Luận án nghiên cứu sinh thái Voọc bạc Đông Dương (Trachypithecus germaini) tại núi đá vôi Chùa Hang, Kiên Giang
Luận án nghiên cứu đặc điểm sinh thái của voọc bạc Đông Dương (Trachypithecus germaini) tại núi đá vôi Chùa Hang, Kiên Lương, Kiên Giang.
Luan An
Số trang
186
Thời gian đọc
28 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Nghiên cứu Sinh thái Voọc bạc Đông Dương tại Chùa Hang
- Số trang:
- 186 trang
- Chuyên ngành:
- Sinh thái học
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Nghiên cứu Sinh thái Voọc bạc Đông Dương tại Chùa Hang
1.1. Giới thiệu Voọc bạc Đông Dương và Thách thức
Voọc bạc Đông Dương (Trachypithecus margarita) là loài khỉ ăn lá. Loài này phân bố phía tây sông Mê Kông của Việt Nam. Một quần thể 237 cá thể được xác định tại Kiên Lương, Kiên Giang. Số lượng đang đối mặt nguy cơ suy giảm nghiêm trọng. Các tác động của con người gây ra sự suy giảm này. Khai thác đá vôi phá hủy sinh cảnh sống. Săn bắt và buôn bán cũng là mối đe dọa lớn. Công tác bảo tồn Voọc bạc Đông Dương trở nên cấp thiết. Nghiên cứu linh trưởng là cần thiết để hiểu rõ hơn về loài này.
1.2. Phạm vi và Phương pháp Nghiên cứu Linh trưởng
Nghiên cứu tiến hành tại khu vực núi đá vôi Chùa Hang. Địa điểm thuộc huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang. Thời gian thực hiện từ tháng 9/2013 đến tháng 2/2017. Các phương pháp quan sát tập tính đã được áp dụng. Phương pháp scan-sampling và focal-animal sampling được sử dụng. Dữ liệu về quỹ thời gian hoạt động được ghi nhận. Vùng sống, hoạt động ăn, thành phần thức ăn cũng được theo dõi. Để nghiên cứu thực vật, phương pháp ô mẫu và tuyến thực vật được dùng. Phân tích hóa dinh dưỡng được thực hiện trên 20 mẫu lá ăn, 4 mẫu lá không ăn, 5 mẫu quả, và 3 mẫu hoa. Mục tiêu là nâng cao hiểu biết về sinh thái học động vật này.
II. Hiện trạng Quần thể Voọc bạc Đông Dương ở Chùa Hang
2.1. Cấu trúc và Quy mô Quần thể Voọc tại Chùa Hang
Nghiên cứu đã xác định có 134 cá thể Voọc bạc Đông Dương. Quần thể này sinh sống tại núi Chùa Hang. Các cá thể được phân chia thành 6 bầy. Có 5 cách tổ chức bầy khác nhau được quan sát. Quần thể này là một phần quan trọng của động vật quý hiếm Việt Nam. Sự hiểu biết về cấu trúc bầy là nền tảng. Điều này hỗ trợ cho các chiến lược bảo tồn Voọc bạc. Việc theo dõi quy mô quần thể rất quan trọng để đánh giá hiện trạng.
2.2. Vùng sống và Tập tính Di chuyển của Voọc bạc
Vùng sống của quần thể Voọc bạc Đông Dương là 36,8 ha. Diện tích này chiếm 74% diện tích khu vực nghiên cứu. Trong đó, vùng lõi có diện tích khoảng 5,5 ha. Đây là khu vực tập trung các hoạt động chính của Voọc. Vùng sống cung cấp thông tin quý giá về không gian sử dụng của loài. Hiểu rõ vùng sống giúp đánh giá tác động của môi trường. Tập tính Voọc bạc liên quan chặt chẽ đến vùng sống. Việc bảo vệ vùng sống là yếu tố then chốt để bảo tồn chúng.
