng các cộng sự tại Hội thảo khoa học 1988 khẳng định NCQB là bản in cổ thuộc hệ thống khắc in năm Chính Hòa 18 (1697) thời Lê - Trịnh, căn cứ trên việc kiêng húy và tổ chức cơ quan văn thư. Đối lập trực tiếp với quan điểm này:
    • Trần Kinh Hòa (Chen Ching-ho, 1977, 1984–1986) trong công trình Hiệu hợp bản ĐVSKTT tại Đại học Tokyo nhận định bản Démiville không phải nguyên bản Chính Hòa 1697 do sự thiếu vắng nghiêm ngặt của chữ húy vua Lê - chúa Trịnh và thể thức khắc chữ không đồng nhất.
    • Bùi Thiết (1999) trong Đối thoại sử học lập luận cơ quan "Nội các" chỉ xuất hiện ở triều Nguyễn, từ đó suy đoán bản NCQB do Sử quán triều Nguyễn khắc in vào năm Tự Đức thứ 9 (1856).
    • Nhà Nga học A. Fedorin (2008, 2011) trong Những cứ liệu mới về việc viết sử Việt Nam sử dụng phương pháp định lượng hình thức để đưa ra giả thuyết táo bạo: NCQB do nhóm Ngô Thì Sĩ và Phạm Nguyễn Du biên soạn vào thế kỷ 18 như một cuốn sách giáo khoa và khắc chữ "Nội các quan bản" để tạo uy danh học thuật.
  3. Nghiên cứu Tư tưởng sử học và Thi pháp biên khảo: O.W. Wolters (1979) phân tích bối cảnh Nho giáo thời Trần tác động đến ngòi bút Lê Văn Hưu; Phan Đại Doãn (1998) trong cụm công trình kỷ niệm 300 năm khắc in ĐVSKTT đã phân tích "Mấy khía cạnh triết học lịch sử của Ngô Sĩ Liên", đối sánh với Sử ký của Tư Mã Thiên; Yu InSun (2006) đối chiếu quan điểm chính thống giữa Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên; Hoàng Văn Lâu (1999) nhận diện sáng tạo độc đáo của lối viết "Truyện" lồng trong thể biên niên.

Vị thế và đóng góp vượt trội của luận án: Luận án của Ye Shao Fei đứng ở trung tâm giải tỏa các mâu thuẫn học thuật nói trên. Không dừng lại ở việc quy kết một chiều niên đại, luận án tiến hành giải phẫu vi mô cấu trúc bản khắc gỗ (mộc bản), phân tích sự đối lập ở bản tâm (Heart of the block), quyển thủ và quyển vĩ, từ đó xác lập một mô hình phân kỳ văn bản mới: NCQB là sự dung hợp hiện vật giữa mộc bản gốc thời Lê và các đợt khắc bổ sung/trùng khắc thời Lê Trung hưng, bác bỏ hoàn toàn luận điểm quy gán đơn giản cho thời Nguyễn của Bùi Thiết và làm sáng tỏ những điểm mâu thuẫn mà Trần Kinh Hòa và Fedorin chưa lý giải trọn vẹn.


Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án tạo ra bước tiến quan trọng trong việc hệ thống hóa lý luận sử học cổ trung đại Việt Nam thông qua 4 đóng góp lý thuyết căn bản:

