Khảo sát đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại - Hồ Văn Hải
Nghiên cứu đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại qua tác phẩm các nhà thơ, mang đến cái nhìn sâu sắc về sự phát triển văn học.
Lý luận ngôn ngữ
Luan An
Luận án Tiến sĩ
Năm xuất bản
Số trang
206
Thời gian đọc
31 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Mục lục chi tiết
Tóm tắt nội dung
I.Đặc điểm chung ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại
Thơ lục bát là biểu tượng văn hóa quan trọng của Việt Nam. Đây là thể thơ thuần túy, có sức sống mãnh liệt. Lục bát đồng hành cùng sự phát triển của ngôn ngữ, văn hóa dân tộc. Nó được coi là “nhịp thở giống nòi”. Thể thơ này ra đời từ sớm, bắt nguồn từ ca dao, giai điệu đồng quê. Lục bát không ngừng phát triển, chiếm lĩnh thi hứng chính thống. Vị trí của nó không thể thay thế trong văn học. Nguyễn Du, Tản Đà, Huy Cận, Nguyễn Bính, Tố Hữu, Nguyễn Duy là những tác giả tiêu biểu. Họ đã đóng góp lớn vào sự phong phú của lục bát. Phát triển lục bát là trau dồi bản sắc, phát triển văn hóa dân tộc. Nghiên cứu ngôn ngữ lục bát có ý nghĩa lớn. Nó không chỉ quan trọng với ngôn ngữ học, văn học. Nó còn hữu ích cho tâm lí học, lịch sử học, văn hóa học, xã hội học. Luận án này khảo sát sâu các đặc trưng ngôn ngữ của thể thơ này trong giai đoạn hiện đại.
1.1. Vị thế và tầm quan trọng của lục bát
Lục bát giữ vai trò trung tâm trong thi ca Việt Nam. Cấu trúc cặp dòng lục-bát thể hiện sự hài hòa. Phân bố thanh điệu, hiệp vần, ngắt nhịp cân đối. Lục bát được thử thách qua thời gian, chứng tỏ sức sống. Người Việt dùng lục bát để đọc, ngâm, ví, hát ru. Đây là thể thơ bình dân, tinh luyện từ ca dao. Ngôn ngữ thơ lục bát mang đậm bản sắc dân tộc. Nó là giá trị văn hóa ổn định, minh chứng cho sự tồn tại của cộng đồng. Thể thơ này là linh hồn của dân tộc Việt Nam.
1.2. Lịch sử nghiên cứu và xu hướng phát triển
Nhiều công trình nghiên cứu về lục bát đã được thực hiện. Tuy nhiên, phần lớn tập trung vào ca dao. Chúng thường xem xét từ bình diện lí luận phê bình. Ít tác giả chú trọng tiến trình thể loại. Cấu trúc hình thức âm luật cũng chưa được quan tâm đầy đủ. Lục bát hiện đại từng bị đánh giá thấp. Một số ý kiến cho rằng nó hoàn thành sứ mệnh sau Truyện Kiều. Thành tựu to lớn của lục bát hiện đại chưa được nghiên cứu thỏa đáng. Luận án này khắc phục khoảng trống đó. Nó nghiên cứu lục bát hiện đại từ góc độ ngôn ngữ học.
II.Phân tích ngữ âm và âm luật thơ lục bát hiện đại
Ngữ âm đóng vai trò cốt lõi trong thơ lục bát. Nó tạo nên âm hưởng, nhịp điệu đặc trưng. Sự hài hòa của thanh điệu, vần điệu, nhịp điệu là nền tảng. Lục bát hiện đại kế thừa, phát triển âm luật truyền thống. Các nhà thơ tìm kiếm sự đổi mới trong cấu trúc âm thanh. Họ thử nghiệm cách ngắt nhịp, gieo vần sáng tạo hơn. Mục đích là để biểu đạt cảm xúc, ý tưởng phức tạp hơn. Phân tích âm điệu giúp hiểu sâu sắc hơn về ý nghĩa thơ. Đặc điểm thi pháp lục bát hiện đại thể hiện rõ qua ngữ âm. Sự biến đổi này làm cho thơ lục bát không ngừng thích nghi. Nó vẫn giữ được linh hồn của mình. Âm luật thơ lục bát hiện đại không chỉ tuân thủ quy tắc. Nó còn thể hiện sự phá cách, độc đáo của từng tác giả. Các yếu tố ngữ âm góp phần tạo nên tính nhạc của thơ. Nó tạo nên sức hấp dẫn khó cưỡng của lục bát. Sự đa dạng trong âm điệu phản ánh sự đa dạng trong tư duy nghệ thuật.