III. Hệ sinh thái núi đá vôi Chùa Hang và Thức ăn Voọc
3.1. Đa dạng Sinh học Karst và Sinh cảnh Núi Chùa Hang
Hệ sinh thái núi đá vôi Chùa Hang rất đa dạng. Thảm thực vật liên quan mật thiết đến hoạt động ăn của Voọc bạc Đông Dương. Khu vực này có 4 sinh cảnh chính được xác định. Gồm vách núi, sườn núi, đỉnh núi và rừng ngập mặn. Nghiên cứu xác định 185 loài thực vật. Chúng thuộc 61 họ phân bố trong các sinh cảnh. Sườn núi có mức độ đa dạng về thành phần loài cao nhất. Đây là khu vực quan trọng về đa dạng sinh học karst tại Việt Nam.
3.2. Thực vật Nguồn thức ăn Chính cho Voọc bạc Đông Dương
Trong số 185 loài, 62 loài được Voọc bạc Đông Dương sử dụng làm thức ăn. 8 loài là thức ăn chính Voọc sử dụng trong 12 tháng. Đó là Phèn đen, Da lâm vồ, Sung bầu, Gừa, Duối ô rô, Duối nhám, Dây vác, Quỳnh tàu. Các loài thực vật được Voọc lựa chọn ăn phân bố nhiều nhất ở vách núi, với 41 loài. Tiếp đến là sườn núi với 31 loài, đỉnh núi 24 loài và rừng ngập mặn 4 loài. Sinh cảnh vách núi có số loài được Voọc sử dụng làm thức ăn chiếm nhiều nhất, khoảng 67%. Ba sinh cảnh vách núi, sườn núi và đỉnh núi có mức độ tương đồng cao về thành phần loài. Có 15 loài thực vật Voọc lựa chọn làm thức ăn phân bố trên cả ba sinh cảnh này. Bốn loài ăn suốt 12 tháng là Phèn đen, Da lâm vồ, Duối ô rô và Dây vác. Điều này cho thấy sự phụ thuộc vào các loài thực vật nhất định của Voọc bạc Đông Dương.
IV. Tập tính và Dinh dưỡng của Voọc bạc Đông Dương
4.1. Phân bổ Thời gian và Bộ phận Thức ăn của Voọc
Kết quả khảo sát tập tính của Voọc bạc Đông Dương đã được thực hiện. Hoạt động ăn chiếm 45% quỹ thời gian hoạt động. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tìm kiếm thức ăn. Voọc sử dụng đa dạng các bộ phận của thực vật làm thức ăn. Gồm lá non (58,0%), lá trưởng thành (9,5%), quả (22,7%), hoa (4,7%), chồi (3,3%) và một số bộ phận khác (1,3%). Sự lựa chọn các bộ phận làm thức ăn thay đổi theo trạng thái sinh trưởng của thực vật (vật hậu học) trong sinh cảnh sống.
4.2. Khác biệt trong Lựa chọn Thức ăn và Giá trị Dinh dưỡng
Sự lựa chọn thức ăn có sự khác biệt theo tháng, ngày, mùa. Khác biệt cũng xuất hiện theo độ tuổi và giới tính của Voọc. Con trưởng thành chọn ăn đa dạng các bộ phận thực vật hơn. Chúng ăn lá non, lá trưởng thành, quả, hoa, chồi. Con chưa trưởng thành chủ yếu ăn lá non, chồi và hoa. Phân tích thành phần hóa học thức ăn của Voọc bạc Đông Dương đã được tiến hành. Nước chiếm 73,68%, protein 5,58%, lipid 1,24%, khoáng 5,43%, đường 6,8%, Ca 0,97%. Tỉ lệ protein/chất xơ là 0,14. Voọc bạc Đông Dương lựa chọn ăn lá có hàm lượng lignin thấp. Chúng ăn hoa có đường cao, và ăn quả có ít Ca và khoáng. Hàm lượng dinh dưỡng trong mẫu thức ăn tương quan với thời gian lựa chọn thức ăn. Tuy nhiên, nó không tương quan với việc lựa chọn ăn hay không ăn.
