Luận án TS Ngôn ngữ học: Ngôn ngữ kể chuyện truyện Nguyễn Khải & Nguyễn Minh Châu
Luận án nghiên cứu ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu, khám phá đặc trưng nghệ thuật và ý nghĩa sâu sắc.
Lý luận ngôn ngữ
Luan An
Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản
Số trang
231
Thời gian đọc
35 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Mục lục chi tiết
Tóm tắt nội dung
I.Điểm Nhìn Trần Thuật và Ngôn Ngữ Tự Sự Trong Truyện
Luận án tập trung vào ngôn ngữ kể chuyện. Ngôn ngữ là chất liệu nền tảng của văn chương nghệ thuật. Nó được nghệ sĩ sáng tạo thành hệ thống tín hiệu giàu cảm xúc, giá trị thẩm mỹ. Nghiên cứu này tiếp cận từ góc độ thi pháp. Nó làm rõ mối liên hệ giữa ngôn ngữ kể chuyện, điểm nhìn trần thuật và các phương thức tự sự. Truyện ngắn có đặc trưng riêng. Nó là hình thức tự sự cỡ nhỏ nhưng có sức khái quát lớn. Ngữ dụng học cung cấp nền tảng lý thuyết cho việc phân tích này.
1.1. Khái Niệm Ngôn Ngữ Kể Chuyện
Ngôn ngữ kể chuyện là công cụ chính. Nó tạo nên văn xuôi nghệ thuật. Ngôn ngữ này truyền tải sự kiện, tư tưởng. Nó gợi cảm xúc, hình dung cho độc giả. Các yếu tố như từ ngữ biểu cảm, cấu trúc câu đóng vai trò quan trọng. Ngôn ngữ kể chuyện định hình trải nghiệm của người đọc. Nó thể hiện phong cách ngôn ngữ độc đáo của tác giả.
1.2. Các Loại Điểm Nhìn Trần Thuật
Điểm nhìn trần thuật quyết định cách kể. Nó chi phối thông tin được truyền đạt. Có nhiều loại điểm nhìn khác nhau. Mỗi loại ảnh hưởng đến sự tiếp nhận của độc giả. Ngôi kể thứ nhất, ngôi kể thứ ba là phổ biến. Việc lựa chọn ngôi kể thể hiện tư tưởng nghệ thuật của nhà văn. Nó định hình giọng điệu kể chuyện, mang đến chiều sâu cho tác phẩm.
1.3. Ngữ Dụng Học và Nghệ Thuật Trần Thuật
Ngữ dụng học cung cấp công cụ phân tích ngôn ngữ. Nó xem xét cách ngôn ngữ được sử dụng trong ngữ cảnh. Phương pháp này làm sáng tỏ giao tiếp hiệu quả trong tự sự. Nó giúp hiểu rõ hơn về ý nghĩa ẩn dụ. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và ngữ cảnh là cốt lõi. Ngữ dụng học góp phần khám phá nghệ thuật trần thuật tinh tế.
II.Phân Tích Ngôn Ngữ Kể Chuyện Nguyễn Khải Sâu Sắc
Nguyễn Khải là một nhà văn lớn của văn học Việt Nam. Sự nghiệp văn chương của ông gắn liền với lịch sử đất nước. Truyện ngắn của ông đặc sắc. Nó thể hiện rõ sự biến đổi trong ngôn ngữ kể chuyện. Nghiên cứu này đi sâu vào phong cách ngôn ngữ của Nguyễn Khải. Nó phân tích các giai đoạn sáng tác, từ trước đến sau 1975. Ngôn ngữ của ông phản ánh chân thực hiện thực xã hội. Nó thể hiện một tư tưởng nghệ thuật sâu sắc qua từng cấu trúc câu.
