Tổng quan về luận án

Công trình nghiên cứu "Hệ thống nhân vật trong sử thi M'nông và vấn đề thể loại" của nghiên cứu sinh Triệu Văn Thịnh (chuyên ngành Văn học dân gian, mã số 62.01, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015, dưới sự hướng dẫn của GS.TS Lê Chí Quế và PGS.TS Đỗ Hồng Kỳ) là một khảo cứu học thuật mang tính đột phá về kho tàng sử thi Ot Ndrong của tộc người M'nông ở Tây Nguyên.

Về bối cảnh khoa học, dù văn học dân gian Tây Nguyên từng bị viên công sứ Pháp Léopold Sabatier võ đoán nhận định trong bản dịch Dăm Săn năm 1925 rằng: "Nhưng cay đắng thay, bằng chứng về văn chương của người Mọi cũng là cái cuối cùng", thực tế các giai đoạn điền dã từ thập niên 1980 đến "Dự án Điều tra, sưu tầm, bảo quản, biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên" (2001–2007) đã chứng minh khối lượng di sản đồ sộ của khu vực. Riêng thể loại Ot Ndrong của người M'nông được phát hiện tương đối muộn (năm 1988 tại bon Bu Đốp, xã Đắk Mmol, huyện Đắk Song, Đắk Nông) nhưng đã ghi nhận 215 bản hát kể ghi âm và xuất bản được 26 tác phẩm với 32 tập sách song ngữ M'nông - Việt qua sự diễn xướng và chuyển dịch then chốt của nghệ nhân Điều Kâu.

Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi xuất phát từ thực trạng: các nghiên cứu trước đây (Đỗ Hồng Kỳ, 1996; Phan Đăng Nhật, 1999; Ngô Đức Thịnh, 2002; Bùi Thiên Thai, 2005) mới dừng lại ở việc tiếp cận đơn lẻ từng tác phẩm hoặc khảo sát khái quát nhân vật trung tâm, dẫn đến sự phân hóa sâu sắc trong việc định danh thể loại. Câu hỏi nghiên cứu được luận án giải quyết bao gồm:

  1. Hệ thống nhân vật trong Ot Ndrong được cấu trúc thành những tuyến, loại hình nào và mang đặc trưng thi pháp gì?
  2. Mối quan hệ tương tác giữa hệ thống nhân vật với không gian diễn xướng, vũ trụ quan ba tầng (ka lơ trôk - tầng trời, ka lơ neh - tầng mặt đất, tâm nâm neh - tầng âm phủ) phản ánh tiến trình vận động lịch sử - xã hội nào của người M'nông?
  3. Căn cứ vào thi pháp xây dựng nhân vật và kết cấu tự sự, thể loại Ot Ndrong thuộc tiểu loại nào: sử thi thần thoại (sáng thế), sử thi phổ hệ, chuỗi sử thi hay sử thi anh hùng (thiết chế xã hội)?

Khung lý thuyết của luận án vận dụng lý thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Friedrich Engels về bước chuyển từ thời đại mông muội sang dã man, thi pháp tự sự học của Aristotle và E.M. Meletinsky, cùng lý thuyết công thức truyền thống (Oral-Formulaic Theory) của Milman Parry và Albert Lord. Phạm vi khảo sát bao quát 32 tác phẩm sử thi Ot Ndrong đã xuất bản, tập trung phân tích chuyên sâu 11 văn bản tiêu biểu (Bông, Rong và Tiăng, Đẻ Tiăng, Đẻ Lênh, Lênh nghịch da thần của Yang, Mùa ray bon Tiăng, Cây nêu thần, Đi giành lại đàn Ndring, Cướp chiêng cổ bon Tiăng, Cướp Djăn, Dje, Con diều lá cướp Bing con Jri, Bắt con lươn ở suối Đắk Hũch), gắn liền với tổng thể địa bàn tộc người M'nông gồm 102.741 người (Tổng điều tra dân số 2009), tập trung chủ yếu tại Đắk Nông (39,3%) và Đắk Lắk (38,9%).

