Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh: Giá trị lý luận, đặc trưng và ý nghĩa thực tiễn
"Luận án văn hoá chính trị Hồ Chí Minh: nghiên cứu giá trị lý luận và thực tiễn, giải pháp phát huy vai trò văn hoá chính trị."
Luan An
Luận án
Số trang
177
Thời gian đọc
27 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Khái niệm và nguồn gốc văn hóa chính trị Hồ Chí Minh
- Số trang:
- 177 trang
- Tác giả:
- Nguyễn Hữu Lập
Tóm tắt nội dung luận án
I. Khái niệm và nguồn gốc văn hóa chính trị Hồ Chí Minh
Văn hóa chính trị là hệ thống giá trị chuẩn mực điều chỉnh hành vi quyền lực. Khái niệm này phản ánh nhận thức, thái độ và hành động chính trị của con người trong xã hội. Tại Việt Nam, văn hóa chính trị gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước. Hồ Chí Minh đã tiếp thu tinh hoa dân tộc và thời đại để xây dựng hệ tư tưởng tiến bộ. Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa chính trị là sự kết tinh giữa chủ nghĩa Mác - Lênin và truyền thống yêu nước nồng nàn. Nền tảng tư tưởng này tạo động lực to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc. Việc nghiên cứu nguồn gốc hình thành giúp làm sáng tỏ bản chất nhân văn sâu sắc của Người. Đây là kim chỉ nam cho sự phát triển của hệ thống chính trị Việt Nam hiện đại.
1.1. Khái niệm cơ bản về văn hóa chính trị Hồ Chí Minh
Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa chính trị định nghĩa văn hóa quyền lực vì con người. Văn hóa chính trị không đơn thuần là nghệ thuật cai trị. Đây là sự kết hợp hài hòa giữa tri thức, đạo đức và niềm tin chính trị. Mọi hành vi chính trị phải hướng đến mục tiêu phục vụ nhân dân. Quyền lực chính trị thuộc về nhân dân và phục vụ lợi ích của cộng đồng. Người lãnh đạo phải là công bộc trung thành của quần chúng. Sự thấu hiểu về thể chế và văn hóa tạo nền tảng cho sự ổn định xã hội. Khái niệm này định hình phong cách ứng xử chính trị văn minh, dân chủ và nhân văn sâu sắc.
1.2. Cơ sở thực tiễn và lý luận hình thành tư tưởng
Cơ sở thực tiễn bắt nguồn từ phong trào cứu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Hoàn cảnh mất nước thôi thúc việc tìm kiếm con đường cứu quốc đúng đắn. Cơ sở lý luận của tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước và cách mạng. Việc vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin vào bối cảnh Việt Nam đã tạo nên bước ngoặt lớn. Quá trình hoạt động thực tiễn phong phú của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại nhiều quốc gia đã tôi luyện nhận thức chính trị. Người đúc kết kinh nghiệm từ các cuộc cách mạng điển hình trên thế giới. Nhờ đó, hệ tư tưởng chính trị cách mạng Việt Nam mang tính khoa học và thực tiễn vượt trội.
1.3. Sự tiếp thu tinh hoa văn hóa dân tộc và nhân loại
Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh kế thừa truyền thống nhân ái và yêu nước nồng nàn của dân tộc Việt Nam. Tinh thần cố kết cộng đồng và ý chí tự lực tự cường là nguồn cội sức mạnh. Bên cạnh đó, tư tưởng dân chủ phương Tây và tinh hoa Nho giáo, Phật giáo cũng được chắt lọc tinh tế. Sự giao thoa văn hóa Đông - Tây tạo nên một tầm vóc tư tưởng rộng mở và hiện đại. Việc tiếp biến có chọn lọc giúp tư tưởng vừa mang tính dân tộc vừa mang tính thời đại. Đây là mô hình chuẩn mực về sự hội tụ văn hóa trong tư duy lãnh đạo chính trị.
II. Cấu trúc và đặc trưng văn hóa chính trị Hồ Chí Minh
Cấu trúc văn hóa chính trị Hồ Chí Minh bao gồm tri thức, tình cảm, niềm tin và hành vi chính trị. Các yếu tố này liên kết chặt chẽ tạo thành một chỉnh thể thống nhất. Đặc trưng nổi bật nhất là tính nhân văn và tính hành động cách mạng triệt để. Mọi lý thuyết chính trị đều phải được cụ thể hóa bằng hành động thực tế. Văn hóa chính trị hướng tới việc xóa bỏ áp bức, bất công và kiến tạo tự do. Sự kết hợp giữa lý trí khoa học và lòng yêu thương con người làm nên sức sống trường tồn của tư tưởng. Đây là chuẩn mực cho mọi hoạt động chính trị tiến bộ.
