Pháp luật về quyền bình đẳng doanh nghiệp Việt Nam - Luận án TS Luật học
Tìm hiểu quy định pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam theo Luật Doanh nghiệp.
Năm xuất bản
Số trang
176
Thời gian đọc
27 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Mục lục chi tiết
Tóm tắt nội dung
I. Doanh nghiệp và quyền bình đẳng trong kinh tế thị trường
Doanh nghiệp là yếu tố cấu thành kinh tế quốc dân. Doanh nghiệp là chủ thể cơ bản của thị trường. Vị trí, vai trò của doanh nghiệp đặc biệt quan trọng. Doanh nghiệp đóng góp chủ yếu cho ngân sách nhà nước. Nguồn dự trữ quốc gia được bổ sung. Giá trị tài nguyên thiên nhiên được khai thác, nâng cao. Hoạt động của doanh nghiệp tạo tăng trưởng kinh tế. Doanh nghiệp có mặt trong nhiều ngành, nghề, lĩnh vực. Tác động đến sự hình thành các loại thị trường. Quốc gia kiểm soát nền kinh tế từ hệ thống doanh nghiệp. Phát triển kinh tế thị trường (KTTT) là lựa chọn phổ biến. KTTT sử dụng quy luật cạnh tranh làm động lực. Quyền tự do kinh doanh và quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp (BĐGCDN) là cơ sở vận hành cạnh tranh. Môi trường kinh doanh bình đẳng tạo cơ hội. Doanh nghiệp cạnh tranh bằng thực lực. Cạnh tranh lành mạnh loại bỏ doanh nghiệp yếu kém. Nền kinh tế được lành mạnh hóa. Kinh tế được thúc đẩy phát triển. Đảm bảo môi trường kinh doanh BĐGCDN là nguyên tắc. Đây cũng là giá trị phổ biến của KTTT. Tuy nhiên, chính sách ưu tiên doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tại Việt Nam vẫn tồn tại. DNNN nhận hỗ trợ về vốn, đất đai, tài nguyên. Điều này mâu thuẫn với nguyên tắc KTTT. Hiệu quả của DNNN chưa tương xứng. Mục tiêu kinh tế nhà nước chủ đạo gây khó khăn. Cần cân bằng giữa vai trò nhà nước và bình đẳng doanh nghiệp.
1.1. Vai trò then chốt của doanh nghiệp trong kinh tế
Doanh nghiệp là nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Doanh nghiệp tạo ra công ăn việc làm. Doanh nghiệp đóng góp lớn vào GDP và ngân sách. Sự đa dạng của doanh nghiệp thúc đẩy đổi mới. Doanh nghiệp là động lực chính cho sự phát triển bền vững. Kiểm soát nền kinh tế bắt đầu từ hệ thống doanh nghiệp vững mạnh.
1.2. Bình đẳng doanh nghiệp trong kinh tế thị trường
Nền kinh tế thị trường yêu cầu cạnh tranh bình đẳng. Mọi doanh nghiệp cần có cơ hội tiếp cận nguồn lực như nhau. Quy định pháp luật phải tạo sân chơi công bằng. Điều này thúc đẩy hiệu quả kinh tế. Thị trường hoạt động minh bạch hơn. Cạnh tranh lành mạnh giúp loại bỏ các doanh nghiệp yếu kém.
1.3. Thách thức bình đẳng doanh nghiệp tại Việt Nam
Chính sách ưu tiên doanh nghiệp nhà nước (DNNN) còn tồn tại. DNNN nhận hỗ trợ về vốn, đất đai, tài nguyên. Điều này mâu thuẫn với nguyên tắc KTTT. Hiệu quả của DNNN chưa tương xứng với ưu đãi. Vấn đề là làm thế nào để kinh tế nhà nước nắm vai trò chủ đạo nhưng vẫn bảo đảm sự bình đẳng giữa DNNN với các doanh nghiệp khác.