Literature Review và Positioning

Tiến trình nghiên cứu văn hóa và sử thi M'nông ghi nhận dấu mốc đầu tiên từ công trình dân tộc học Nous avons mangé la forêt (Chúng tôi ăn rừng, 1957) của học giả Pháp Georges Condominas khi nghiên cứu nhóm M'nông Gar tại Lắk (Đắk Lắk), ghi nhận hình thức kể noo proo: "Và câu chuyện nói đến nào noo proo, nào anh hùng ca mới hay ho làm sao: cuộc sáng tạo ra thế giới, trận đại hồng thuỷ, con người bị quỷ nhai nuốt và phun ra, biển nhấn chìm cả một đạo quân". Tại Việt Nam, từ những ghi nhận sơ khởi của Võ Quang Nhơn (1981, 1983) và Bế Viết Đẳng (1982), nghiên cứu Ot Ndrong chính thức bùng nổ sau đợt khảo sát năm 1988 của đoàn công tác do Ngô Đức Thịnh, Đỗ Hồng Kỳ, Tô Đông Hải và Nguyễn Tấn Đắc thực hiện.

Tổng quan y văn chỉ ra các luồng tranh luận học thuật đối lập về bản chất thể loại:

  • Luồng quan điểm sử thi thần thoại / cổ sơ: Đỗ Hồng Kỳ (1990, 1996, 2008) kiên định lập luận: "Sử thi M’nông là sử thi cổ sơ - sử thi thần thoại (đúng hơn là thần thoại - sử thi) với ý nghĩa đầy đủ của từ này", nhấn mạnh tính nguyên hợp, chức năng sinh hoạt nghi lễ và sự chi phối của thế giới thần linh.
  • Luồng quan điểm sử thi phổ hệ: Phan Đăng Nhật (1998, 1999) khẳng định Ot Ndrong là "bộ sử thi phổ hệ đồ sộ", quy tụ các sự kiện xoay quanh gia tộc bon Tiăng.
  • Luồng quan điểm chuỗi sử thi và sử thi anh hùng: Bùi Thiên Thai (2005) qua khảo cứu Con đỉa nuốt bon Tiăng cho rằng đây là "sử thi anh hùng", đồng thời phân biệt thuật ngữ chuỗi sử thi (epic cycle) với sáng tác liên hoàn (ring composition), bác bỏ tính chất phổ hệ vì Ot Ndrong thiếu trục huyết thống "cha truyền con nối" qua nhiều thế hệ như sử thi Manas của người Kyrgyz.
  • Luồng quan điểm sử thi thiết chế xã hội: Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2009) nhận định Ot Ndrong thuộc "sử thi cổ sơ - thiết chế xã hội", trong khi Trần Thị An (2006) khi khảo sát Róch, Rong bắt hồn Lêng lại chỉ ra "tính chất thô sơ được thể hiện man mác khắp tác phẩm sử thi này... việc 'đơm' một người anh hùng như Yang không khác xa việc đơm một con cá".
  • Luồng thi pháp học công thức truyền thống: Nguyễn Việt Hùng (2011) mô hình hóa cấu trúc tự sự và hệ thống công thức truyền miệng trong diễn xướng.

Luận án định vị bản thân bằng việc đối thoại trực tiếp với các mô hình phân loại quốc tế: khung phân loại của Triều Qua Kim (Chao Gejin, 2008) chia sử thi thành 3 nhóm (truyền miệng dân gian như Mahabharata, Ramayana, Iliad, Odyssey; văn nhân sáng tác như La Gerusalemme liberata của Torquato Tasso, Divina Commedia của Dante; chuẩn ghi chép thành sách như Kalevala của Elias Lönnrot) và 3 loại hình Trung Quốc (sáng thế, di cư, anh hùng theo Nông Quán Phẩm). So với sử thi Iliad (Hy Lạp) vốn là chuỗi sử thi chiến tranh hoàn chỉnh, hay Manas (Kyrgyzstan) với 8 thế hệ anh hùng kế tục, Ot Ndrong lưu giữ một cấu trúc đặc thù: sự đan xen giữa nhân vật thần thoại khai thiên lập địa với anh hùng văn hóa và anh hùng chiến trận trong không gian nguyên hợp.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án đóng góp quan trọng vào lý thuyết thi pháp thể loại và nhân vật học văn học dân gian bằng việc bổ sung, kiểm chứng các luận điểm lý thuyết kinh điển:

  1. Mở rộng lý thuyết chuyển biến hình thái xã hội của Friedrich Engels: Dựa trên tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước, luận án chứng minh mối quan hệ giữa hai anh em ruột Bông và Rong trong Ot Ndrong phản ánh sự chuyển đổi từ chế độ quần hôn sang gia đình đối ngẫu thuộc giai đoạn cuối thời đại mông muội sang đầu thời đại dã man. Hiện tượng nhân vật Lêng phá vỡ tập tục hôn nhân "con cậu con bác" (kon kông kon wa) để cướp nàng Bing con Jri bên kia biển cả chứng minh quy luật vận động sang chế độ ngoại hôn và mầm mống chuyển giao từ mẫu quyền sang phụ quyền (thể hiện qua vai trò thủ lĩnh bon làng của Tiăng và hành động quyết liệt của Mbông trong Ndu thăm Tiăng).
  2. Xác lập mô hình phân tầng nhân vật sử thi nguyên hợp: Luận án đề xuất mô hình phân tầng 3 bậc độc đáo:
    • Tuyến nhân vật trung tâm: Phân hóa thành ba nhóm chức năng gồm Nhân vật khai thiên lập địa (Krak Lưn, Ndu - thần tạo tác sông núi, muôn loài), Nhân vật anh hùng văn hóa (Tiăng - tổ chức sản xuất, bảo vệ phong tục), và Nhân vật anh hùng chiến trận (Lêng, Yang, Mbông - chinh phạt, bảo vệ của cải gia tộc).
    • Tuyến nhân vật bổ trợ: Nhân vật thần kỳ, Nhân vật người đẹp (Bing con Jri, Djăn, Dje), Nhân vật đối lập (quái vật, kẻ thù ngoại tộc).
    • Tuyến nhân vật bối cảnh: Nhân vật cộng đồngNhân vật truyền tích.
  3. Định danh bản chất tiểu loại của Ot Ndrong: Luận án khẳng định tính chất cốt lõi của Ot NdrongSử thi thần thoại (chứa đựng các mầm mống chuyển hóa sang sử thi anh hùng), bác bỏ định danh sử thi phổ hệ thuần túy do cấu trúc nhân vật chỉ tập trung tối đa ở thế hệ thứ nhất và thứ hai, thế hệ thứ ba chỉ xuất hiện đơn lẻ nhân vật Mbông.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp đa tầng giữa:

  • Thi pháp không gian - thời gian huyền thoại: Khảo sát cấu trúc vũ trụ ba tầng tương ứng với biên độ hoạt động của các nhân vật.
  • Thi pháp cốt truyện tự sự liên kết: Cấu trúc cốt truyện đơn (độc lập hoặc đứt quãng) lắp ghép thành cốt truyện liên kết theo mô thức hành động: $$\text{Ra đi (từ thị tộc mẫu hệ)} \rightarrow \text{Chiến đấu/Lao động} \rightarrow \text{Trở về/Xác lập trật tự}$$
  • Thi pháp ngôn từ và công thức diễn xướng: Phân tích sự kết hợp giữa ngôn ngữ trần thuật khách quan của văn xuôi, tính nhạc của Nao mpring (lời nói vần sử dụng vần lưng, vần đầu dày đặc) và hành động kịch tính thông qua các công thức miêu tả cố định (như mô-típ chim pũt, chim kéc kêu báo hiệu).

Biên giới hạn định của khung phân tích nằm ở tính quy ước cộng đồng: nhân vật sử thi M'nông không mang cá tính tâm lý tư sản hiện đại mà là sự hiện thân của ý chí tập thể thị tộc; phẩm chất nhân vật đại diện cho lý tưởng cộng đồng bon làng cổ sơ.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế trên lập trường triết học duy vật biện chứng và chủ nghĩa hiện thực phê phán, kết hợp quan điểm loại hình học văn hóa - lịch sử (cultural-historical typological approach). Thiết kế nghiên cứu đa tầng bao gồm:

  • Tầng văn bản học (Textual Level): Khảo cứu 32 văn bản sử thi đã dịch nghĩa và xuất bản.
  • Tầng thi pháp học (Poetic Level): Phân tích cấu trúc nhân vật, cốt truyện, thủ pháp nghệ thuật (mô phỏng, trùng điệp, phóng đại).
  • Tầng nhân học văn hóa (Anthropological Level): Gắn nhân vật với không gian văn hóa cồng chiêng, nghi lễ nông nghiệp (Tâm ngêt - đâm trâu, ăn năm uống tháng) và tập tục luật tục M'nông.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình nghiên cứu triển khai theo 4 giai đoạn chuẩn mực:

  1. Thu thập và chuẩn hóa dữ liệu: Lập danh mục và thống kê toàn bộ hệ thống nhân vật trong 32 tác phẩm sử thi Ot Ndrong (đối chiếu trực tiếp với các bản ghi chép của Viện Nghiên cứu Văn hóa).
  2. Điền dã dân tộc học: Khảo sát thực địa tại các địa bàn trọng điểm cư trú của người M'nông thuộc tỉnh Đắk Nông (huyện Đắk Song, Đắk Mil, Tuy Đức, Krông Nô) và Đắk Lắk (huyện Lắk, Buôn Đôn), phỏng vấn sâu các nghệ nhân am hiểu luật tục và nghệ thuật diễn xướng như Ma Ngọc (trưởng bon Bu Prâng), già làng Ma Giêm (bon Bu N’Drung Lu).
  3. Tam giác đạc tư liệu (Data Triangulation): Đối chiếu chéo giữa (1) văn bản song ngữ xuất bản của nghệ nhân Điều Kâu, (2) dữ liệu hồi cố dân tộc học về luật tục xử kiện ngoại tình, không chồng mà chửa, hôn ước, và (3) các ghi chép cổ điển của Georges Condominas.
  4. Độ tin cậy và hiệu lực: Sử dụng phương pháp phân tích so sánh liên văn bản (intertextual comparison) giữa sử thi M'nông với sử thi Êđê (Dăm Săn, Dăm Di), Ba Na, Raglai để xác định tính khu biệt thể loại.

Data và phân tích

Dữ liệu phân tích bao quát:

  • Dữ liệu nhân khẩu học - tộc người: 102.741 người M'nông tại Việt Nam (theo Điều tra 2009) phân bố tại Đắk Nông (39.964 người), Đắk Lắk (40.344 người), Lâm Đồng (9.099 người), Bình Phước (8.599 người) cùng hơn 20.000 người M'nông sinh sống tại tỉnh Mondulkiri (Campuchia).
  • Dữ liệu tác phẩm: 32 tác phẩm sử thi xuất bản với dung lượng hàng vạn câu văn vần.
  • Kỹ thuật phân tích định tính chuyên sâu: Phân tích cấu trúc tự sự theo chức năng nhân vật (tương tự phương pháp Vladimir Propp nhưng hiệu chỉnh theo đặc thù sử thi cổ sơ); phân tích diễn ngôn thi pháp đối với các hình tượng biểu trưng như biểu tượng ĐÁ (nguồn gốc sinh ra con người và Tiăng), biểu tượng cây thần, thú tổ.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Xác lập hệ thống phân loại nhân vật hoàn chỉnh đầu tiên của Ot Ndrong: Khảo sát toàn diện 32 tác phẩm đã chứng minh nhân vật trong Ot Ndrong chia tách thành 7 nhóm cụ thể, trong đó nhân vật anh hùng văn hóa Tiăng giữ vai trò hạt nhân tổ chức xã hội, còn Lêng, Yang, Mbông đại diện cho sức mạnh cơ bắp của thị tộc.
  2. Giải mã tính chất "thô sơ" như một chỉ dấu thi pháp của sử thi cổ sơ: Khác với các thiên sử thi cổ điển có sự trau chuốt ngôn từ, hành động của nhân vật trong Ot Ndrong phản ánh chân thực các động tác lao động và cận chiến nguyên thủy: "vật", "đè", "ôm", "đẩy tay", "móc chân", "lôi", "ôm chặt", "ôm dính" và vũ khí chủ yếu là "chài, đơm, các loại dây" (Trần Thị An, 2006). Đây không phải là sự "yếu kém của trí tưởng tượng" mà là bằng chứng văn bản học chứng minh Ot Ndrong bảo lưu nguyên vẹn dấu ấn của thời kỳ công xã nguyên thủy.
  3. Chứng minh tính nguyên hợp giữa thần thoại sáng thế và biến cố xã hội: Cốt truyện của Ot Ndrong đan cài trực tiếp giữa các hiện tượng thiên tai (đại hồng thủy, động đất, hạn hán) với xung đột gia tộc do vi phạm luật tục hoặc tranh đoạt của cải (chiêng, ché N'tô trị giá bằng 6 con trâu hoặc 1 con voi trưởng thành, đàn Ndring, nàng Bing con Jri).
  4. Khẳng định Ot Ndrong không phải là sử thi phổ hệ: Trục tự sự không vận hành theo phả hệ kế tục đa thế hệ kiểu cha truyền con nối kéo dài mà vận động theo mô thức chuỗi cốt truyện đơn xoay quanh không gian trung tâm là bon Tiăng.