2.1. Cấu trúc cốt lõi của văn hóa chính trị Hồ Chí Minh
Cấu trúc nội tại gồm nhận thức chính trị đúng đắn và lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền chủ nghĩa xã hội. Tri thức chính trị định hướng cho hành vi đúng đắn. Niềm tin vào sức mạnh nhân dân là động lực tinh thần to lớn. Chuẩn mực hành vi chính trị thể hiện qua sự liêm chính, tôn trọng kỷ luật và phục vụ cộng đồng. Mỗi thành tố trong cấu trúc bổ trợ cho nhau một cách biện chứng. Nhận thức đúng dẫn đến hành động chuẩn mực. Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa chính trị luôn coi trọng sự thống nhất giữa lời nói và việc làm trong đời sống chính trị.
2.2. Mục tiêu giải phóng con người và giải phóng dân tộc
Đặc trưng lớn nhất của hệ thống tư tưởng là tính nhân văn sâu sắc. Mục tiêu tối thượng của văn hóa chính trị là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Độc lập cho Tổ quốc phải đi liền với tự do, hạnh phúc cho từng người dân. Nếu nước độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập không có nghĩa lý gì. Mọi chính sách của nhà nước đều hướng tới nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho quần chúng. Quyền con người được tôn trọng và bảo đảm bằng pháp luật dân chủ, công bằng.
2.3. Nguyên tắc thực thi quyền lực gắn liền nhân dân
Quyền lực chính trị bắt nguồn từ nhân dân và phải được ủy thác một cách minh bạch. Người nắm giữ quyền lực không được đứng trên nhân dân hay lạm quyền. Kiểm soát quyền lực là điều kiện tiên quyết để ngăn ngừa tham nhũng và tha hóa quyền lực. Thực thi quyền lực phải đi đôi với trách nhiệm giải trình và lắng nghe phản biện xã hội. Mọi quyết sách phải dựa trên nguyện vọng chính đáng của người dân. Phong cách ứng xử chính trị dân chủ tạo ra sự đồng thuận xã hội vững chắc. Đây là nét đặc sắc trong văn hóa cầm quyền hiện đại.
III. Giá trị lý luận tư tưởng Hồ Chí Minh về chính trị
Hệ thống quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm phong phú thêm kho tàng lý luận Mác - Lênin. Giá trị lý luận tư tưởng Hồ Chí Minh khẳng định con đường cứu nước gắn liền với thời đại mới. Tư tưởng chỉ ra rằng cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa có thể chủ động giành thắng lợi trước cách mạng vô sản ở chính quốc. Đây là đóng góp lý luận xuất sắc mang tính tiên phong. Bên cạnh đó, các giá trị về đạo đức và đoàn kết dân tộc tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của cách mạng Việt Nam qua mọi thời kỳ lịch sử.
3.1. Giá trị lý luận tư tưởng Hồ Chí Minh sâu sắc
Giá trị lý luận tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện qua việc vận dụng sáng tạo các nguyên lý khoa học vào thực tiễn Việt Nam. Người giải quyết thành công mối quan hệ giữa giai cấp và dân tộc, giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế. Tư tưởng chính trị Hồ Chí Minh cung cấp hệ phương pháp luận sắc bén để phân tích tình hình thời đại. Đây là ngọn cờ dẫn đường cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hệ giá trị này vẫn giữ nguyên giá trị định hướng trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế ngày nay.
3.2. Đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh trong thực tiễn
Đạo đức cách mạng Hồ Chí Minh là cái gốc của người cán bộ cách mạng. Đạo đức chính trị đòi hỏi người lãnh đạo phải đặt lợi ích của Đảng và dân tộc lên trên hết. Không có đạo đức cách mạng thì tài năng không thể phát huy đúng hướng. Sự tu dưỡng đạo đức phải diễn ra thường xuyên, liên tục suốt đời như rửa mặt hàng ngày. Đạo đức cách mạng giúp phòng chống chủ nghĩa cá nhân và sự suy thoái tư tưởng. Tấm gương đạo đức trong sáng tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ, củng cố niềm tin tuyệt đối của nhân dân vào thể chế chính trị.