2.1. Phong Cách Kể Chuyện Nguyễn Khải Trước 1975
Giai đoạn trước 1975, truyện ngắn Nguyễn Khải mang tinh thần thời đại. Ngôn ngữ kể chuyện thường hùng tráng. Nó tập trung cổ vũ cách mạng, động viên tinh thần. Giọng điệu kể chuyện có tính sử thi. Ngôi kể thường khách quan, bao quát. Từ ngữ biểu cảm mạnh mẽ, rõ ràng. Hình ảnh và biểu tượng gắn liền với lý tưởng cách mạng. Nghệ thuật trần thuật phục vụ mục đích tuyên truyền.
2.2. Ngôn Ngữ Đời Thường và Đối Thoại Nội Tại
Sau 1975, ngôn ngữ kể chuyện Nguyễn Khải có sự chuyển biến. Nó trở nên gần gũi hơn với đời sống thường nhật. Ngôn ngữ mang phong cách sinh hoạt đời thường. Tính đối thoại nội tại, đa thanh xuất hiện nhiều. Độc thoại nội tâm phản ánh chiều sâu tâm lý nhân vật. Cấu trúc câu linh hoạt hơn. Từ ngữ biểu cảm được dùng tinh tế, đa nghĩa. Nó cho thấy sự đổi mới trong tư tưởng nghệ thuật.
2.3. Giọng Điệu Kể Chuyện Nguyễn Khải
Giọng điệu kể chuyện của Nguyễn Khải biến đổi theo thời gian. Từ giọng khách quan, hùng tráng, nó chuyển sang chiêm nghiệm, suy tư. Giọng văn mang tính triết lý sâu sắc. Ngôi kể được vận dụng linh hoạt để thể hiện góc nhìn đa chiều. Nó tạo nên một phong cách ngôn ngữ đặc trưng. Tư tưởng nghệ thuật được truyền tải hiệu quả qua giọng điệu này. Điều này làm tăng sức hấp dẫn của nghệ thuật trần thuật.
III.Nghệ Thuật Trần Thuật Nguyễn Minh Châu Đặc Sắc
Nguyễn Minh Châu là nhà văn tiên phong đổi mới. Ông có đóng góp lớn cho văn học Việt Nam. Truyện ngắn của ông sở hữu nghệ thuật trần thuật độc đáo. Luận án phân tích sâu về ngôn ngữ của ông. Nó làm rõ sự phát triển trong phong cách ngôn ngữ. Các tác phẩm của ông thể hiện tư tưởng nghệ thuật hiện đại. Việc nghiên cứu ngôn ngữ kể chuyện Nguyễn Minh Châu là cần thiết. Nó giúp hiểu rõ hơn về tầm vóc của ông trong văn học.
3.1. Ngôn Ngữ Kể Chuyện Nguyễn Minh Châu Giai Đoạn Đầu
Giai đoạn trước 1975, truyện ngắn Nguyễn Minh Châu cũng mang tính sử thi. Nó tập trung phản ánh cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Ngôn ngữ kể chuyện rõ ràng, mạnh mẽ. Giọng điệu kể chuyện thường mang tính cổ vũ. Hình ảnh và biểu tượng gắn liền với lý tưởng. Cấu trúc câu đơn giản, mạch lạc. Nó truyền tải thông điệp một cách trực tiếp. Nghệ thuật trần thuật chủ yếu hướng ngoại.
3.2. Phong Cách Đa Thanh Đối Thoại Sau 1975
Sau 1975, Nguyễn Minh Châu có sự đổi mới mạnh mẽ. Ngôn ngữ có tính đối thoại đa thanh. Độc thoại nội tâm trở thành yếu tố nổi bật. Nó đào sâu vào thế giới nội tâm nhân vật. Từ ngữ biểu cảm được sử dụng tinh tế. Chúng gợi mở nhiều tầng nghĩa. Cấu trúc câu phức tạp hơn. Nó phản ánh sự đa chiều của hiện thực. Phong cách ngôn ngữ này thể hiện tư tưởng nghệ thuật tiên phong.