2.1. Âm điệu vần điệu nhịp điệu lục bát
Âm điệu, vần điệu, nhịp điệu là ba yếu tố cơ bản của lục bát. Chúng tạo nên sự hài hòa, du dương cho thơ. Phân bố thanh điệu nghiêm ngặt trong mỗi câu. Tiếng thứ sáu câu lục vần với tiếng thứ sáu câu bát. Tiếng thứ tám câu bát vần với tiếng thứ sáu câu lục tiếp theo. Nhịp điệu lục bát hiện đại có nhiều biến thể. Nó linh hoạt hơn so với truyền thống. Các nhà thơ hiện đại thường phá vỡ nhịp điệu cố định. Mục đích là để tạo điểm nhấn hoặc sự bất ngờ. Vần thơ lục bát có thể là vần lưng, vần chân. Sự kết hợp vần phong phú làm tăng tính biểu cảm. Âm điệu thơ có thể trầm bổng, nhanh chậm khác nhau. Nó phù hợp với nội dung biểu đạt.
2.2. Biểu hiện ngữ âm đặc trưng trong âm luật
Ngữ âm trong lục bát hiện đại có nhiều biểu hiện độc đáo. Nó thể hiện qua các tác phẩm của Nguyễn Bính, Huy Cận, Tố Hữu, Nguyễn Duy. Nguyễn Bính dùng vần điệu mộc mạc, gần gũi dân gian. Huy Cận mang đến âm hưởng triết lí, sâu lắng. Tố Hữu khai thác nhịp điệu hùng tráng, truyền cảm. Nguyễn Duy lại có cách ngắt nhịp hiện đại, táo bạo. Những nhà thơ này đã làm phong phú âm luật lục bát. Họ đưa vào những thử nghiệm mới. Các biểu hiện ngữ âm không chỉ tạo tính nhạc. Nó còn góp phần kiến tạo nghĩa, gợi hình ảnh. Sự thay đổi trong âm luật phản ánh sự biến đổi của thời đại. Nó thể hiện sự tự do trong sáng tạo nghệ thuật.
III.Phương thức tạo nghĩa độc đáo thơ lục bát hiện đại
Thơ lục bát hiện đại phát triển đa dạng phương thức tạo nghĩa. Nó không chỉ dừng lại ở cách biểu đạt truyền thống. Các nhà thơ tìm kiếm những cách thức mới để truyền tải thông điệp. Họ làm phong phú từ vựng thơ lục bát hiện đại. Cú pháp thơ lục bát cũng được đổi mới, sáng tạo. Điều này giúp thơ mang tính biểu cảm cao hơn. Các phương thức tạo nghĩa thường liên kết chặt chẽ với nhau. Chúng tạo nên một hệ thống biểu đạt phức tạp, nhiều lớp. Mục tiêu là để gợi mở suy tư, cảm xúc cho người đọc. Tính biểu cảm trong thơ là yếu tố quan trọng. Nó giúp tác phẩm sống động, có chiều sâu. Sự đổi mới lục bát thể hiện rõ qua cách dùng từ, cách xây dựng hình ảnh. Ngôn ngữ không chỉ là phương tiện. Nó còn là một phần của tác phẩm nghệ thuật. Luận án này khám phá các cách thức mà ngôn ngữ được sử dụng. Nó cho thấy sự tinh tế trong việc tạo nghĩa của các tác giả hiện đại.
3.1. Tiếp thu chất liệu ngôn ngữ dân gian
Lục bát hiện đại kế thừa sâu sắc ngôn ngữ dân gian. Nó sử dụng chất liệu từ ca dao, tục ngữ, thành ngữ. Cách dùng từ ngữ mộc mạc, gần gũi tạo sự thân quen. Hình ảnh thơ ca hiện đại vẫn mang đậm hơi thở đời sống. Các nhà thơ biến đổi, làm mới chất liệu dân gian. Họ đưa vào những bối cảnh, ý nghĩa hiện đại. Điều này giúp thơ vừa truyền thống vừa đổi mới. Ngôn ngữ dân gian mang lại sự giàu có về sắc thái biểu cảm. Nó tạo nên giọng điệu chân thật, mộc mạc. Sự tiếp thu này giúp lục bát duy trì tính liên tục với cội nguồn. Nó đồng thời mở rộng khả năng biểu đạt.