3.3. Tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc bất diệt
Chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Đoàn kết là sức mạnh vô địch, là then chốt của thành công: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công. Chính sách đoàn kết phải rộng rãi, chân thành và không phân biệt tôn giáo, dân tộc, thành phần xã hội. Đại đoàn kết dựa trên nền tảng liên minh công nhân, nông dân và trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tinh thần này bảo đảm sự thống nhất ý chí và hành động của cả dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
IV. Ý nghĩa thực tiễn của văn hóa chính trị Hồ Chí Minh
Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh mang ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với công cuộc xây dựng hệ thống chính trị Việt Nam. Những luận điểm của Người là cơ sở để thiết lập mô hình nhà nước pháp quyền hiện đại. Đồng thời, các chuẩn mực chính trị giúp xây dựng đội ngũ công chức tận tụy, liêm chính và chuyên nghiệp. Nâng cao văn hóa chính trị giúp tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Đây là yếu tố quyết định để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế thành công trong kỷ nguyên mới.
4.1. Bản chất nhà nước của dân do dân vì dân
Mô hình nhà nước của dân do dân vì dân là đỉnh cao trong tư tưởng lập hiến và quản trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân thông qua bầu cử dân chủ. Cơ quan nhà nước và cán bộ chỉ là những người thừa hành ý chí của nhân dân. Mọi đạo luật, chính sách ban hành đều phải bảo vệ quyền lợi hợp pháp và nâng cao phúc lợi cho nhân dân. Tính nhân dân của nhà nước thể hiện ở sự công khai, minh bạch và chịu sự giám sát chặt chẽ từ xã hội. Đây là nền tảng của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
4.2. Chuẩn mực cần kiệm liêm chính chí công vô tư
Cần kiệm liêm chính chí công vô tư là bốn đức tính cốt lõi của người làm chính trị. Cần là siêng năng, lao động có kế hoạch và sáng tạo. Kiệm là tiết kiệm của công, không hoang phí thời gian và tiền bạc. Liêm là giữ tâm trong sạch, không tham lam danh lợi. Chính là thẳng thắn, đứng đắn và tuân thủ pháp luật. Chí công vô tư là đặt việc công lên trên việc tư, đối xử công bằng với mọi người. Những chuẩn mực này tạo nên bức tường thành vững chắc ngăn chặn tệ quan liêu, tham nhũng và lãng phí trong bộ máy công quyền.
4.3. Nâng cao văn hóa cầm quyền của Đảng hiện nay
Văn hóa cầm quyền của Đảng quyết định uy tín và năng lực lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với xã hội. Đảng cầm quyền phải gương mẫu, giữ vững kỷ luật và không ngừng đổi mới phương thức lãnh đạo. Sự lãnh đạo của Đảng phải dựa trên cơ sở khoa học, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Đảng phải liên hệ mật thiết với quần chúng, lắng nghe tâm tư và giải quyết kịp thời bức xúc của nhân dân. Nâng cao văn hóa cầm quyền là điều kiện tiên quyết để Đảng giữ vững vai trò lãnh đạo và hoàn thành sứ mệnh lịch sử đối với đất nước.
V. Xây dựng văn hóa chính trị cho cán bộ lãnh đạo mới
Xây dựng văn hóa chính trị cho đội ngũ cán bộ là nhiệm vụ chiến lược, cấp thiết trong giai đoạn hiện nay. Bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số đòi hỏi cán bộ phải có tư duy linh hoạt, bản lĩnh vững vàng và đạo đức trong sáng. Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng văn hóa chính trị giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong hệ thống chính trị. Cán bộ phải là tấm gương sáng về tinh thần phụng sự và đổi mới sáng tạo. Việc rèn luyện văn hóa chính trị góp phần trực tiếp vào sự nghiệp phát triển bền vững đất nước.