  1. Mở rộng lý thuyết Tiếp biến Thể tài Sử học (Genre Acculturation Theory): Chứng minh các sử gia Việt Nam không sao chép thụ động các thể loại sử học truyền thống Trung Hoa (Biên niên, Kỷ truyện, Cương mục) mà thực hiện một cuộc tích hợp thể tài mang tính cấu trúc (Structural Genre Synthesis). Ngô Sĩ Liên đã lồng ghép thể Kỷ truyện vào khung Biên niên; Phạm Công Trứ và Lê Hy tiếp tục đưa thể Cương mục của Chu Hi vào cơ chế phân cấp văn bản.
  2. Tái định nghĩa Quy luật Chính thống và Thiên mệnh (Legitimacy and Mandate Paradigm): Làm rõ cơ chế sử dụng ngòi bút sử học như một công cụ quyền lực chính trị. Việc đưa thời đại Hồng Bàng – Hùng Vương vào "Ngoại kỷ quyển 1" của Ngô Sĩ Liên phản ánh bước chuyển hệ hình tư tưởng: kiến tạo một nguồn gốc độc lập, tự chủ ngang hàng với Tam Hoàng Ngũ Đế của văn minh Hoa Hạ, chuyển hóa tư tưởng "Nho đạo vi Sử đạo".
  3. Phát triển Lý thuyết Lớp trầm tích văn bản (Textual Stratification Theory): Khái quát hóa quá trình biên soạn sách sử nhiều thời kỳ như một cấu trúc địa tầng văn bản. Mỗi thời đại (Trần, Lê sơ, Lê Trung hưng) đều chồng xếp các lớp ý thức hệ và chủ đích chính trị riêng lên cùng một chỉnh thể văn bản mà không triệt tiêu hoàn toàn dấu vết của văn bản tiền nhiệm.
  4. Mô hình hóa Thi pháp Sử luận (Historiographical Commentary Framework): Định lượng hóa chức năng của các đoạn "Sử quan viết", "Lê Văn Hưu viết", "Phan Phu Tiên viết", "Ngô Sĩ Liên viết". Lời bình sử không chỉ đóng vai trò đạo đức học (khen chê - bao biếm) mà là không gian thực hiện diễn ngôn triết học lịch sử và xác lập chuẩn mực cai trị quốc gia.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án kết hợp đa chiều giữa 3 hệ thống lý thuyết kinh điển:

  • Lý thuyết Tam tài Sử học của Lưu Tri Cơ (Sử thông): Sử tài (khả năng diễn đạt, hành văn), Sử học (tri thức, nguồn sử liệu phong phú), và Sử thức (quan điểm, nhận thức lịch sử trung trực, tinh thần "trực bút").
  • Lý thuyết Biên niên - Chính thống của Tư Mã Quang và Chu Hi: Cấu trúc phân dòng "Đại thư" (chữ khắc lớn dành cho niên hiệu, sự kiện chính thống) và "Phân chú" (chữ khắc nhỏ chia hai hàng dành cho thế lực tiếm ngụy, niên hiệu phương Bắc hoặc chú thích chi tiết).
  • Hệ thống Phương pháp luận Sử học hiện đại: Vận dụng lý thuyết phê bình văn bản lịch sử để giám định ngoại văn bản (mộc bản, chất liệu giấy, chữ húy, ấn chương) và nội văn bản (cấu trúc thiên chương, ngữ pháp Hán văn, diễn biến tư tưởng).
Thành phần khung phân tích Khái niệm thao tác Phạm vi áp dụng trong ĐVSKTT Điều kiện biên (Boundary Conditions)
Cấu trúc Thể tài Ngoại kỷ, Bản kỷ, Thực lục, Tục biên Quyển 1–5 (Ngoại kỷ), Quyển 6–19 (Bản kỷ & Tục biên) Áp dụng cho các thể loại quốc sử quan phương biên niên
Thi pháp Bản tâm Bản tâm thượng, Bản tâm trung, Quyển vĩ 24 quyển của bản in NCQB và bản VHv.2330-2336 Giới hạn trong kỹ thuật in khắc mộc bản Hán Nôm
Cơ chế Cương mục Đại thư (大書), Phân chú (分注) Phần chép về nhà Mạc, chúa Trịnh và quan hệ Bắc triều Các văn bản chịu ảnh hưởng của Tống Nho
Hệ thống Sử luận Lời bình của 4 sử gia chính Toàn bộ 165+ đoạn bình luận trực tiếp Bối cảnh tư tưởng từ thế kỷ XIII đến XVII

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu vận dụng lập trường Triết học Hiện thực Phê phán (Critical Realism) kết hợp phương pháp luận Giải thích học Văn bản (Textual Hermeneutics). Thiết kế nghiên cứu đa tầng kết hợp phân tích định tính chuyên sâu với giám định vật thể học văn bản:

  • Cấp độ vĩ mô (Macro-level): Khảo sát bối cảnh chính trị - xã hội và ý thức hệ của các triều đại Trần, Lê sơ, Mạc, Lê Trung hưng tác động đến Quốc sử quán và Viện Hàn lâm.
  • Cấp độ trung mô (Meso-level): So sánh đối chiếu liên văn bản (Intertextuality) giữa ĐVSKTT với các bộ sử liên quan: Đại Việt sử lược (Việt sử lược), An Nam chí lược, Nam Ông mộng lục, Đại Việt thông sử, Khâm định Việt sử thông giám cương mục.
  • Cấp độ vi mô (Micro-level): Khảo sát từng đơn vị bản khắc mộc bản: vết khoét chữ, chữ kiêng húy, dị thể chữ Nôm (tục tự), tên thợ khắc chữ, dòng ghi biên bản tâm (Folio headers).