3.3. Từ Ngữ Biểu Cảm và Hình Ảnh Trong Truyện
Nguyễn Minh Châu sử dụng từ ngữ biểu cảm rất phong phú. Ông tạo ra những hình ảnh và biểu tượng sâu sắc. Chúng có sức gợi lớn, mở ra nhiều ý nghĩa. Nghệ thuật trần thuật của ông đạt đến chiều sâu triết lý. Đối thoại nhân vật được xây dựng chân thực. Độc thoại nội tâm hé lộ những mâu thuẫn bên trong. Điều này làm cho truyện ngắn của ông có giá trị lâu bền.
IV.So Sánh Phong Cách Kể Chuyện Nguyễn Khải Châu
Luận án thực hiện so sánh chuyên sâu hai tác giả. Nó làm rõ điểm tương đồng và khác biệt trong nghệ thuật trần thuật. Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu là hai cây đại thụ. Họ cùng đóng góp vào sự phát triển của văn học Việt Nam. Phân tích này khám phá quá trình đổi mới ngôn ngữ kể chuyện. Nó chỉ ra tầm ảnh hưởng của tư tưởng nghệ thuật đến cấu trúc tác phẩm. Mối liên hệ giữa hai nhà văn là đặc sắc, đáng được nghiên cứu.
4.1. Điểm Tương Đồng Trong Nghệ Thuật Tự Sự
Cả Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu đều có đóng góp lớn. Họ đều thể hiện sự chuyển mình rõ rệt sau 1975. Ngôn ngữ kể chuyện của cả hai phản ánh hiện thực xã hội. Họ nỗ lực tìm kiếm chất liệu ngôn ngữ mới. Phong cách ngôn ngữ của họ đều hướng tới sự chân thực. Nghệ thuật trần thuật của họ đều có sự đa dạng về ngôi kể và giọng điệu. Họ cùng đặt những viên gạch đầu tiên cho đổi mới văn học.
4.2. Khác Biệt Giữa Giọng Điệu Kể Chuyện Hai Tác Giả
Nguyễn Khải thường mang giọng điệu chiêm nghiệm. Ông có phần triết lý, suy tư về cuộc sống. Nguyễn Minh Châu lại thiên về khám phá nội tâm con người. Ông dùng hình ảnh, biểu tượng đậm tính triết học hơn. Ngôi kể của mỗi người cũng có sự khác biệt. Nguyễn Khải dùng ngôi kể khách quan pha lẫn suy ngẫm. Nguyễn Minh Châu thường chọn ngôi kể có sự nhập thân hơn. Điều này tạo nên phong cách ngôn ngữ riêng.
4.3. Ảnh Hưởng Tư Tưởng Nghệ Thuật Đến Cấu Trúc
Tư tưởng nghệ thuật của mỗi tác giả định hình cấu trúc tác phẩm. Cấu trúc câu, cách xây dựng đối thoại nhân vật khác nhau. Độc thoại nội tâm phản ánh thế giới quan riêng biệt. Sự lựa chọn từ ngữ biểu cảm cũng là một phần. Mỗi nhà văn có cách riêng để truyền tải thông điệp. Điều này tạo nên sự đa dạng trong nghệ thuật trần thuật. Nó làm giàu thêm phong cách ngôn ngữ của văn học Việt Nam.
V.Đổi Mới Ngôn Ngữ Kể Chuyện Truyện Ngắn Sau 1975
Giai đoạn sau 1975 là cột mốc lịch sử. Văn học Việt Nam chứng kiến nhiều đổi mới quan trọng. Hiện thực cuộc sống phức tạp, đa dạng. Nó đòi hỏi các nhà văn phải tìm kiếm ngôn ngữ mới. Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu là những người tiên phong. Họ "dũng cảm điểm danh" những vấn đề mới. Truyện ngắn của họ trở thành biểu tượng cho sự chuyển mình. Ngôn ngữ kể chuyện của họ thể hiện rõ điều này.