4.3. Chất lượng Đất và Ảnh hưởng đến Dinh dưỡng Voọc bạc
Chất lượng đất núi Chùa Hang có ảnh hưởng đến thành phần hóa học của thức ăn. Đất có đặc điểm hàm lượng K và Mg nghèo. Hàm lượng Ca cao, và pH kiềm. Điều này dẫn đến thức ăn của Voọc bạc Đông Dương có thành phần xơ cao, protein thấp. Để thích nghi với đặc điểm này, Voọc bạc Đông Dương có chiến lược. Chúng tập trung vào một số nguồn thức ăn chính. Các nguồn này có thành phần hóa học phù hợp hơn. Sự lựa chọn thức ăn không chỉ theo tính sẵn có trong sinh cảnh sống. Kết quả này rất quan trọng cho nghiên cứu sinh thái dinh dưỡng của Trachypithecus margarita.
V. Chiến lược Bảo tồn Voọc bạc Đông Dương tại Kiên Lương
5.1. Nâng cao Hiểu biết và Ý nghĩa Bảo tồn Loài
Những kết quả của nghiên cứu này nâng cao hiểu biết quan trọng. Chúng làm rõ về sinh thái dinh dưỡng, cấu trúc quần thể và tập tính của Voọc bạc Đông Dương. Điều này góp phần quan trọng trong công tác bảo tồn loài. Đặc biệt, nó hỗ trợ công tác di dời bảo tồn khi cần thiết. Bảo tồn Voọc bạc, một trong những động vật quý hiếm Việt Nam, là ưu tiên hàng đầu. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học vững chắc cho các quyết định bảo tồn.
5.2. Đề xuất Kế hoạch Di dời và Bảo tồn Voọc bạc
Để thực hiện kế hoạch di dời các quần thể Voọc bạc Đông Dương từ các núi đá vôi bị tác động, cần nghiên cứu thêm. Chính quyền cần tiếp tục nghiên cứu thành phần thức ăn của Voọc bạc Đông Dương. Các tiểu quần thể trên các núi đá vôi khác như Khoe Lá, Hang Tiền và Lô Cốc cần được khảo sát. Việc đối sánh với quần thể Voọc bạc Đông Dương tại Chùa Hang là cần thiết. Điều này hỗ trợ việc đánh giá chính xác. Cần xác định có cần di dời hay bảo tồn tại chỗ quần thể Voọc bạc khỏi các mối đe dọa hiện hữu.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (186 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộTÓM TẮT Voọc bạc Đông Dương là loài khỉ ăn lá, phân bố ở phía tây sông Mê Kông của Việt Nam. Một quần thể 237 cá thể đã được xác định tại khu vực núi đá vôi huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang; tuy nhiên số lượng đang có nguy cơ giảm sút nghiêm trọng do những tác động của con người như khai thác đá vôi làm mất sinh cảnh sống, săn bắt và buôn bán. Nghiên cứu được thực hiện tại khu vực núi đá vôi Chùa Hang, huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang (tọa độ 10o08’11” N và 104o38’21”). Thời gian thực hiện từ tháng 9/2013 đến tháng 2/2017.
Trong nghiên cứu này, phương pháp scan-sampling và phương pháp focal-animal sampling được sử dụng để quan sát tập tính và nghi nhận dữ liệu về quỹ thời gian hoạt động, vùng sống, hoạt động ăn và thành phần thức ăn của Voọc bạc Đông Dương. Phương pháp ô mẫu và tuyến thực vật được sử dụng được để nghiên cứu thành phần thực vật trên núi đá vôi Chùa Hang. Phân tích hóa dinh dưỡng được thực hiện đối với 20 mẫu lá ăn, 4 mẫu lá không ăn, 5 mẫu quả và 3 mẫu hoa. Nghiên cứu đã xác định có 134 cá thể Voọc bạc Đông Dương tại núi Chùa Hang, phân chia thành 6 bầy với 5 cách tổ chức bầy khác nhau.