3.2. Tìm kiếm ngữ liệu và phương thức biểu hiện mới
Bên cạnh dân gian, lục bát hiện đại còn tìm kiếm ngữ liệu mới. Các nhà thơ mạnh dạn đưa vào từ ngữ hiện đại, từ vay mượn. Cú pháp thơ lục bát cũng được làm mới. Cấu trúc câu linh hoạt hơn, đa dạng hơn. Có thể là câu rút gọn, câu đặc biệt. Các phương thức biểu hiện mới tạo sự bất ngờ. Nó làm tăng tính biểu cảm trong thơ. Sự đổi mới lục bát thể hiện qua các phép tu từ. Ẩn dụ, hoán dụ, so sánh được dùng sáng tạo. Hình ảnh thơ ca hiện đại trở nên phong phú hơn. Chúng thoát khỏi những lối mòn cũ. Điều này giúp thơ lục bát tiếp cận nhiều đối tượng độc giả hơn. Nó làm tăng sức sống cho thể thơ.
3.3. Định ngữ nghệ thuật và cấu trúc tu từ
“Định ngữ nghệ thuật” là một loại cấu trúc tu từ đặc trưng. Nó được sử dụng hiệu quả trong lục bát hiện đại. Định ngữ làm tăng giá trị gợi tả, gợi cảm cho danh từ. Nó tạo ra những hình ảnh thơ ca hiện đại đầy ấn tượng. Ví dụ, 'dòng sông lấp lánh', 'nỗi buồn thăm thẳm'. Các cấu trúc tu từ khác cũng được khai thác tối đa. Điệp ngữ, đảo ngữ, đối lập... làm giàu thêm ý nghĩa. Chúng tạo ra nhiều tầng nghĩa cho câu thơ. Tính biểu cảm trong thơ được nâng cao rõ rệt. Các cấu trúc này không chỉ làm đẹp ngôn ngữ. Chúng còn truyền tải cảm xúc, tư tưởng của tác giả. Việc sử dụng linh hoạt các định ngữ nghệ thuật chứng tỏ tài năng của người viết.
IV.Tính biểu cảm và đổi mới trong thơ lục bát hiện đại
Thơ lục bát hiện đại không ngừng đổi mới và khẳng định giá trị. Tính biểu cảm là một trong những đặc trưng nổi bật. Giọng điệu thơ lục bát trở nên đa dạng, phong phú. Nó phản ánh nhiều cung bậc cảm xúc của con người. Từ nỗi buồn sâu lắng đến niềm vui hân hoan. Từ sự chiêm nghiệm triết lí đến tình cảm đời thường. Sự linh hoạt này giúp lục bát duy trì sức sống. Nó kết nối với nhiều thế hệ độc giả. Khảo sát các tác phẩm cho thấy khả năng thích nghi của thể thơ. Lục bát không bị đóng khung trong hình thức truyền thống. Nó liên tục được làm mới. Việc phát triển ngôn ngữ thơ lục bát là một quá trình liên tục. Nó đòi hỏi sự sáng tạo không ngừng của các nhà thơ. Tính đổi mới lục bát là động lực cho sự phát triển của thi ca Việt Nam. Nó khẳng định vị trí vững chắc của lục bát trong lòng dân tộc. Luận án này góp phần làm rõ những khía cạnh này.
4.1. Giọng điệu và cảm xúc trong lục bát
Giọng điệu thơ lục bát đa dạng, linh hoạt. Nó có thể là giọng kể chuyện, tâm tình. Có thể là giọng triết lí, suy tư. Hoặc là giọng trữ tình, thiết tha. Giọng điệu thể hiện rõ tâm trạng, thái độ của chủ thể trữ tình. Nó là yếu tố quan trọng tạo nên tính biểu cảm trong thơ. Người đọc cảm nhận được nỗi buồn, niềm vui, sự cô đơn. Họ đồng cảm với những băn khoăn, trăn trở của tác giả. Sự linh hoạt trong giọng điệu giúp lục bát trở nên gần gũi. Nó dễ dàng đi vào lòng người. Giọng điệu còn phản ánh đặc trưng của từng nhà thơ. Nó tạo nên phong cách riêng, không thể trộn lẫn.