5.1. Bồi dưỡng văn hóa lãnh đạo quản lý cho cán bộ
Văn hóa lãnh đạo quản lý đòi hỏi cán bộ phải có tầm nhìn chiến lược, tư duy khoa học và phương pháp làm việc dân chủ. Người lãnh đạo cần tôn trọng ý kiến tập thể, biết lắng nghe cấp dưới và nhân dân. Phong cách làm việc phải sâu sát thực tế, tránh lối chỉ đạo hành chính quan liêu xa rời cuộc sống. Cán bộ quản lý cần nắm vững kiến thức pháp luật và kỹ năng quản trị hiện đại. Việc bồi dưỡng kỹ năng ứng xử, văn hóa đối thoại và giải quyết khủng hoảng là yêu cầu bắt buộc để đáp ứng nhiệm vụ trong thời kỳ mới.
5.2. Quán triệt sâu sắc nguyên tắc lấy dân làm gốc
Nguyên tắc lấy dân làm gốc là kim chỉ nam cho mọi chủ trương, đường lối và hành động chính trị. Nhân dân là chủ thể của lịch sử, là cội nguồn của mọi sức mạnh quốc gia. Cán bộ phải thực hiện tốt phương châm: dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng. Mọi quyết định chính sách phải lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo hiệu quả cao nhất. Việc gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân giúp củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
5.3. Đẩy mạnh công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng
Công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ sống còn để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Cần kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa. Việc tự phê bình và phê bình phải được thực hiện nghiêm túc, thực chất trong toàn hệ thống. Đẩy mạnh kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm kỷ luật, tham nhũng, tiêu cực. Đảng trong sạch, vững mạnh là nhân tố quyết định đưa đất nước phát triển phồn vinh và hạnh phúc.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (177 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộ1 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định. TÁC GIẢ Nguyễn Hữu Lập 2 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT CNXH: Chủ nghĩa xã hội CNTB: Chủ nghĩa tư bản ĐLDT: Độc lập dân tộc GPDT: Giải phóng dân tộc GS: Giáo sư Nxb: Nhà xuất bản PGS: Phó giáo sư TS: Tiến sĩ VHCT: Văn hóa chính trị XHCN: Xã hội chủ nghĩa 3 MỤC LỤC Trang TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT MỤC LỤC MỞ ĐẦU 5 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 11 1. Các tài liệu, công trình nghiên cứu ở nước ngoài 11 1.
Các tài liệu, công trình nghiên cứu ở trong nước 15 Chương 2: LÝ LUẬN VỀ VĂN HÓA CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH 27 2. Khái niệm và cấu trúc văn hóa chính trị Hồ Chí Minh 27 2. Cách tiếp cận văn hóa chính trị Hồ Chí Minh 44 2. Cơ sở hình thành, phát triển văn hóa chính trị Hồ Chí Minh 56 Chương 3: GIÁ TRỊ VÀ NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA VĂN HÓA CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH 79 3.
Giá trị của văn hóa chính trị Hồ Chí Minh 79 3. Những đặc trưng cơ bản của văn hóa chính trị Hồ Chí Minh 108 Chương 4: Ý NGHĨA VÀ ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG VĂN HÓA CHÍNH TRỊ HỒ CHÍ MINH CHO ĐỘI NGŨ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 122 4. Ý nghĩa của văn hóa chính trị Hồ Chí Minh 122 4. Định hướng xây dựng văn hóa chính trị Hồ Chí Minh cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở Việt Nam hiện nay 148 KẾT LUẬN 156 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG 159 BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 160 4 MỞ ĐẦU 1.
Tính cấp thiết của đề tài luận án Thực tế đã cho thấy, văn hóa có mặt trong mọi lĩnh vực của đời sống, là sản phẩm của hoạt động thực tiễn, nhưng lại có vai trò chỉ đạo hoạt động thực tiễn của con người. Văn hóa là tổng hòa những giá trị Chân, Thiện, Mĩ được vận động và sàng lọc trong thực tiễn cuộc sống qua nhiều thế hệ. Sự vận động và sàng lọc đó càng rộng về không gian, càng dài về thời gian, thì các giá trị còn lại càng sâu sắc, bền vững và tính phổ quát càng cao. Vì thế, văn hóa nói chung không phải là sản phẩm của con người với tính cách cá nhân, bởi mỗi cá nhân cụ thể ấy thực chất chỉ là một trong những sản phẩm sáng tạo của văn hóa, là nơi biểu hiện của văn hóa, chỉ có vai trò bảo tồn và phát triển văn hóa.