Implications đa chiều

  • Về mặt lý thuyết: Cung cấp cứ liệu vững chắc để phân định ranh giới giữa sử thi thần thoại (sáng thế) và sử thi anh hùng (thiết chế xã hội) trong văn học dân gian Đông Nam Á, đóng góp cho kho tàng lý luận thể loại folklore thế giới.
  • Về mặt phương pháp luận: Xác lập quy trình tiếp cận liên ngành giữa văn học dân gian, dân tộc học và luật tục học trong việc giải mã văn bản sử thi truyền miệng.
  • Về ứng dụng thực tiễn và chính sách bảo tồn:
    • Đề xuất mô hình hóa công thức truyền thống để hỗ trợ nghệ nhân truyền dạy Ot Ndrong trong cộng đồng.
    • Cung cấp luận cứ khoa học cho các cơ quan quản lý văn hóa tại Đắk Nông, Đắk Lắk trong việc bảo tồn không gian diễn xướng sống của di sản Không gian văn hóa Cồng chiêng Tây Nguyên và kho tàng sử thi Tây Nguyên được UNESCO vinh danh.

Limitations và Future Research

Luận án thẳng thắn chỉ ra các giới hạn nghiên cứu:

  1. Rào cản ngôn ngữ bản tộc: Do hầu hết các nhà nghiên cứu không phải là người M'nông bản ngữ, việc tiếp cận văn bản phải thông qua các bản dịch tiếng Việt (chủ yếu của nghệ nhân Điều Kâu), dẫn đến nguy cơ thất thoát một phần sắc thái ngữ nghĩa, nhạc tính và tính đa nghĩa của ngôn ngữ M'nông cổ.
  2. Môi trường diễn xướng nguyên bản bị thu hẹp: Sự chuyển đổi phương thức sản xuất từ nương rẫy truyền thống sang cây công nghiệp (cà phê, cao su, hồ tiêu) và sự biến mất của nhà dài trệt (dài 60–70m) khiến môi trường diễn xướng tự nhiên của Ot Ndrong bị mai một nghiêm trọng, nghiên cứu chủ yếu dựa trên văn bản đã xuất bản.

Chương trình nghiên cứu tiếp nối (Future Agenda):

  • Ứng dụng công nghệ xử lý ngôn ngữ tự nhiên (NLP) và cơ sở dữ liệu số để xây dựng "Hồ sơ công thức truyền thống" (Oral Formulas Corpus) cho toàn bộ 215 bản kể Ot Ndrong.
  • Nghiên cứu so sánh xuyên quốc gia giữa Ot Ndrong của người M'nông tại Việt Nam với truyền thống noo proo của người Pnong tại tỉnh Mondulkiri (Campuchia).
  • Đi sâu giải mã hệ thống biểu tượng vật linh (totemism) và cấu trúc mẫu hệ trong mối tương quan với luật tục xử phạt cổ truyền.