4.2. Khẳng định giá trị và sức sống của lục bát
Lục bát đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt qua các thời kỳ. Nó không chỉ là thể thơ của quá khứ. Nó còn là thể thơ của hiện tại và tương lai. Sự đổi mới lục bát là minh chứng cho điều này. Các nhà thơ hiện đại tiếp tục thử nghiệm. Họ tìm ra những cách biểu đạt mới. Lục bát là một giá trị văn hóa bền vững. Nó là niềm tự hào của thi ca Việt Nam. Việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ lục bát giúp duy trì, phát triển thể thơ. Nó góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Lục bát sẽ tiếp tục đồng hành cùng sự phát triển của đất nước. Nó sẽ mãi là “nhịp thở” của thi ca Việt.
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (206 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN HỒ VĂN HẢI KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ THƠ LỤC BÁT HIỆN ĐẠI (TRÊN TÁC PHẨM CỦA MỘT SỐ NHÀ THƠ) LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN HÀ NỘI - 2004 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI & NHÂN VĂN HỒ VĂN HẢI KHẢO SÁT MỘT SỐ ĐẶC TRƯNG NGÔN NGỮ THƠ LỤC BÁT HIỆN ĐẠI (TRÊN TÁC PHẨM CỦA MỘT SỐ NHÀ THƠ) Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ Mã số: 5.08 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN Người hướng dẫn khoa học: PGS-TS. Trần Trí Dõi TS. Nguyễn Hữu Đạt HÀ NỘI - 2004 Mục lục Trang Mở đầu 2 1. Lí do chọn đề tài 2 2.
Lịch sử vấn đề 4 3. Nhiệm vụ nghiên cứu 8 4. Phương pháp nghiên cứu 8 5. Đóng góp mới của luận án 9 CHƢƠNG 1: Một số vấn đề chung về ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại 10 1.
Các bình diện của ngôn ngữ thơ 10 1. Ngôn ngữ thơ trong vận động tạo lập đặc trưng thể loại 19 1. Vai trò và vị trí của thơ lục bát trong nền thi ca dân tộc 25 1. Các xu hướng và những thành tựu lục bát hiện đại tiêu biểu 27 1.
Tiểu kết 38 CHƢƠNG 2: Một số biểu hiện ngữ âm mang tính đặc trưng trong âm luật thơ lục bát hiện đại 40 2. Mặt ngữ âm trong thơ 40 2. Âm điệu, vần điệu và nhịp điệu thơ lục bát 42 2. Một số biểu hiện ngữ âm mang tính đặc trưng trong âm luật thơ lục bát hiện đại nhìn từ lục bát Nguyễn Bính, Huy Cận, Tố Hữu, Nguyễn Duy 53 2.
Tiểu kết 104 CHƢƠNG 3: Một số phương thức, phương tiện tạo nghĩa đặc trưng trong thơ lục bát hiện đại 107 3. Tiếp thu chất liệu ngôn ngữ dân gian 109 3. Tìm kiếm ngữ liệu và phương thức biểu hiện mới 156 3. “Định ngữ nghệ thuật” như một loại cấu trúc tu từ 177 1 3.
Tiểu kết 182 Kết luận 184 Tài liệu tham khảo 193 2 MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài 1. Những đặc trưng ngôn ngữ của một thể loại thơ ca thể hiện tập trung nhất đặc điểm tâm lí - thẩm mỹ trong đời sống tinh thần của một dân tộc. Thể thơ không phải là kết quả của một tác động cơ học mà là một sự chọn lọc tự nhiên của cảm xúc con người trước hiện thực.
Thơ lục bát là một trong những biểu tượng văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng đối với thi ca và đời sống tinh thần dân tộc. Trong chuyên luận về thơ, Nguyễn Phan Cảnh khẳng định, sự chọn lọc tự nhiên đã kết tinh thơ Việt ở những thể từ 5 đến 8 tiếng [10, 182]. Lục bát là trung tâm của quá trình này. Trong một cặp dòng (lục và bát), sự phân bố thanh điệu, hiệp vần, ngắt nhịp một cách hài hoà.
đã hàm chứa các tham số của quá trình chọn lọc tự nhiên kia. Các nhà nghiên cứu sau một thời gian dài đã thống nhất nhận định: lục bát là thể thơ thuần túy Việt Nam có thể sánh ngang với thơ Đường Trung Hoa, hay các thể thơ khác của một số dân tộc châu Âu. Câu thơ Sáu-Tám đã được thử thách qua thời gian và chứng tỏ sức sống mãnh liệt của mình. Là "nhịp thở giống nòi", người ta có thể dùng lục bát để đọc, để ngâm, để ví, để hát ru hay hát giao duyên.