II. Cơ sở lý luận quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp
Quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp là nền tảng pháp lý. Quyền này đảm bảo mọi chủ thể kinh doanh đều có cơ hội như nhau. Cơ hội này áp dụng trong tiếp cận nguồn lực, chính sách, và thị trường. Bình đẳng không có nghĩa là sự giống nhau hoàn toàn. Bình đẳng là khả năng cạnh tranh công bằng dựa trên năng lực. Điều này thúc đẩy sự đổi mới và hiệu quả kinh tế. Hệ thống pháp luật cần rõ ràng, minh bạch. Luật pháp ngăn chặn sự phân biệt đối xử. Các yếu tố chi phối bình đẳng bao gồm thể chế chính trị, kinh tế, và xã hội. Pháp luật có vai trò kiến tạo và bảo vệ. Quan niệm về bình đẳng doanh nghiệp cần được hiểu rõ. Ý nghĩa của quyền bình đẳng phải được nhận thức đầy đủ. Vai trò của pháp luật trong việc thiết lập và bảo vệ bình đẳng là không thể thiếu. Những yếu tố chi phối hệ thống pháp luật và quá trình thực thi pháp luật cần được phân tích kỹ lưỡng.
2.1. Quan niệm về bình đẳng giữa các doanh nghiệp
Bình đẳng doanh nghiệp là nguyên tắc cơ bản. Nguyên tắc này đảm bảo mọi loại hình doanh nghiệp được đối xử công bằng. Các doanh nghiệp không bị phân biệt đối xử dựa trên hình thức sở hữu. Quyền và nghĩa vụ được áp dụng thống nhất. Điều này tạo ra một môi trường kinh doanh lành mạnh, khuyến khích sự phát triển.
2.2. Ý nghĩa của quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp
Quyền bình đẳng thúc đẩy cạnh tranh. Cạnh tranh công bằng khuyến khích hiệu quả. Doanh nghiệp phải nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ. Người tiêu dùng được hưởng lợi. Nền kinh tế phát triển bền vững hơn. Nó thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Bình đẳng là động lực cho sự sáng tạo và đổi mới.
2.3. Vai trò của pháp luật về quyền bình đẳng doanh nghiệp
Pháp luật thiết lập khuôn khổ bình đẳng. Pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ cụ thể. Hệ thống luật pháp bảo vệ quyền lợi chính đáng. Pháp luật hạn chế hành vi độc quyền. Pháp luật tạo cơ chế giải quyết tranh chấp. Pháp luật là công cụ quan trọng để đảm bảo sự công bằng và minh bạch trên thị trường.
III. Thực trạng pháp luật bình đẳng doanh nghiệp ở Việt Nam
Pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam còn nhiều hạn chế. Một số quy định chưa rõ ràng. Sự chồng chéo giữa các văn bản pháp luật gây khó khăn. Tình trạng này tạo kẽ hở cho phân biệt đối xử. Thực thi pháp luật cũng gặp thách thức lớn. Các vụ vi phạm quy định cạnh tranh còn phổ biến. Hành vi hối lộ, tiêu cực vẫn diễn ra. Báo cáo từ Điều 159 (xâm phạm trật tự quản lý kinh tế) và Điều 279, 289 (đưa, nhận hối lộ) của Bộ luật Hình sự cho thấy điều này. Sự thiếu hiệu quả trong giám sát và xử lý vi phạm làm suy yếu niềm tin. Doanh nghiệp gặp khó khăn trong tiếp cận thông tin, vốn, đất đai. Đặc biệt, doanh nghiệp tư nhân (DNTN) và doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) thường chịu thiệt thòi. Các nguyên nhân gây bất bình đẳng bao gồm chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp nhà nước (DNNN), thiếu minh bạch trong quy trình, và tham nhũng. Hệ quả là suy yếu cạnh tranh, giảm năng suất và làm mất niềm tin của nhà đầu tư.