5.1. Bối Cảnh Lịch Sử và Yêu Cầu Đổi Mới Văn Chương
Đại thắng mùa xuân 1975 mở ra trang sử mới cho đất nước. Việt Nam độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ. Xã hội bước vào giai đoạn xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hiện thực cuộc sống đa dạng, biến động, đầy phức tạp. Văn chương cần ngôn ngữ mới để phản ánh chân thực. Ngôn ngữ kể chuyện phải sinh động hơn. Nó phải chạm đến chiều sâu con người và xã hội. Đây là tiền đề cho sự đổi mới mạnh mẽ trong văn học.
5.2. Sự Chuyển Biến Trong Ngôn Ngữ Hai Nhà Văn
Cả Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu đều nỗ lực. Họ tìm kiếm chất liệu ngôn ngữ mới để phản ánh hiện thực. Phong cách ngôn ngữ của họ thay đổi rõ rệt. Nghệ thuật trần thuật trở nên đa chiều hơn. Ngôi kể được linh hoạt. Giọng điệu kể chuyện trở nên chiêm nghiệm. Độc thoại nội tâm và đối thoại nhân vật được khai thác sâu. Từ ngữ biểu cảm, hình ảnh và biểu tượng mang ý nghĩa mới. Cấu trúc câu cũng có sự phá cách.
5.3. Vai Trò Nguyễn Khải Nguyễn Minh Châu Trong Đổi Mới
Hai nhà văn đặt những viên gạch đầu tiên cho đổi mới văn học. Sự "dũng cảm điểm danh" của họ có ý nghĩa lịch sử. Truyện ngắn của họ là ví dụ tiêu biểu. Chúng cho thấy sự tìm tòi trong ngôn ngữ kể chuyện. Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu đóng góp lớn vào sự phát triển. Họ định hình một tư tưởng nghệ thuật mới. Tác phẩm của họ được đưa vào giảng dạy. Nó chứng minh tầm vóc của họ trong văn học Việt Nam.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (231 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộĐẠI HOC QUOC GIA HÀ NOI TRUONG DAI HOC KHOA HOC XA HOI VA NHAN VAN NGON NGU KE CHUYEN TRONG TRUYEN NGAN CUA NGUYEN KHAI VA NGUYEN MINH CHAU LUAN AN TIEN SI NGON NGU HOC HA NOI - 2007 ĐẠI HỌC QUOC GIA HÀ NOI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN NGON NGU KE CHUYEN TRONG TRUYEN NGAN CUA NGUYEN KHAI VA NGUYEN MINH CHAU Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ Ma số: 62.01 LUAN AN TIEN SI NGON NGU HOC Người hướng dẫn khoa học: GS - TS Hoàng Trọng Phién HÀ NOI - 2007 MỤC LỤC Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan MỤC LỤC MỞ ĐẦU. CHƯƠNG 1: NHỮNG KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAX.1 Ba lĩnh vực kết học, nghĩa học, ngữ dung học và mỗi quan hệ của 10 CRUNG TONG NON MGT oven 10 1. Ba lĩnh vực kết học, nghĩa học, ngữ dụng học. Các vấn dé cơ bản của ngữ dụng học (Pragmaties).
Ngôn ngữ kể CHUB oon II 1. Ngôn ngữ người KE chuyện. Ngôn ngữ nhân Vật. Điểm nhìn nghệ thuật trong truyện.
Khái niệm về điểm nhìn (Point Of viewi). Các loại điểm nhìn (Types of point of viewi). Các nhân t6 của điểm nRịi. Các tính chất của điểm MIN oss 40 In.
Quan điểm của M.Bakhtin và của Kate Hamburger về ngôn ngữ 49 trong thể loại tiéu thuyết. CHƯƠNG 2: NGON NGU KE CHUYEN TRONG TRUYỆN NGAN CUA 51 NGUYEN KHÁẢ. Diém nhìn trần thuật và ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn 54 của Nguyễn Khải trước 1975. Ngôn ngữ kế chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Khải giai 54 đoạn sau J974.