Đây là một thể thơ song hành với sự phát triển của ngôn ngữ và văn hóa Việt Nam. Vốn là một thể thơ bình dân, ra đời từ rất sớm, thoát thai từ ca dao, từ những giai điệu đồng quê đã được tinh luyện đến độ tinh khiết, lục bát đã không ngừng phát triển để tồn tại, chiếm lĩnh thi hứng chính thống và khẳng định vị trí không thể thay thế của mình trong tiến trình văn học. Tính đến nay lục bát đã trở nên phong phú và đa dạng nhờ những đóng góp của các tác giả tên tuổi như Nguyễn Du, Tản Đà, Huy Cận, Nguyễn Bính, Tố Hữu, Nguyễn Duy. Khi một thể thơ đồng hành cùng với tiến trình lịch sử - văn hóa dân tộc thì nó cũng đồng thời trở thành một giá trị văn hóa có giá trị ổn định và có thể được xem như là thực chứng cho sự tồn tại hay tiêu vong của cộng đồng dân tộc ấy.
Vì vậy, phát triển lục bát là trau dồi bản sắc và phát triển văn hóa dân tộc. Khi một thể loại thơ được xác định là linh hồn dân tộc, nó trở thành đối tượng hấp dẫn nhiều nhà nghiên cứu. Dù đứng trên những điểm nhìn khác nhau nhưng chung quy lại họ vẫn có cùng một điểm xuất phát đó là ngôn ngữ - chất liệu cơ bản làm nên tác phẩm văn chương. Ngôn từ tự thân nó đã là chất liệu nhưng lại chứa đựng những phương thức tư duy nghệ thuật và các giá trị văn hóa tinh thần.
Vì vậy, dù thành công ở mức độ nào, một chuyên luận nghiên cứu về ngôn ngữ lục bát cũng đều có ý nghĩa to lớn không những đối với ngôn ngữ học, văn học mà còn đối với các khoa học khác như tâm lí học, lịch sử học, văn hóa học, xã hội học. Trong tiến trình phát triển, lục bát ở mỗi một giai đoạn đều có những đặc điểm riêng. Có ý kiến cho rằng thể loại thơ ca này chỉ phát triển rực rỡ trong văn học dân gian nên đến khi Truyện Kiều ra đời thì nó đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử và nhường chỗ cho những thể loại thơ ca khác. Vì vậy lục bát hiện đại trong một thời gian dài chưa được quan tâm nghiên cứu một cách thỏa đáng.
Bên cạnh đó trong khi có rất nhiều công trình nghiên cứu về lục bát, nhưng đa số lại tập trung vào ca dao và xem xét nó từ bình diện lí luận phê bình. Chỉ có một số ít tác giả chú trọng đến tiến trình thể loại và cấu trúc hình thức âm luật. Cho đến nay, lục bát hiện đại với thành tựu to lớn của nó vẫn chưa có được một chuyên luận nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ với cái nhìn xuyên suốt hai chiều đồng đại và lịch đại. Tzvetan Todorov đã viết "Trên suốt chiều dài lịch sử của mình, nghiên cứu văn học nghiêng hẳn về giải thích.
Cần đấu tranh với sự thiên lệch này, nhƣng tức là với chính sự thiên lệch chứ không phải với bản thân nguyên tắc giải thích" [112, 184]. Đó cũng là thực trạng của tình hình nghiên cứu văn học ở nước ta. Những thực tế trên đặt ra vấn đề cần phải chọn những tác phẩm lục bát hiện đại tiêu biểu làm trung tâm hệ quy chiếu và xem xét chúng trên góc độ ngôn ngữ (là cách tiếp cận tỏ ra hiệu quả và mang tính thuyết phục cao) để đi đến những nhận thức cần thiết về thực trạng, triển vọng và nhiều vấn đề quan trọng khác. Qua khảo sát sơ bộ, chúng tôi đã chọn bốn tác giả lục bát tiêu biểu là Nguyễn Bính, Huy Cận, Tố Hữu, Nguyễn Duy làm dẫn liệu chủ yếu.