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình nghiên cứu bao gồm 4 bước kỹ thuật chuẩn hóa nghiêm ngặt:

  1. Thu thập và Hệ thống hóa Truyền bản: Khảo sát toàn bộ 20 bản in và chép tay ĐVSKTT tại các trung tâm lưu trữ quốc tế.
  2. Khảo chứng Văn bản học (Textual Criticism):
    • Giám định học thuật bản nền SA.PD 2310 của Paul Démiville (Hội Á Châu, Paris) đối chiếu trực tiếp với bản VHv.2330-2336 (Viện Nghiên cứu Hán Nôm).
    • Kiểm tra hiện tượng kiêng húy: Xác định các chữ húy đặc thù như chữ "Trừ" (除 - húy Lê Thái Tổ Lê Lợi/Lê Trừ), làm thay đổi quan niệm cũ cho rằng bản NCQB hoàn toàn không kiêng húy.
    • Giám định vết nứt ván in và kỹ thuật khắc nối: Phân tích 34 hình ảnh tư liệu minh họa các trang bản khắc khuyết bản, bản khoét chữ húy và bản Quốc tử giám bổ sung.
  3. Phương pháp Điền dã Văn bia và Gia phả (Epigraphic & Fieldwork Triangulation): Trực tiếp khảo sát thực địa tại quê hương các sử gia: làng Phủ Lý (xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa - quê hương Lê Văn Hưu) và huyện Chương Mỹ, Hà Tây (quê hương Ngô Sĩ Liên); sưu tầm văn bia niên hiệu Tự Đức (1862) và gia phả dòng họ để xác minh hành trạng, năm sinh, năm mất và vị thế khoa bảng của các tác giả.
  4. Hiệu đính và Giải mã Ngôn ngữ (Philological Exegesis): Khảo sát hiện tượng "Tục tự" (chữ Hán biến thể và chữ Nôm) và các khảo dị ngữ nghĩa học (như trường hợp "Xương công ngư" và "Hầu ngư" trong ĐVSKTT tương ứng với các loài cá heo biển qua tiếng Khách Gia).
┌─────────────────────────────────────────────────────────────┐
│                 TAM GIÁC ĐỐI SOÁT TƯ LIỆU                   │
│                       (Triangulation)                       │
├──────────────────────────────┬──────────────────────────────┤
│ 1. Văn bản học & Mộc bản học │ 2. Điền dã Văn bia & Gia phả │
│  - 20 truyền bản quốc tế     │  - Văn bia Thiệu Hóa (1862)  │
│  - Giám định bản tâm/vết nứt │  - Gia phả họ Lê, họ Ngô     │
├──────────────────────────────┴──────────────────────────────┤
│               3. Đối chiếu Liên văn bản Cổ tịch             │
│   - Đối chiếu: Đại Việt sử lược, An Nam chí lược, Tống sử   │
│   - Khảo dị: Tống đại chiếu lệnh tập vs Chiếu Giao Châu     │
└─────────────────────────────────────────────────────────────┘

Data và phân tích

Toàn bộ 24 quyển của ĐVSKTT được bóc tách và phân tích cấu trúc chi tiết:

TỔNG THỂ 24 QUYỂN BẢN IN CHÍNH HÒA 1697 (SA.PD 2310 / VHv.2330-2336)
├────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ PHÂN HỆ 1: "BẢN ĐVSKTT" (Mộc bản Hệ 1)                                │
│ ├─ Quyển thủ: Tựa, Nghĩ tiến biểu, Phàm lệ, Kỷ niên mục lục, Tổng luận│
│ ├─ Ngoại kỷ toàn thư: Quyển 1 → Quyển 5 (Hồng Bàng → 12 Sứ quân)      │
│ └─ Bản kỷ toàn thư: Quyển 1 → Quyển 7 (Nhà Đinh → Thuộc Minh)         │
│    [Đặc trưng: Bản tâm khắc chuẩn "Đại Việt sử ký toàn thư"]           │
├────────────────────────────────────────────────────────────────────────┤
│ PHÂN HỆ 2: "BẢN VIỆT SỬ" (Mộc bản Hệ 2)                               │
│ ├─ Bản kỷ toàn thư: Quyển 8 → Quyển 10 (Lê Thái Tổ → Lê Nhân Tông)    │
│ ├─ Bản kỷ thực lục: Quyển 11 → Quyển 15 (Lê Thánh Tông → Cung Hoàng)  │
│ └─ Bản kỷ tục biên: Quyển 16 → Quyển 19 (Lê Trang Tông → Gia Tông)    │
│    [Đặc trưng: Bản tâm khắc "Việt sử bản kỷ / thực lục / tục biên"]   │
└────────────────────────────────────────────────────────────────────────┘

Nghiên cứu chứng minh sự gián đoạn cấu trúc vật lý giữa hai phân hệ mộc bản: Bản tâm thượng, bản tâm trung và quyển vĩ của Phân hệ 1 khắc đầy đủ danh xưng sách "Đại Việt sử ký toàn thư", trong khi Phân hệ 2 hoàn toàn chỉ khắc "Việt sử". Bằng chứng văn bản học này khẳng định dứt khoát rằng bộ ván khắc Chính Hòa 1697 được tập hợp từ hai xưởng khắc hoặc hai đợt tổ chức khắc in khác nhau dưới sự chỉ đạo của Phạm Công Trứ (1665) và Lê Hy (1697).


Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Phát hiện cấu trúc nhị nguyên của bản in NCQB: Luận án giải mã thành công bí ẩn mộc bản bản Démiville (SA.PD 2310): Đây không phải là một ấn bản đồng nhất được khắc một lần vào năm 1697 mà là sự hợp thành của hai hệ thống ván in: "Bản ĐVSKTT" (từ đầu đến Bản kỷ quyển 7) và "Bản Việt sử" (từ Bản kỷ quyển 8 đến hết Bản kỷ tục biên quyển 19).

  2. Khôi phục sự thật lịch sử về sự phân chia thiên chương của Phạm Công Trứ và Lê Hy: Dựa trên chứng tích nguyên văn chữ Hán trong bài tựa của Lê Hy:

    "Giao cho khắc in, mười phần mới được chừng năm, sáu. Nhưng công việc chưa xong, sách còn cất giữ ở Bí các"
    (付諸刊刻十纔五六,第事未告竣,猶藏於秘閣)

    Luận án chứng minh Phạm Công Trứ năm 1665 mới chỉ hoàn thành khắc ván được 50–60% bộ sách 23 quyển. Đến năm 1697, Lê Hy tiến hành tổ chức san định lại, chia các tập quá dày thành hai tập Thượng/Hạ như chính văn bài Phàm lệ tục biên ghi rõ:

    "Ngoại kỷ toàn thư từ Hồng Bàng thị đến Ngô Sứ quân, cựu sử chép làm một tập... Nay san cho gọn, mỗi tập đều chia làm hai tập thượng, hạ để tiện xem đọc"
    (外紀全書,自鴻龐氏至吳使君,舊史編一集... 茲以其刪繁,每一集分為上下二集,以便觀覽)

  3. Làm rõ kỹ thuật phân dòng "Đại thư" và "Phân chú" để định hình chính thống: Luận án chỉ ra đóng góp thi pháp độc đáo của Phạm Công Trứ và Lê Hy trong việc xử lý giai đoạn lịch sử phức tạp thời Nam Bắc triều và Trịnh - Nguyễn phân tranh qua trích đoạn căn bản:

    "Phàm phần tục biên thì dưới chỗ chép năm, nếu là niên hiệu không phải chính thống, cùng là niên hiệu của Bắc triều, thì đều chia ra làm hai dòng... Đó đều là để tôn chính thống mà truất tiếm ngụy, nêu lên giường mối lớn mà tỏ rõ gương răn"
    (凡所續編,其繫年之下,非正統者及北朝年號,皆兩行分註... 皆所以尊正統而黜僭偽,舉大綱而昭監戒耳)

  4. Phát hiện nguồn gốc dị bản của văn kiện ngoại giao Tống - Việt: Khảo chứng chứng minh bài Chiếu thư thảo Giao Châu ghi dưới tên Tống Thái Tông/Tống Thần Tông trong ĐVSKTT thực chất là bài văn Dụ Giao Chỉ văn (諭交阯文) do nho sinh Vương Vũ Xưng (王禹偁) soạn thảo, được truyền bản sang Việt Nam rồi chép vào Việt sử lược và ĐVSKTT, khác biệt hoàn toàn với nguyên bản lưu trữ trong Tống đại chiếu lệnh tập (宋大詔令集) của Trung Quốc.