Vùng sống của quần thể Voọc bạc Đông Dương là 36,8 ha chiếm 74% diện tích khu vực, trong đó vùng lõi có diện tích khoảng 5,5 ha. Thảm thực vật núi Chùa Hang có liên quan đến hoạt động ăn của Voọc bạc Đông Dương gồm 4 sinh cảnh: vách núi, sườn núi, đỉnh núi và rừng ngập mặn. Kết quả nghiên cứu xác nhận có 185 loài thực vật thuộc 61 họ phân bố trong các sinh cảnh, trong đó có 62 loài được Voọc bạc Đông Dương sử dụng làm thức ăn với 8 loài gồm Phèn đen (Phyllathus reticulatus), Da lâm vồ (Ficus rumphii), Sung bầu (Ficus tinctoria), Gừa (Ficus microcarpa), Duối ô rô (Streblus ilicifolia), Duối nhám (Streblus asper), Dây vác (Cayratia trifolia), Quỳnh tàu (Combretum latifolium) là thức ăn voọc sử dụng trong 12 tháng. Các loài thực vật được voọc lựa chọn ăn phân bố nhiều nhất ở sinh cảnh vách núi, với 41 loài, tiếp đến sinh cảnh sườn núi, đỉnh núi và rừng ngập mặn với số loài lần lượt là 31 loài, 24 loài và 4 loài.
Trong các sinh cảnh được khảo sát, sườn núi có mức độ đa dạng về thành phần loài cao nhất; sinh cảnh vách núi có số loài được voọc sử dụng làm thức ăn chiếm nhiều nhất, khoảng 67%; ba sinh cảnh vách núi, sườn núi và đỉnh núi có mức độ tương đồng cao về thành phần loài. Kết quả nghiên cứu cũng xác định có 15 loài thực vật voọc lựa chọn làm thức ăn phân bố trên cả 3 sinh cảnh vách núi, sườn núi và đỉnh núi; trong số này 4 loài, gồm Phèn đen, Da lâm vồ, Duối ô rô và Dây vác được xii chọn ăn trong suốt 12 tháng trong năm. Ngoài ra, trong nghiên cứu này, kết quả khảo sát tập tính của voọc cho thấy hoạt động ăn chiếm 45% quỹ thời gian hoạt động. Voọc bạc Đông Dương sử dụng đa dạng các bộ phận của thực vật làm thức ăn, gồm lá non (58,0%), lá trưởng thành (9,5%), quả (22,7%), hoa (4,7%), chồi (3,3%) và một số bộ phận khác (1,3%).
Sự lựa chọn các bộ phận làm thức ăn thay đổi theo trạng thái sinh trưởng của thực vật (vật hậu học) trong sinh cảnh sống và có sự khác biệt theo tháng, ngày, mùa, độ tuổi và giới tính trong đó con trưởng thành chọn ăn đa dạng các bộ phân thực vật (gồm lá non, lá trưởng thành, quả, hoa, chồi) hơn con chưa trưởng thành (gồm lá non, chồi và hoa). Phân tích thành phần hoá học thức ăn của Voọc bạc Đông Dương cho thấy nước chiếm 73,68%, protein 5,58%, lipid 1,24%, khoáng 5,43%, đường 6,8%, Ca 0,97%, tỉ lệ protein/chất xơ là 0,14. Voọc bạc Đông Dương lựa chọn ăn lá có hàm lượng lignin thấp, ăn hoa có đường cao, ăn quả có ít Ca và khoáng. Hàm lượng dinh dưỡng trong mẫu thức ăn tương quan với thời gian lựa chọn thức ăn nhưng không tương quan với việc lựa chọn ăn hay không ăn.