3.1. Tình hình pháp luật và thực thi hiện hành
Các quy định pháp luật hiện tại chưa thực sự đồng bộ. Một số lĩnh vực còn có sự ưu tiên rõ ràng cho doanh nghiệp nhà nước. Cơ chế giám sát thực thi pháp luật còn yếu. Việc áp dụng các chế tài chưa nghiêm minh. Điều này làm giảm hiệu lực của pháp luật. Thực trạng này tạo rào cản cho môi trường kinh doanh công bằng.
3.2. Nguyên nhân gây bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp
Các chính sách ưu đãi đặc thù cho DNNN là một nguyên nhân chính. Thiếu minh bạch trong quy trình cấp phép, đấu thầu. Sự can thiệp của các yếu tố hành chính. Năng lực thực thi của cơ quan quản lý chưa cao. Tham nhũng và tiêu cực làm méo mó thị trường. Điều này tạo lợi thế không công bằng cho một số chủ thể.
3.3. Hệ quả của bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp
Bất bình đẳng làm suy yếu môi trường cạnh tranh. Năng suất và hiệu quả kinh tế giảm sút. Các doanh nghiệp có năng lực bị hạn chế phát triển. Doanh nghiệp yếu kém tồn tại nhờ ưu đãi. Lãng phí nguồn lực xã hội xảy ra. Điều này gây mất niềm tin của nhà đầu tư. Tăng trưởng kinh tế không bền vững là hệ quả tất yếu.
IV. Giải pháp hoàn thiện pháp luật bình đẳng doanh nghiệp VN
Để khắc phục tình trạng bất bình đẳng, cần có giải pháp toàn diện. Hoàn thiện nội dung quyền bình đẳng là bước đầu tiên. Pháp luật cần quy định rõ ràng, chi tiết hơn. Các lỗ hổng pháp lý phải được bịt kín. Điều này bao gồm việc rà soát và sửa đổi các văn bản hiện hành. Đặc biệt là những quy định ưu đãi không phù hợp. Cần xây dựng cơ chế giám sát độc lập. Tăng cường năng lực cho các cơ quan thực thi pháp luật. Cải cách hành chính đóng vai trò quan trọng. Giảm bớt các thủ tục rườm rà. Nâng cao tính minh bạch trong các quy trình. Tạo môi trường đầu tư công bằng, hấp dẫn. Điều này thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh. Hoàn thiện nội dung quyền bình đẳng phải song hành với tăng cường thiết chế bảo đảm và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật. Mục tiêu cuối cùng là xây dựng một nền kinh tế thị trường công bằng, hiệu quả và bền vững.
4.1. Hoàn thiện nội dung quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp
Cần sửa đổi các luật liên quan đến doanh nghiệp. Đặc biệt là Luật Doanh nghiệp, Luật Cạnh tranh. Loại bỏ các quy định phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp. Đảm bảo quyền tiếp cận nguồn lực đồng đều. Quy định rõ ràng về trách nhiệm giải trình. Khuyến khích sự cạnh tranh công bằng và bình đẳng.
4.2. Tăng cường thiết chế bảo đảm quyền bình đẳng
Thành lập hoặc củng cố các cơ quan giám sát độc lập. Các cơ quan này chuyên trách về cạnh tranh và bình đẳng. Cơ chế khiếu nại, tố cáo cần được đơn giản hóa. Quy trình giải quyết tranh chấp phải hiệu quả. Điều này giúp doanh nghiệp bảo vệ quyền lợi. Niềm tin vào hệ thống pháp luật được củng cố vững chắc.