  5. Chứng minh tính tương đồng văn bản giữa bản NCQB và bản VHv.2330-2336: Luận án xác định bản lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm (ký hiệu VHv.2330-2336) là bản in cùng thời, mang đầy đủ đặc trưng mộc bản thời Lê tương đương với bản Démiville tại Paris, trở thành cứ liệu trong nước vững chắc nhất để nghiên cứu nguyên bản Chính Hòa.

Implications đa chiều

  • Về mặt Lý luận Sử học: Cung cấp khung phương pháp luận mới để tiếp cận các bộ quốc sử cổ đại Đông Á: Phân tích sự chuyển dịch từ ý thức hệ nhà nước sang cấu trúc văn bản vật lý (Material Textuality).
  • Về mặt Phương pháp luận Hán Nôm: Chuẩn hóa quy trình giám định mộc bản cổ thông qua kết hợp ba yếu tố: Bản tâm - Chữ húy - Vết nứt ván in, có thể ứng dụng trực tiếp cho hàng ngàn bộ sách Hán Nôm khác tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.
  • Về mặt Văn hóa - Chính trị: Khẳng định ý thức độc lập tự chủ sâu sắc của các triều đại Đại Việt. Việc các sử gia kiên trì đặt niên hiệu vua Nam ngang hàng hoàng đế phương Bắc và đẩy cội nguồn dân tộc về thời Hồng Bàng là bằng chứng học thuật đanh thép về chủ quyền văn hiến quốc gia.

Limitations và Future Research

  1. Giới hạn về Khảo sát Mộc bản Vật thể: Mộc bản gốc thời Lê của ĐVSKTT hiện đã thất lạc hoàn toàn qua các biến cố chiến tranh thế kỷ XVIII–XIX; nghiên cứu buộc phải dựa trên các bản in giấy truyền bản (Paper impressions), đòi hỏi sự suy đoán khoa học về niên đại ván khắc gốc thông qua vết nứt và chất lượng mực in.
  2. Khoảng cách tài liệu thời Trần và Lê sơ: Bản thảo nguyên gốc Đại Việt sử ký (30 quyển) của Lê Văn Hưu và Đại Việt thông giám thông khảo của Vũ Quỳnh không còn nguyên vẹn, khiến việc đối chiếu mức độ thêm bớt cơ hữu của Ngô Sĩ Liên phải thông qua các văn bản tái dẫn gián tiếp.
  3. Phạm vi khảo sát dị bản tại Trung Quốc: Mặc dù đã bao quát các thư viện lớn tại Pháp, Nhật Bản và Việt Nam, việc tiếp cận các thư tịch cổ liên quan lưu trữ tại các thư viện địa phương vùng Nam Trung Quốc (Quảng Tây, Vân Nam) còn gặp rào cản hành chính.

Chương trình nghiên cứu 5–10 năm tới:

  • Ứng dụng công nghệ phổ kế huỳnh quang tia X (XRF) và định tuổi carbon phóng xạ trên giấy dó của các bản in Paris SA.PD 2310 và VHv.2330-2336 để xác định chính xác tuyệt đối niên đại của giấy in.
  • Xây dựng kho dữ liệu số hóa toàn văn (Digital Corpus) có chú giải ngữ nghĩa và liên kết phân tích thực thể (Named Entity Recognition - NER) cho toàn bộ 24 quyển ĐVSKTT.
  • Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu thi pháp viết sử giữa ĐVSKTT với Tam quốc sử ký (Samguk Sagi - Triều Tiên) và Đại Nam thực lục (triều Nguyễn).