Chất lượng đất núi Chùa Hang có ảnh hưởng đến thành phần xơ cao, protein thấp trong các mẫu thức ăn của Voọc bạc Đông Dương với đặc điểm hàm lượng K và Mg nghèo, hàm lượng Ca cao, pH kiềm. Vì vậy, để thích ghi với đặc điểm của thức ăn Voọc bạc Đông Dương có xu hướng chung trong chiến lược lựa chọn thức ăn tại núi Chùa Hang là tập trung vào một số nguồn thức ăn chính với thành phần hóa học phù hợp hơn là sự lựa chọn thức ăn theo tính sẵn có của chúng trong sinh cảnh sống. Những kết quả của nghiên cứu nâng cao hiểu biết về sinh thái dinh dưỡng, cấu trúc quần thể và tập tính góp phần quan trọng trong công tác di dời bảo tồn loài Voọc bạc Đông Dương. Ngoài ra, để thực hiện được kế hoạch di dời các quần thể Voọc bạc Đông Dương từ các núi đá vôi đã bị tác động thì chính quyền cần tiếp tục nghiên cứu thêm thành phần thức ăn của Voọc bạc Đông Dương tại các tiểu quần thể trên các núi đá vôi khác như Khoe Lá, Hang Tiền và Lô Cốc ở khu vực núi đã vôi Kiên Lương để đối sánh với quần thể Voọc bạc Đông Dương tại Chùa Hang hỗ trợ việc đánh giá chính xác cần hay không việc di dời hay bảo tồn tại chỗ quần thể Voọc bạc khỏi các mối đe dọa hiện hữu.
Từ khóa: núi đá vôi Chùa Hang, tỉnh Kiên Giang, bảo tồn, dinh dưỡng, tập tính, Voọc bạc Đông Dương, khỉ ăn lá, thành phần loài thực vật xiii ABSTRACT The Indochinese silvered langur (Trachypithecus germaini) is a leaf monkey species, which is distributed to the west of the Mekong River in Vietnam and Cambodia. The largest population in Vietnam occurs in the Kien Luong Karst area, Kien Giang province, with an estimated 237 individuals. However, the population in this area is threatened by heavy habitat deterioration and human disturbance such as lime exploitation and poaching. Research was conducted on the Indochinese silvered langur population at the Chua Hang Karst Mountain of Hon Chong Karst area in Kien Luong Distrist, Kien Giang Province (10°08’11” N and 104°38’21”) from September 2013 to February 2017.
In this study, scan-sampling and focal-animal sampling methods were used to observe and collect data on langur behavior, including distribution, instantaneous feeding behavior, home range, and diet composition. The chemical composition of 20 eaten- plant species, 4 non-eaten plant species, 5 fruit samples and 3 flower samples were analyzed. In addition, line transect method and quadrat method were performed to detect floristic composition and plant phenology of four habitats in Chua Hang Karst Mountain. The study indicated there were 134 individuals of the Indochinese silvered langur in the area, distributed into 6 troops that exhibited five types of social groups.
The home range of the Indochinese silvered langur included 36.8 ha, accounting for 74% of the area. The core area of home range was about 5. The floristic composition related to the Indochinese silvered langur diet was separated into four habitats, including cliffs, slopes, and the peak of Chua Hang karst and the adjacent mangroves. The study identified 185 plant species, representing 61 families, distributed across the habitats and the silvered langurs fed on 60 plant species of 37 families.
A total of 62 plant species were used as food by silvered langurs, of which leaves of 8 plant species (Phyllathus reticulatus, Ficus rumphii, Ficus tinctoria, Ficus microcarpa, Cayratia trifolia, Streblus ilicifolia, Combretum latifolium, Streblus asper) were fed on throughout the year. Among food plants selected by the silvered langur, 41 plant species were distributed on the cliff, followed by the slope and the peak with 31 and 24 plant species, respectively, and the mangroves with 4 plant species. In addition, the silvered langurs feed on about 67% of plant species that occur on the cliff. Plant species richness of the slope areas is highest compared with the other habitats.
The floristic composition of the cliff, xiv slope and peak is quite similar. The results showed that four plant species, Phyllathus reticulatus, Ficus rumphii, Streblus ilicifolia and Cayratia trifolia were consumed during all months of the year. Furthermore, using focal animal sampling, the result showed that Indochinese silvered langur spent 45% their activity budget for eating. The langurs eat a variety of plant parts.