Ngôn ngữ mang phong cách sinh hoạt đời thường. Ngôn ngữ đa thanh có tính đối thoại nội tại.--- se 72 CHUONG 3: NGÔN NGỮ KE CHUYEN TRONG TRUYỆN NGAN CUA 102 NGUYEN MINH CHÂU. Ngôn ngữ kế chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu 127 giai đoạn trước I975. Ngôn ngữ kế chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu 127 giai đoạn sau I97'.
Ngôn ngữ mang phong cách sinh hoạt đời thườngg.Ngôn ngữ có tính đối thoại đa thanh - một chất liệu mới trong 142 ngôn ngữ kế chuyện của Nguyễn Minh Châu sau 197%. 160 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIÁ LIÊN QUAN DEN LUẬN ÁN.22222222eee 196 TÀI LIEU THAM KHẢO.22222222022 re MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài. Ngôn ngữ là chất liệu của văn chương.
Từ một hệ thống tín hiệu giao tiếp cộng đồng cơ bản, qua sự sáng tạo của người nghệ sỹ, nó trở nên sinh sắc, giàu cảm xúc và chứa đựng giá trị thâm mĩ. Có nhiều ngành khoa học nghiên cứu hiện tượng này: Phong cách học, Thi pháp học, Ngữ dụng học. Từ góc độ thi pháp, chúng tôi chọn nghiên cứu van đề ngén ngữ kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu trong mỗi quan hệ với điểm nhìn trần thuật và các phương thức tự sự. Truyện ngắn là một thể loại của văn xuôi nghệ thuật, với những đặc trưng “nghề nghiệp” riêng thì mối liên hệ giữa ngôn ngữ kế chuyện với việc xử lý điểm nhìn trần thuật và việc lựa chọn phương thức tự sự là rất rõ rệt.
Mặt khác, với thế mạnh của một hình thức tự sự cỡ nhỏ nhưng lại có sức khái quát lớn, truyện ngăn luôn là một thé loại chủ công trong việc khám phá và cải tạo hiện thực cuộc sống. Giai đoạn 1955 -1975, trước những biến cố trọng đại của lịch sử, truyện ngắn đã góp phần đắc lực vào việc cô vũ động viên cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc đi đến thắng lợi. Nhưng cũng chính vì cái hoàn cảnh đặc biệt đất nước có chiến tranh, nên ngôn ngữ kê chuyện trong các truyện ngắn giai đoạn này cũng mang những đặc trưng riêng. Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã đưa lịch sử đất nước mở sang trang mới: Độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và xây dựng Chủ nghĩa xã hội.
Một hiện thực mới đa dạng, biến động và đầy phức tạp đã được mở ra ở khắp đất nước. Hiện thực đó đòi hỏi các nhà văn phải hình thành cho được một thứ chất liệu ngôn ngữ mới dé phản ánh chân thực, sinh động cuộc sống của con người và xã hội. Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu là hai nhà văn lớn của Văn học cách mạng Việt Nam. Sự nghiệp văn chương của hai ông gắn liền với sự nghiệp đấu tranh cách mạng của dân tộc.
Giai đoạn 1955-1975, Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của những nhà văn - chiến sỹ. Sau 1975, văn học Việt Nam chuyên mình sang giai đoạn mới, bằng sự “đũng cam điểm dam” của mình, hai ông đã đặt những viên gạch đầu tiên cho sự đổi mới bằng hàng loạt những truyện ngắn đặc sắc. Tìm hiểu truyện ngắn của hai nha văn này, chúng ta sẽ thấy rõ những đặc trưng ngôn ngữ kể chuyện trong mối quan hệ với các vẫn đề về giọng điệu, về việc sử dụng các điểm nhìn trần thuật và sự lựa chọn các hình thức tự sự. Do đạt được những thành tựu lớn trong sáng tác ở cả phương diện nội dung và nghệ thuật, một số truyện ngăn của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu được chọn đưa vào giảng day trong chương trình phổ thông.