4.3. Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
Đào tạo, nâng cao trình độ cán bộ quản lý. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin. Giảm thiểu sự can thiệp hành chính tùy tiện. Xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm. Công khai các trường hợp vi phạm. Điều này tạo ra sức răn đe mạnh mẽ. Góp phần xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch và công bằng.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (176 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộ1 Bé Gi¸o dôc vµ §µo t¹o bé t− ph¸p tr−êng ®¹i häc luËt hµ néi ®ç thÞ kim tiªn Ph¸p luËt vÒ quyÒn b×nh ®¼ng gi÷a c¸c doanh nghiÖp ë ViÖt Nam luËn ¸n tiÕn sÜ luËt häc Hµ néi - 2014 2 Bé Gi¸o dôc vµ §µo t¹o bé t− ph¸p tr−êng ®¹i häc luËt hµ néi ®ç thÞ kim tiªn Ph¸p luËt vÒ quyÒn b×nh ®¼ng gi÷a c¸c doanh nghiÖp ë ViÖt Nam Chuyªn ngµnh : LuËt kinh tÕ M· sè : 62 38 01 07 luËn ¸n tiÕn sÜ luËt häc Ng−êi h−íng dÉn khoa häc: PGS.TS D−¬ng §¨ng HuÖ Hµ néi - 2014 3 Lêi cam ®oan T«i xin cam ®oan ®©y lµ c«ng tr×nh nghiªn cøu cña riªng t«i. C¸c sè liÖu nªu trong luËn ¸n lµ trung thùc. Nh÷ng kÕt luËn khoa häc cña luËn ¸n ch−a tõng ®−îc ai c«ng bè trong bÊt kú c«ng tr×nh nµo kh¸c. T¸c gi¶ luËn ¸n §ç ThÞ Kim Tiªn 4 MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 9 1.
Tình hình nghiên cứu lý luận về bình đẳng, quyền bình đẳng giữa các 9 doanh nghiệp và pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp 1. Tình hình nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực thi pháp luật về 13 quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp 1. Các công trình nghiên cứu đề cập giải pháp bảo đảm quyền bình đẳng 23 giữa các doanh nghiệp 1. Đánh giá chung tình hình nghiên cứu các công trình liên quan đến 28 luận án Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỮA 32 CÁC DOANH NGHIỆP 2.
Quan niệm về bình đẳng giữa các doanh nghiệp 32 2. Quan niệm về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp 45 2. Ý nghĩa của việc thực hiện quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp 53 2. Vai trò của pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp 57 2.
Những yếu tố chi phối hệ thống pháp luật và quá trình thực thi pháp 64 luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT 74 VỀ QUYỀN BÌNH ĐẲNG GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP 3. Thực trạng pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp 74 3. Thực trạng thực thi pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh 106 nghiệp ở Việt Nam 3. Nguyên nhân gây bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam 116 5 3.
Hệ quả của bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp 123 Chương 4: CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN 128 BÌNH ĐẲNG GIỮA CÁC DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM 4. Hoàn thiện nội dung quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp 129 4. Hoàn thiện các quy định pháp luật về thiết chế bảo đảm quyền bình 149 đẳng giữa các doanh nghiệp KẾT LUẬN 159 CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ 162 TÀI LUẬN ÁN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 163 6 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT BĐGCDN : Bình đẳng giữa các doanh nghiệp CBXH : Công bằng xã hội DNNN : Doanh nghiệp nhà nước DNTN : Doanh nghiệp tư nhân ĐKDN : Đăng ký doanh nghiệp ĐKKD : Đăng ký kinh doanh KTTT : Kinh tế thị trường TNHH : Trách nhiệm hữu hạn XHCN : Xã hội chủ nghĩa 7 DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu Tên bảng Trang bảng 3.1 Báo cáo các vụ vi phạm theo Điều 159 - chương xâm phạm 108 trật tự quản lý kinh tế 3.2 Báo cáo các vụ vi phạm theo Điều 279, 289 về tội đưa, nhận 109 hối lộ DANH MỤC CÁC HÌNH Số hiệu Tên hình Trang hình 2.1 Mô phỏng các mối quan hệ tạo ra bình đẳng hoặc bất 39 BĐGCDN 8 MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu Doanh nghiệp là một trong những yếu tố cấu thành của mọi hệ thống kinh tế.