Tuy nhiên, trong số những con người cá nhân với tính cách là sản phẩm của văn hóa lại có những nhân vật tiêu biểu, xuất chúng, có khả năng thâu thái, tích hợp được các giá trị văn hóa của cộng đồng dân tộc và thời đại. Bởi vậy, họ là những người góp phần quan trọng nhất trong việc bảo tồn, phát triển và nâng nền văn hóa của cộng đồng, dân tộc lên một tầm cao mới, thậm chí còn là định hướng cho sự phát triển bền vững của cả một nền văn hóa. Cũng như nhiều lĩnh vực khác, VHCT chỉ là một bộ phận, một phương diện của văn hóa, nhưng là bộ phận quan trọng nhất, ra đời trong quá trình con người ứng xử với các thành tố của hệ thống chính trị, đặc biệt là nhà nước - một hình thức tập trung ý chí của cộng đồng, có vai trò quyết định trong việc thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển xã hội. VHCT bắt đầu hình thành và phát triển khi xã hội loài người có sự phân hóa giai cấp, xuất hiện quyền lực chính trị, đảng chính trị và nhà nước.
Vì vậy, xét đến cùng, VHCT là văn hóa sử dụng quyền lực, là nghệ thuật cai trị hay nghệ thuật lãnh đạo, là nhân tố quyết định đến sự phát triển, tiến bộ của xã hội nói chung, đến việc bảo đảm các quyền con người và quyền dân tộc nói riêng. Văn hóa chính trị là những giá trị của tư tưởng cùng hành vi chính trị được cộng đồng thừa nhận, chia sẻ, vận dụng trong việc thiết lập và vận hành một thể chế chính trị nhất định, nó được biểu hiện thông qua hành vi chính trị 5 của mỗi công dân, trước hết là các nhà chính trị chuyên nghiệp, các lãnh tụ chính trị. Vì vậy, nghiên cứu VHCT nói chung không thể không nghiên cứu về con người chính trị, đặc biệt là những lãnh tụ chính trị, những vĩ nhân của lịch sử. Ở Việt Nam, Hồ Chí Minh là sản phẩm của VHCT Việt Nam, nhưng cũng là người đã nâng VHCT truyền thống của dân tộc lên một tầm cao mới với một chất lượng mới.
Vì thế, có thể coi Hồ Chí Minh là kết tinh những gì tốt đẹp nhất của văn hóa Việt Nam. Với tính chất cách mạng, nhân văn, vì sự nghiệp GPDT, giải phóng giai cấp, giải phóng con người và xây dựng một xã hội nhân văn, tiến bộ, VHCT Hồ Chí Minh đã và đang là một trong những đối tượng nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng của khoa học chính trị ở Việt Nam. Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh được hình thành, phát triển và hoàn thiện trong suốt quá trình hoạt động cách mạng của Người, là một bộ phận cốt lõi và là phương diện nổi bật nhất của văn hoá Hồ Chí Minh; là sản phẩm của sự tích hợp, kế thừa, phát triển VHCT của cộng đồng dân tộc Việt Nam, giá trị VHCT của nhân loại, đặc biệt là giá trị VHCT của chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện cụ thể của Việt Nam; có nội dung cốt lõi là tư tưởng và hành động nhằm thực hiện triệt để quyền dân tộc cơ bản và quyền con người chân chính; là nền tảng của tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người; có giá trị lý luận và thực tiễn to lớn, là yếu tố nền tảng tạo nên mọi thắng lợi mà cách mạng Việt Nam đã giành được. Mặt khác, VHCT Hồ Chí Minh luôn là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, là hạt nhân cốt lõi và là chất keo cố kết mọi con dân nước Việt thuộc các giai cấp, tầng lớp khác nhau.
Nhờ đó mà tạo nên nguồn lực to lớn, đủ sức đánh bại các thế lực xâm lược và góp phần cùng loài người ngăn chặn và thủ tiêu hoàn toàn sự tha hóa của chủ nghĩa thực dân cũ trên thế giới, đưa nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đáp ứng yêu cầu xây dựng một nền chính trị dân chủ, độc lập, tự chủ, cách mạng và tiến bộ. Hơn nữa, với tính cách là một bộ phận không thể thiếu trong nền tảng tư tưởng của Đảng - Tư tưởng Hồ Chí Minh đã được các lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các nhà khoa học tập trung nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ nội dung và giá 6 trị vận dụng, xác lập cơ sở lý luận cho việc hoạch định các chủ trương, đường lối của Đảng. Đặc biệt, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam phát động cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, tư tưởng và tấm gương đạo đức của Người không chỉ là nội dung học tập, làm theo mà còn là đối tượng nghiên cứu của nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều bộ môn khoa học. Mặc dù vậy, việc nghiên cứu, vận dụng và phát triển các giá trị của VHCT Hồ Chí Minh còn khá khiêm tốn, chưa xứng với tầm vóc của một lãnh tụ chính trị xuất sắc, một danh nhân văn hóa kiệt xuất của Việt Nam.