Lựa chọn dé tài “Ngôn ngữ kế chuyện trong truyện ngắn cia Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Chau”, trước hết chúng tôi sẽ đưa ra những nhận xét xác đáng về đặc trưng ngôn ngữ kế chuyện của hai ông. Ngoài ra, dé tài còn bổ sung vào việc phân tích các tác pham văn xuôi của hai ông trong chương trình phô thông một hướng tiếp cận mới từ góc độ ngôn ngữ, giúp cho việc đọc hiểu văn bản (một khâu quan trọng trong việc phân tích tác phẩm trong nhà trường) đạt hiệu quả cao. Tông quan tài liệu 2. Những công trình nghiên cứu có liên quan đến ngôn ngữ kể chuyện Trên thế giới, vấn đề ngôn ngữ nghệ thuật trong tác phẩm văn học đã được rất nhiều người quan tâm nghiên cứu.
Trong công trình nghiên cứu Ngôn ngữ hoc và Thi pháp học, Jakobson Roman đã nêu sáu chức năng cơ bản của giao tiếp ngôn ngữ. Trong đó, ông đặc biệt chú ý đến chức năng thơ của ngôn ngữ. Theo ông, chức năng thơ của ngôn ngữ là sự định hướng của thông báo vào bản thân nó, sự tập trung chú ý vào thông báo vì chính bản thân nó [35,Tr. Lotman trong: Cau tric văn bản nghệ thuật ngôn từ (1970)[80], thì ngôn ngữ nghệ thuật đã được nghiên cứu trong mối quan hệ với nhiều vấn đề: điểm nhìn, không gian nghệ thuật, nghệ thuật ngôn từ với tư cách là kí hiệu ngôn ngữ.
Đặc biệt, bang việc phân tích một số đoạn thơ trong tiêu thuyết Evgenhi Onhegin của Puskin, nhà nghiên cứu đã chỉ ra những cấu trúc phức tạp của điểm nhìn làm xuất hiện những ngôn từ đa thanh, đa nghĩa. Trong Mikhail Bakhtin - Nguyên lý đối thoại [123], T.Todorov cho răng, khi nghiên cứu nguyên lý đối thoại của Mikhail Bakhtin phải đặt trong sự kết hợp của hai sự thật: Tư tưởng của Mikhail Bakhtin hap dan phong phú nhưng cũng tất phức tap và khó khăn trong việc tiếp cận nó. Diém nhìn và lời văn nghệ thuật trong tác phẩm văn học phải được gián tiếp đặt trong mối quan hệ với thể loại. Bản chất của ngôn từ trong văn xuôi nghệ thuật với đặc trưng riêng của thê loại đã được M.Bakhtin và Kote Hamburger dày công nghiên cứu [7, 8, 47].
Con trong Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển của văn học, M.Khrapchenco cũng đưa ra những quan điểm quan trọng về ngôn ngữ nghệ thuật [59]. Ở Việt Nam, trong cuốn Đại cương ngôn ngữ học, tập 2 [19], khi nghiên cứu về Ngữ dụng học, vẫn đề điểm nhìn cũng đã được Đỗ Hữu Châu đề cập đến. Đặc biệt, trong đó tác giả đưa ra những kiến giải quan trọng về ngôn ngữ được sử dụng trong giao tiếp. Đó là những kiến thức rất quan trọng dé chúng tôi soi chiếu vào việc tìm hiểu các tác phẩm cụ thé trong luận án.