Tác động và ảnh hưởng

  • Tác động học thuật: Luận án là tài liệu tham khảo chuẩn mực trong các chương trình đào tạo sau đại học ngành Văn học dân gian, Văn hóa học và Dân tộc học tại Việt Nam; tạo tiền đề cho hàng chục công trình trích dẫn và phát triển lý thuyết về sử thi Tây Nguyên.
  • Tác động chính sách: Đóng góp trực tiếp vào cơ sở dữ liệu thực hiện các đề án bảo tồn văn hóa các dân tộc thiểu số tại vùng Tây Nguyên theo định hướng của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
  • Tác động xã hội và cộng đồng: Nâng cao ý thức tự hào tộc người của cộng đồng M'nông đối với di sản văn hóa phi vật thể đồ sộ bậc nhất Đông Nam Á, thúc đẩy phục dựng các không gian sinh hoạt văn hóa dân gian gắn với du lịch di sản bền vững.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Nắm bắt phương pháp phân tích nhân vật học sử thi và cách giải quyết tranh luận thể loại phức tạp.
  • Các nhà nghiên cứu văn học dân gian và nhân học: Khai thác kho tư liệu hệ thống về 32 tác phẩm sử thi và hệ thống luật tục M'nông.
  • Cơ quan quản lý văn hóa địa phương: Ứng dụng các đề xuất bảo tồn nghệ nhân và môi trường diễn xướng Ot Ndrong.
  • Giảng viên đại học: Sử dụng làm giáo trình chuyên đề về Văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của nghiên cứu là gì? Đó là việc chứng minh và xác lập luận điểm: Ot Ndrong thuộc tiểu loại Sử thi thần thoại mang tính chất cổ sơ nguyên hợp, bác bỏ quan điểm xem đây là sử thi phổ hệ thuần túy hoặc sử thi anh hùng cổ điển, đồng thời vận dụng thuyết hình thái gia đình của Friedrich Engels để giải mã bước chuyển giao lịch sử - xã hội được phản chiếu qua hành vi nhân vật.

2. Đột phá phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây? Nếu Đỗ Hồng Kỳ (1996) tiếp cận khi tư liệu còn hạn chế, Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2009) chỉ khảo sát 9 tác phẩm, thì nghiên cứu này thực hiện phương pháp thống kê, phân loại toàn diện trên toàn bộ 32 tác phẩm Ot Ndrong đã xuất bản kết hợp điền dã tam giác đạc với luật tục thực địa.

3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu nghiên cứu? Hành động chiến trận của nhân vật sử thi M'nông hoàn toàn không được lý tưởng hóa hay thần thánh hóa bằng vũ khí siêu nhiên rực rỡ như sử thi phương Tây (Achilles) hay Ấn Độ (Arjuna), mà thể hiện sự thô mộc tối đa với các công cụ bắt cá hàng ngày (chài, đơm, dây trói) và các đòn thế đấu vật nguyên thủy, minh chứng cho tính nguyên hợp mộc mạc chưa qua gọt giũa của văn nhân.

4. Nghiên cứu có cung cấp giao thức tái lập (replication protocol) không? Có. Toàn bộ hệ thống 7 nhóm nhân vật, danh mục 32 văn bản khảo sát và sơ đồ phả hệ các tuyến nhân vật tại bon Tiăng được hệ thống hóa chi tiết trong hệ thống phụ lục khoa học, cho phép các nhà nghiên cứu độc lập kiểm chứng và đối chiếu văn bản học.

5. Chương trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được vạch ra như thế nào? Tập trung vào 3 hướng: (1) Số hóa và lập bản đồ GIS các địa danh huyền thoại trong Ot Ndrong, (2) Thu âm đối chiếu trực tiếp ngôn ngữ bản tộc M'nông Preh, Nong, Gar để hiệu chỉnh bản dịch văn bản, và (3) Xây dựng hồ sơ đệ trình bổ sung công nhận di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại cho kho tàng sử thi M'nông.

Kết luận

  1. Nghiên cứu đã hoàn thành việc khảo sát quy mô và hệ thống hóa toàn bộ 7 nhóm nhân vật trong 32 tác phẩm sử thi Ot Ndrong đã xuất bản của người M'nông.
  2. Giải quyết dứt điểm các bất đồng học thuật kéo dài hàng thập kỷ, xác định Ot Ndrongsử thi thần thoại (cổ sơ), lưu giữ dấu ấn của bước chuyển từ thời đại mông muội sang dã man và từ thị tộc mẫu hệ sang phụ hệ.
  3. Làm sáng tỏ tính nguyên hợp đặc thù của thi pháp Ot Ndrong thông qua sự gắn kết giữa không gian vũ trụ ba tầng, cốt truyện liên kết chắp đoạn và thể thức văn vần Nao mpring.
  4. Cung cấp hệ thống chứng cứ khoa học thực địa và văn bản học khẳng định kho tàng sử thi M'nông là di sản tự sự dân gian đồ sộ, có giá trị học thuật sánh ngang với các pho sử thi truyền miệng lớn trên thế giới.
  5. Mở ra các hướng nghiên cứu liên ngành mới về ngôn ngữ học thi pháp, nhân học luật tục và công nghệ số hóa bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể Tây Nguyên.