Phạm trù VHCT Hồ Chí Minh gần đây đã được đặt ra và quan tâm nghiên cứu. Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu về VHCT Hồ Chí Minh còn đang ở trạng thái tiếp cận từng nội dung đơn lẻ, tính hệ thống, khái quát còn hạn chế. Do đó, cho đến nay nhận thức về VHCT Hồ Chí Minh chưa thực sự rõ ràng và sâu sắc, thậm chí còn có những quan điểm khá khác nhau về việc có hay không có VHCT Hồ Chí Minh. Thực tiễn thế giới đã cho thấy, sự phát triển của một dân tộc phụ thuộc rất lớn vào sự đồng thuận xã hội và khả năng quy tụ nhân tâm, trí tuệ, tiềm năng của mọi tầng lớp nhân dân nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp.
Tuy nhiên, sự đồng thuận xã hội lại phụ thuộc vào tính chất, phạm vi và mức độ của nền dân chủ mà nền dân chủ thì phụ thuộc vào thể chế chính trị. Cuối cùng, tất cả những yếu tố trên đây lại phụ thuộc vào VHCT của một dân tộc, tức là phụ thuộc vào nhận thức, thái độ, trách nhiệm của mỗi người dân đối với quyền lực chính trị và khả năng thiết kế một hệ thống chính trị bảo đảm quyền tự do, dân chủ, phát huy được trí tuệ của mọi công dân. Hiện nay, nước ta đang quá độ lên CNXH, sự nghiệp đổi mới sau chặng đường gần 30 năm đã thu được những kết quả to lớn có ý nghĩa lịch sử. Tuy nhiên, những kết quả đó còn hạn chế và chưa tương xứng với tiềm năng, thế mạnh của đất nước và con người Việt Nam.
Đổi mới chính trị chưa theo kịp đổi mới kinh tế. Hệ thống chính trị và nền dân chủ đang có những bất cập gây khó khăn cho việc phòng chống tham nhũng và nâng cao sức mạnh của 7 bộ máy nhà nước, cản trở sự phát triển bền vững của dân tộc, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, đe dọa sự tồn vong của chế độ. Trước yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, VHCT Hồ Chí Minh càng tỏ rõ giá trị to lớn đối với các chủ thể chính trị, trước hết là cán bộ, đảng viên. Do đó, việc nghiên cứu và phát huy giá trị của VHCT của Người trong đời sống chính trị ở nước ta hiện nay càng trở lên cấp thiết.
Những lý do trên đây cho thấy, việc nghiên cứu để khẳng định và làm sáng tỏ thêm các chiều cạnh của VHCT Hồ Chí Minh là vấn đề có ý nghĩa to lớn, góp phần gia tăng tri thức về khoa học chính trị ở Việt Nam nói chung, Hồ Chí Minh học nói riêng. Trên cơ sở đó những phát huy giá trị tốt đẹp của VHCT Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới. Vì vậy, nghiên cứu sinh chọn vấn đề: “Văn hoá chính trị Hồ Chí Minh - giá trị lý luận và thực tiễn” làm đề tài luận án tiến sĩ của mình.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Nguyễn Hữu Lập (n.d.). Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh: Giá trị lý luận và thực tiễn [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/nghien-cuu-van-hoa/van-hoa-hoc/luan-an-van-hoa-chinh-tri-ho-chi-minh-gia-tri-ly-luan-thuc-tien
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh: Giá trị lý luận và thực tiễn" nghiên cứu về vấn đề gì?
"Luận án văn hoá chính trị Hồ Chí Minh: nghiên cứu giá trị lý luận và thực tiễn, giải pháp phát huy vai trò văn hoá chính trị."
Luận án "Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh: Giá trị lý luận và thực tiễn" có bao nhiêu trang?
Luận án "Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh: Giá trị lý luận và thực tiễn" có 177 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Văn hóa chính trị Hồ Chí Minh: Giá trị lý luận và thực tiễn" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.