Tác động và ảnh hưởng

  • Ảnh hưởng Học thuật (Academic Impact): Luận án thiết lập một cột mốc học thuật mới trong chuyên ngành Hán Nôm và Lịch sử Cổ trung đại Việt Nam; cung cấp chuẩn mực văn bản học để các dự án tái dịch thuật, hiệu đính quốc sử trong tương lai sử dụng làm bản nền tin cậy. Dự báo công trình sẽ trở thành tài liệu tham khảo bắt buộc cho các nghiên cứu sinh chuyên ngành Văn hiến học Đông Á.
  • Bảo tồn Di sản Văn hóa: Cung cấp cơ sở khoa học xác thực để Cục Lưu trữ Quốc gia và Viện Nghiên cứu Hán Nôm xây dựng hồ sơ công nhận các bản in cổ ĐVSKTT là Bảo vật Quốc gia.
  • Quan hệ Học thuật Quốc tế: Cầu nối khoa học giữa giới nghiên cứu Hán Nôm Việt Nam với giới Hán học quốc tế tại Pháp (EFEO, Société Asiatique), Nhật Bản (Đại học Keio, Tokyo), Trung Quốc (Học viện Hồng Hà, Đại học Bắc Kinh) và Nga (Viện Phương Đông học).

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh & Giới nghiên cứu Cổ trung đại: Thụ hưởng khung phương pháp luận văn bản học nghiêm cẩn và hệ thống thư mục dẫn xuất đa ngữ chính xác.
  • Các nhà Sử học & Giảng viên Đại học: Sử dụng các phát hiện mới về sự phân chia thiên chương và hệ tư tưởng sử gia để cập nhật giáo trình Lịch sử Sử học Việt Nam.
  • Chuyên gia Lưu trữ & Bảo tàng: Nắm bắt quy chuẩn giám định mộc bản, nhận diện chữ kiêng húy và kỹ thuật phân biệt dị bản in thời Lê so với thời Nguyễn.
  • Cơ quan Quản lý Văn hóa & Hoạch định Chính sách: Có thêm luận cứ khoa học vững chắc về truyền thống văn hiến và chủ quyền lịch sử của dân tộc Việt Nam.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì và nó mở rộng lý thuyết nào?

Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất là Lý thuyết Phức hợp Thể tài và Cấu trúc Địa tầng Văn bản Sử học. Luận án đã mở rộng lý thuyết Sử thông của Lưu Tri Cơ và lý thuyết Cương mục thể của Chu Hi bằng cách chứng minh rằng: Các sử gia Việt Nam qua hơn 400 năm đã sáng tạo ra một cấu trúc thể tài đặc thù – "Biên niên lồng Kỷ truyện và quản trị bằng Cương mục". Ngô Sĩ Liên đưa thể Truyện vào Biên niên để khắc họa nhân vật; Phạm Công Trứ và Lê Hy tích hợp thể Cương mục ("Đại thư" định danh đế hiệu, "Phân chú" xử lý ngụy triều và niên hiệu ngoại bang). Đây là sự phát triển vượt bậc của thi pháp sử học Đông Á trong việc giải quyết bài toán tính chính thống của một quốc gia độc lập nằm cạnh đế chế phong kiến phương Bắc.

2. Điểm đột phá về phương pháp luận khi so sánh với các nghiên cứu quốc tế tiền nhiệm?

So với nghiên cứu của Trần Kinh Hòa (1984–1986) (chủ yếu hiệu khảo dị văn bản) và A. Fedorin (2008, 2011) (thiên về phân tích định lượng hình thức), luận án thực hiện một bước đột phá: Kết hợp Giám định Vi cấu trúc Mộc bản với Điền dã Văn bia và Phê phán Văn hiến học. Luận án không nhìn bản NCQB như một đối tượng tĩnh mà phân tách nó thành 2 hệ thống mộc bản vật lý dựa trên chỉ dấu "bản tâm" (ĐVSKTT vs Việt sử). Phương pháp này giúp hóa giải mâu thuẫn giữa trường phái Phan Huy Lê (cho là bản thuần nhất 1697) và trường phái Bùi Thiết/Fedorin (cho là bản khắc thế kỷ 18 hoặc thời Nguyễn), xác định đây là bản in phức hợp chứa đựng các ván in gốc thời Lê được tu chỉnh qua các đợt khắc nối.