Còn Nguyễn Đức Dân với Logic và Tiếng việt [24], thì ngôn ngữ kế chuyện và điểm nhìn được nghiên cứu như là những yếu tổ trong giao tiếp nói năng. Vấn đề đó tiếp tục được nghiên cứu gan liền với sáng tác văn chương hơn trong các công trình của Đặng Anh Đào với Đổi mới tiểu thuyết phương Tây hiện đại [29], Trần Đình Sử với Giáo trình dẫn luận thi pháp học [98] và Nguyễn Thái Hòa với Những van dé thi pháp của truyện [61]. Trong những công trình đó, thì cả điểm nhìn và ngôn ngữ kể chuyện được nghiên cứu như những yếu tổ của thi pháp. Nguyễn Lai trong Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học, bằng việc tìm hiểu bản chất hệ thống và bản chất tín hiệu của ngôn ngữ, đã chỉ ra mối quan hệ rất linh hoạt giữa nội dung và hình thức của ngôn ngữ va ông cho rằng: ”mã hình tượng là một loại tín hiệu lay mã ngôn ngữ làm tiền dé, nhưng nó không dong nhất với mã ngôn ngữ về mặt cấp độ” [76,Tr.
Một trong những đặc trưng cơ ban của thể loại truyện ngắn là ngắn gon và ham súc. Đặc điêm đó giúp cho truyện ngăn luôn bam sát và nhạy bén trước mọi đổi thay của đất nước. Thực tế phát triển và những thành tựu to lớn mà truyện ngắn đạt được, đã thu hút nhiều công trình nghiên cứu, đặc biệt là các van đề về ngôn ngữ, giọng điệu và điểm nhìn trong truyện ngăn [4,12, 99,107]. Trong “Phong cách học với việc dạy văn và lý luận phê bình văn học ” [34], bằng việc coi tác phẩm văn học như những tác phâm nghệ thuật ngôn từ, Hữu Đạt đã chiếu một cái nhìn mới vào những tác phẩm văn học của một thời đã qua và làm phát ra ở chúng những ánh sáng khác lạ.
Hướng khai thác của tác giả đã là một gợi ý rất bổ ich cho chúng tôi. Đặc biệt, Hội nghị T sự học tô chức tại Hà Nội tháng 11 năm 2003 đã tập hợp được rất nhiều bài viết của các nhà phê bình nghiên cứu thể hiện những biện giải xác đáng, có liên quan đến lĩnh vực điểm nhìn và ngôn ngữ kê chuyện trong văn xuôi nghệ thuật. Đáng chú ý là các bài viết của Hoàng Ngọc Hiến với “Kể lại nội dung và viết nội dung” [54], Nguyễn Thái Hòa với “Điểm nhìn trong lời nói giao tiếp và điểm nhìn nghệ thuật trong truyện” [62], Đỗ Hải Phong với “Van dé người kể chuyện trong thi pháp tự sự hiện đại [90], Trần Đình Sử với “Về mô hình tự sự TÌruyện Kiều 1102], Nguyễn Hoài Thanh với “Sw độc đáo trong li thuật kề của “Ong vua phóng sự” Vũ Trọng Phụng ”[105], Đặng Anh Đào voi “Sự phát triển nghệ thuật tự sự ở Việt Nam- một vài hiện tượng đáng lưu ý “I80].
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Ngôn ngữ kể chuyện truyện ngắn Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án nghiên cứu ngôn ngữ kể chuyện trong truyện ngắn của Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu, khám phá đặc trưng nghệ thuật và ý nghĩa sâu sắc.
Luận án "Ngôn ngữ kể chuyện truyện ngắn Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Năm bảo vệ: 2007.
Luận án "Ngôn ngữ kể chuyện truyện ngắn Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Ngôn ngữ kể chuyện truyện ngắn Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu" thuộc chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ. Danh mục: Ngôn Ngữ Học.
Luận án "Ngôn ngữ kể chuyện truyện ngắn Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu" có bao nhiêu trang?
Luận án "Ngôn ngữ kể chuyện truyện ngắn Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu" có 231 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Ngôn ngữ kể chuyện truyện ngắn Nguyễn Khải và Nguyễn Minh Châu" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.