Từ đó đối sánh với lục bát ca dao, lục bát Truyện Kiều để chỉ ra những đặc trưng ngôn ngữ lục bát hiện đại. 5 Thơ lục bát được giới nghiên cứu quan tâm tìm hiểu trên nhiều phương diện khác nhau, riêng bình diện ngôn ngữ, nó có thể thuộc đối tượng nghiên cứu của nhiều phân ngành khoa học như phong cách học, thi pháp học, ngữ dụng học. Do tầm quan trọng của ngôn ngữ với tư cách là phương tiện, chất liệu tư duy và phản ánh của thi phẩm, hướng tiếp cận này tỏ ra thiết thực và lí thú. Lịch sử vấn đề Thi ca nói chung từ lâu đã là đối tượng nghiên cứu của rất nhiều người trên khắp thế giới, nhưng những thành tựu đã đạt được hay vừa mới đạt được lại không bao giờ làm cho họ thỏa mãn hoàn toàn.
Những nghiên cứu về nó từ trước đến nay có thể đứng trên các bình diện khác nhau. Trên mỗi bình diện ta thu được những kết quả đặc thù. Từ góc độ lí luận và phê bình ở bình diện này tập trung số đông các nhà nghiên cứu. Arixtote và Lưu Hiệp đã đặt những viên gạch đầu tiên cho việc xây dựng những nguyên lí khám phá thơ ca như một nghệ thuật trong đời sống tinh thần [1].
Dương Quảng Hàm với tác phẩm Việt Nam văn học sử yếu (1943) đã đề cập đến một cách căn bản lịch sử của các thể loại thi ca tiếng Việt [41]. Trong "Thơ ca Việt Nam - Hình thức và thể loại" (1971) hai tác giả Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức đã thừa kế những kết quả nghiên cứu về các hình thức thơ ca dân tộc của các tác giả trước đó như Phan Kế Bính (Việt Hán văn khảo - 1918), Bùi Kỉ (Quốc văn cụ thể - 1932), Dƣơng Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu - 1943). để chỉ ra cấu trúc hình thức phổ quát và giản yếu về lịch sử phát triển của các thể thơ nói chung (trong đó có thơ lục bát). Công trình này được xem như là một bước tiến quan trọng đặt nền tảng cho vấn đề nghiên cứu thể loại thơ ca nói chung, ngôn ngữ thi ca nói riêng.
Như là cái gạch nối giữa hai xu hướng lí luận phê bình và ngôn ngữ học, Trần Đình Sử với chuyên luận Thi pháp thơ Tố Hữu (1995) và Những thế giới nghệ thuật thơ (1997) đã nghiên cứu thi pháp thơ và loại hình thơ dựa trên sự phân tích những cứ liệu cụ thể của tác phẩm văn chương [97]. 6 Nhìn chung trên bình diện lí luận phê bình đã có một số thành tựu được ghi nhận về sự đóng góp công lao to lớn trong công cuộc khám phá thi ca nước nhà. Tuy nhiên một thực thể phải được nhìn nhận từ nhiều phía mới đảm bảo tính khách quan và toàn diện. Vì vậy, bình diện ngôn ngữ sẽ là một góc nhìn khác có thể làm đối trọng để sự đánh giá tác phẩm văn chương ngày càng khoa học và chính xác hơn.
Từ góc độ ngôn ngữ Vào đầu thế kỉ XX, trường phái hình thức Nga đã đưa ra những cách tiếp cận mới về nghệ thuật thi ca. Con đường khám phá của họ là dựa vào kết cấu hình thức để lí giải nội dung ý nghĩa. Đây có thể coi là một bước nhảy vọt rất đáng ghi nhận về quan điểm và nhận thức của giới nghiên cứu văn học. Lấy những yếu tố mang tính phân biệt về hình thức giữa thơ và văn xuôi như âm luật, vần, câu thơ, đoạn thơ.
làm đơn vị khảo sát, trường phái này thực sự đã coi văn học là nghệ thuật của ngôn ngữ.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại" nghiên cứu về vấn đề gì?
Nghiên cứu đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại qua tác phẩm các nhà thơ, mang đến cái nhìn sâu sắc về sự phát triển văn học.
Luận án "Đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Năm bảo vệ: 2004.
Luận án "Đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại" thuộc chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ. Danh mục: Ngôn Ngữ Học.
Luận án "Đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại" có bao nhiêu trang?
Luận án "Đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại" có 206 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.