3. Phát hiện thực nghiệm nào gây bất ngờ nhất và có bằng chứng chứng minh ra sao?

Phát hiện bất ngờ nhất là Bản in NCQB lưu trữ tại Paris (SA.PD 2310) chứa chữ kiêng húy thời Lê sơ (chữ "Trừ" 除), lật ngược nhận định kinh điển suốt nhiều thập kỷ của giới nghiên cứu cho rằng bản NCQB hoàn toàn không kiêng húy. Kết hợp với việc phát hiện bản tâm từ quyển 8 Bản kỷ toàn thư đến quyển 19 Bản kỷ tục biên mang tên "Việt sử", luận án chứng minh rằng bộ sách lưu tại Paris là sự đóng gộp của hai đợt in mộc bản khác nhau: Đợt 1 mang tên Đại Việt sử ký toàn thư (Ngoại kỷ Q1–5, Bản kỷ Q1–7) và Đợt 2 mang tên Việt sử (Bản kỷ Q8–10, Thực lục Q11–15, Tục biên Q16–19).

4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập văn bản (Replication Protocol) không?

Có. Luận án xây dựng quy trình giám định 5 bước tường minh:

  1. So đối hình thái bản tâm (Bản tâm thượng: Nhan đề sách; Bản tâm trung: Tên thiên kỷ/quyển; Bản tâm hạ: Số trang).
  2. Kiểm kê các ô khuyết bản và chữ khoét húy (đối sánh với 34 ảnh mộc bản tiêu biểu).
  3. Đối chiếu dị văn giữa bản Démiville với bản VHv.2330-2336 (Hà Nội) và bản Thư viện Thiên Lý (Nhật Bản).
  4. Phân tích đối chiếu văn bản học các bài tựa, mục lục và Phàm lệ tục biên.
  5. Kiểm tra chéo với nguồn văn khắc Hán Nôm thực địa (văn bia Thiệu Hóa, Chương Mỹ).

5. Chương trình nghị sự nghiên cứu 10 năm tới được phác thảo như thế nào?

Chương trình nghiên cứu tương lai bao gồm 3 trọng tâm:

  • Thiết lập bản đồ phả hệ văn bản học (Stemma Codicum) cho toàn bộ hệ thống thư tịch lịch sử Việt Nam từ thời Lý - Trần đến thời Nguyễn.
  • Khảo sát toàn diện mối liên hệ văn bản học giữa ĐVSKTT với các công trình địa chí, đăng khoa lục và gia phả dòng họ thế kỷ XVII–XVIII.
  • Phối hợp liên ngành quốc tế ứng dụng công nghệ phổ kế hạt nhân để phân tích thành phần hóa học của mực nho và xơ sợi giấy dó trên các bản in thế kỷ XVII còn lại trên thế giới.

Kết luận

Luận án của Ye Shao Fei (Nguyễn Kim Măng) là một công trình khoa học mẫu mực, giải quyết triệt để các vấn đề văn bản học và phương pháp biên soạn của bộ quốc sử ĐVSKTT qua 6 đóng góp cốt lõi:

  1. Xác lập mô hình văn bản nhị nguyên của bản in Nội các quan bản (Chính Hòa 1697), chứng minh sự tồn tại song hành của hai phân hệ mộc bản "ĐVSKTT" và "Việt sử".
  2. Khôi phục chân xác tiến trình phân quyển và san định thiên chương từ bản thảo 23 quyển của Phạm Công Trứ (1665) đến bản in 24 quyển của Lê Hy (1697).
  3. Làm sáng tỏ thi pháp sử học "Cương mục hóa" thông qua quy chuẩn "Đại thư" và "Phân chú" hai hàng nhằm bảo vệ tính chính thống quốc gia và răn dạy đạo trị nước.
  4. Chứng minh sự hiện diện của chữ kiêng húy thời Lê trong bản NCQB, đính chính dứt khoát các ngộ nhận học thuật kéo dài từ thập niên 1980.
  5. Khai mở hướng tiếp cận liên ngành Văn hiến học Hán Nôm - Mộc bản học - Điền dã Văn bia, tạo tiền lệ phương pháp luận chuẩn xác cho việc nghiên cứu cổ tịch Việt Nam.
  6. Đặt di sản sử học Đại Việt vào bức tranh tổng thể của văn minh Đông Á, khẳng định tính độc lập, sáng tạo và bản lĩnh văn hóa của các thế hệ sử gia Việt Nam trong dòng chảy học thuật khu vực.