The most common food part was leaves, including 58.0% young leaves and 9.5% mature leaves, followed by fruit at 22.3% and other items (1. The proportions of food items consumed by Indochinese silvered langur vary monthly, seasonally, and by langur sex-age classes. Adult langurs eat a greater variety of than subadults. The adult langurs fed frequently on young leaves, mature leaves, fruits, flowers, buds whereas, subadults fed on young leaves, buds and fruits.
Chemical analysis showed the langur food choice contained water 74.0% and the protein/fiber ratio (CP/ADF) 0. The fiber content was high, over 30%, of dry matter and played an important role in food selection of the langurs. The eaten young leaves contained low amounts of lignin; flowers contained high amounts of sugar; fruits contained low amounts of calcium and ash. The nutrient composition of langur foods was related to feeding records, but not related to food choice.
Soil chemistry and composition on Chua Hang Karst most affected on nutritional content of langur’s foods, including high amounts of fiber and low amounts of protein. Soils at Chua Hang Kart are slightly alkaline, with high amounts of calcium and low level of potassium and magnesium. This information on feeding ecology, social structure and behavior can be used as a base understanding for selecting priority sites in Kien Luong area to support existing silvered langur populations and to propose immediate conservation measures. In addition, the socio- ecological factors, vegetation and food plants within other karst areas in Kien Luong karst arear (such as Khoe La, Hang Tien and Lo Coc) should be developed and studied to assess the driving forces that shape and maintain the silvered langur populations and if translocation, setting up corridors between karst hills, or expansion of protected karst hills should be pursued to conserve this endangered species from local extinction.
Keywords: Chua Hang karst, Kien Giang Province, conservation, diet, floristic composition, habitat, Indochinese silvered langur, leaf monkey xv MỞ ĐẦU 1. Giới thiệu Voọc bạc Đông Dương (Trachypithecus germaini) là một trong 12 loài thuộc nhóm khỉ ăn lá ở Việt Nam [9, 182]. Đây là loài được xếp vào bậc EN (Endangered - loài nguy cấp) trong danh mục các loài bị đe dọa của IUCN [84] và thuộc danh mục loài động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP [148]. Voọc bạc Đông Dương được xem là loài linh trưởng đại diện cho khu vực phía tây sông Mê Kông [144].
Ghi nhận năm 2015, tổng số 362-406 cá thể được xác định tại 6 địa điểm thuộc 3 tỉnh An Giang, Kiên Giang và Cà Mau, trong đó quần thể tại khu vực núi đá vôi Kiên Lương, Kiên Giang chiếm số lượng nhiều nhất với 286 cá thể trên 4 núi Chùa Hang, Khoe Lá, Mo So, và Lô Cốc [205].
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Nghiên cứu sinh thái Voọc bạc Đông Dương tại núi đá vôi Chùa Hang (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/sinh-hoc/sinh-thai-hoc/luan-an-nghien-cuu-dac-diem-sinh-thai-cua-vooc-bac-dong-duong-trachypithecus
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Nghiên cứu sinh thái Voọc bạc Đông Dương tại núi đá vôi Chùa Hang" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án nghiên cứu đặc điểm sinh thái của voọc bạc Đông Dương (Trachypithecus germaini) tại núi đá vôi Chùa Hang, Kiên Lương, Kiên Giang.
Luận án "Nghiên cứu sinh thái Voọc bạc Đông Dương tại núi đá vôi Chùa Hang" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Nghiên cứu sinh thái Voọc bạc Đông Dương tại núi đá vôi Chùa Hang" thuộc chuyên ngành Sinh thái học. Danh mục: Sinh Thái Học.
Luận án "Nghiên cứu sinh thái Voọc bạc Đông Dương tại núi đá vôi Chùa Hang" có bao nhiêu trang?
Luận án "Nghiên cứu sinh thái Voọc bạc Đông Dương tại núi đá vôi Chùa Hang" có 186 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Nghiên cứu sinh thái Voọc bạc Đông Dương tại núi đá vôi Chùa Hang" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.