Trong nền kinh tế quốc dân, doanh nghiệp là chủ thể cơ bản của thị trường, có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng. Doanh nghiệp đóng góp chủ yếu cho ngân sách nhà nước, bổ sung nguồn dự trữ quốc gia và khai thác nâng cao giá trị của tài nguyên thiên nhiên. Ở Việt Nam, khi thừa nhận phát triển kinh tế nhiều thành phần, doanh nghiệp chính là hoạt động sống của các thành phần kinh tế, tạo ra tăng trưởng. Với hoạt động sản xuất, kinh doanh đa dạng, doanh nghiệp có mặt trong nhiều ngành, nghề, lĩnh vực và tác động đến sự hình thành các loại thị trường.
Vì lẽ đó, một quốc gia chỉ có thể kiểm soát được nền kinh tế bắt đầu từ hệ thống doanh nghiệp. Để phát triển kinh tế, hầu hết các quốc gia trên thế giới đã lựa chọn mô hình kinh tế thị trường (KTTT), nhằm sử dụng sức mạnh của quy luật cạnh tranh làm động lực phát triển. Cơ sở để quy luật cạnh tranh được vận hành là quyền tự do kinh doanh và quyền BĐGCDN được bảo đảm. Chỉ trong điều kiện kinh doanh bình đẳng, doanh nghiệp mới có cơ hội kinh doanh bằng chính thực lực của mình và cạnh tranh được vận hành đúng với bản chất của nó.
Từ đây, những doanh nghiệp yếu kém được loại bỏ, lành mạnh hóa nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển. Vì thế, đảm bảo môi trường kinh doanh BĐGCDN vừa là nguyên tắc, vừa là giá trị phổ biến của KTTT. Việc nhà nước thực hiện chính sách ưu tiên, bảo trợ về vốn, đất đai, tài nguyên cho doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và sử dụng DNNN làm công cụ điều tiết nền kinh tế trong nhiều năm qua là mâu thuẫn với nguyên tắc bình đẳng, đi ngược KTTT. Đồng thời, tính không hiệu quả của DNNN cũng chưa giải thích được tác dụng thực tế của những chính sách ưu tiên đó.
Vấn đề vướng mắc hiện nay cả về lý luận và thực tiễn trong phát triển KTTT định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam là làm thế nào để kinh tế nhà nước nắm vai trò chủ đạo nhưng vẫn bảo đảm sự bình đẳng giữa DNNN với các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế khác. Ngày 7/11/2006, cùng với việc ký kết gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đồng thời phải ký vào bản cam kết chấp nhận bị coi là nền 9 kinh tế phi thị trường (non - market economy, hay NME) trong 12 năm, kể từ ngày gia nhập. Trong các quy định của GATT và WTO không có quy định về tiêu chí NME hay KTTT. Tuy nhiên, các quy định này được xây dựng dựa trên những nguyên tắc của thị trường.
Hệ thống nguyên tắc này đòi hỏi các nước gia nhập WTO phải cam kết cải cách kinh tế theo hướng thị trường, tuân thủ yêu cầu về thương mại không phân biệt đối xử, đảm bảo quyền BĐGCDN. Do đó, để trở thành nền KTTT không muộn hơn năm 2019, đáp ứng yêu cầu hội nhập, Việt Nam cần phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế và hoàn thiện thể chế kinh tế theo hướng tuân thủ các quy luật thị trường, đảm bảo môi trường đầu tư, kinh doanh bình đẳng cho doanh nghiệp. Cùng với điều này, trong các đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) cũng coi quyền BĐGCDN là vấn đề cần được bảo đảm. Trong thực tế, quan điểm về bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, giữa các doanh nghiệp đã được Đảng và Nhà nước quan tâm từ Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), được triển khai trong Hiến pháp 1992 và trong các đạo luật.
Chính phủ cũng đã phê duyệt Đề án 1715/2009/QĐ-TTg ngày 26/10/2009 nhằm đổi mới quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp theo hướng không phân biệt hình thức sở hữu. Tuy nhiên, đi ngược với mục tiêu của nhà nước, trên thực tế, bất BĐGCDN không giảm mà đang có xu hướng gia tăng, với tính chất ngày càng đa dạng và phức tạp. Vẫn tồn tại nhiều sự phân biệt, đối xử doanh nghiệp ngay từ khi gia nhập thị trường, trong quá trình kinh doanh và trong giải thể, phá sản doanh nghiệp. Các DNNN kinh doanh độc quyền trong nhiều lĩnh vực, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc thị trường.
Một số tập đoàn kinh tế nhà nước được ưu tiên, bảo lãnh, khoanh nợ, giãn nợ, xóa nợ. Có những DNNN kinh doanh thua lỗ được sáp nhập vào tổng công ty nhà nước, giao trách nhiệm cứu vớt cho các thành viên khác mà không bị phá sản. Việc tiếp cận các dịch vụ công, nguồn vốn ưu đãi của Chính phủ, tiếp cận nguồn tài nguyên, đất đai của DNNN có nhiều thuận lợi, trong khi các doanh nghiệp thuộc kinh tế tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) còn tiếp tục gặp phải những rào cản về điều kiện kinh doanh, vay vốn, thuê đất,. Không chỉ tồn tại những bất bình đẳng do chính sách của nhà nước tạo ra, thực trạng các doanh nghiệp cạnh tranh không lành mạnh, kinh doanh hàng giả, hàng nhái, hàng lậu, trốn 10 thuế đang ngày càng gia tăng, vượt khỏi tầm kiểm soát của nhà nước cũng tạo ra bất bình đẳng, gây thiệt hại cho các doanh nghiệp kinh doanh chân chính.
Theo nghĩa khách quan, doanh nghiệp nào quản lý kinh doanh yếu kém, không cạnh tranh được tất yếu bị thanh lọc khỏi thị trường do chính sự vận động của quy luật cạnh tranh. Tuy nhiên, thực tế có những doanh nghiệp quản lý kinh doanh tốt, tôn trọng pháp luật chưa hẳn đã chiến thắng trên thương trường. Trong khi đó, doanh nghiệp quản trị yếu kém, thậm chí thua lỗ, vi phạm pháp luật nghiêm trọng vẫn có thể không bị giải thể hay phá sản. Lợi nhuận của doanh nghiệp vẫn có thể đạt được bằng những ưu tiên của nhà nước, bằng trốn thuế, kinh doanh trái phép.
Trong môi trường kinh doanh đòi hỏi nhiều chi phí bất hợp pháp, tham nhũng, hối lộ để nhận được ưu tiên, hoặc làm hàng giả, cạnh tranh không lành mạnh nhằm tối đa hóa lợi nhuận mà không bị xử lý đều là những hành vi gây ra bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Với môi trường kinh doanh bất bình đẳng, lợi nhuận không phản ánh được giá trị đích thực của hoạt động sản xuất kinh doanh. Điều đó làm nản lòng các nhà đầu tư, giảm động lực kinh doanh của doanh nghiệp và suy giảm tăng trưởng kinh tế. Sự nỗ lực của nhà nước Việt Nam trong những năm qua mới chỉ tập trung vào việc làm giảm bớt những ưu tiên, đặc quyền đối với DNNN mà chưa có giải pháp tổng thể, do đó chưa đem lại hiệu quả thực tế.
Trước những đòi hỏi từ nội tại nền kinh tế và yêu cầu của những cam kết quốc tế, việc nghiên cứu các quy định pháp luật, đánh giá quá trình thực thi nhằm xác định đúng nguyên nhân và đưa ra giải pháp phù hợp, đảm bảo quyền BĐGCDN là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam" nghiên cứu về vấn đề gì?
Tìm hiểu quy định pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam theo Luật Doanh nghiệp.
Luận án "Pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại trường đại học luật hà nội. Năm bảo vệ: 2014.
Luận án "Pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam" thuộc chuyên ngành Luật kinh tế. Danh mục: Quản Trị Kinh Doanh.
Luận án "Pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam" có bao nhiêu trang?
Luận án "Pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam" có 176 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Pháp luật về quyền bình đẳng giữa các doanh nghiệp ở Việt Nam" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.