Luận án di sản hóa ở Việt Nam - Trường hợp nghiên cứu đền Hát Môn huyện Phúc Thọ, Hà Nội
Luận án nghiên cứu di sản hóa tại Đền Hát Môn, Phúc Thọ, Hà Nội, đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa.
Luan An
Luận án
Số trang
212
Thời gian đọc
32 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- Di sản văn hóa: Vai trò & tầm quan trọng quốc gia
- Số trang:
- 212 trang
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I.Di sản văn hóa Vai trò tầm quan trọng quốc gia
Di sản văn hóa (DSVH) là chủ đề nghiên cứu được quan tâm sâu rộng. Các cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng cũng chú trọng chủ đề này. Điều này nhấn mạnh vai trò, chức năng, ý nghĩa của di sản trong văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội. Việt Nam coi văn hóa là mục tiêu và động lực phát triển kinh tế - xã hội. Việc phục hồi, bảo vệ DSVH vật thể và phi vật thể là chủ trương nhất quán. Các nỗ lực này góp phần định hình bản sắc văn hóa hiện đại và củng cố mối quan hệ giữa nhà nước và chủ thể văn hóa. Di sản văn hóa ngày càng khẳng định giá trị bền vững. Nghiên cứu di sản đóng góp vào việc bảo tồn di sản hiệu quả hơn.
1.1. Di sản văn hóa Chủ đề nghiên cứu quản lý nhà nước
Trong vài thập kỷ gần đây, DSVH đã trở thành trọng tâm. Giới nghiên cứu khoa học, cơ quan quản lý và cộng đồng đều chú ý. Điều này phản ánh tầm quan trọng ngày càng tăng của di sản thiên nhiên, di tích, thực hành văn hóa. Chúng có ý nghĩa trong nhiều lĩnh vực. Ở Việt Nam, sau đổi mới, việc phục hồi và bảo vệ DSVH đã thể hiện rõ chủ trương nhà nước. Văn hóa là mục tiêu và động lực cho phát triển. Di sản hóa là quá trình phức tạp. Nó phản ánh nhiều quan điểm và động thái chính trị. Tương tác quyền lực của các nhóm xã hội hiện đại cũng hiện diện.
1.2. Di sản văn hóa Giá trị lịch sử kinh tế xã hội
Di sản có vai trò, chức năng quan trọng. Chúng tác động đến các lĩnh vực văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội. Việc bảo tồn di sản không chỉ là nhiệm vụ văn hóa. Nó còn là đòn bẩy cho sự phát triển bền vững. DSVH góp phần duy trì và nâng cao tâm thức về cội nguồn. Nó củng cố lịch sử chung của quốc gia - dân tộc. Di sản cũng thúc đẩy du lịch di sản, mang lại lợi ích kinh tế. Giá trị văn hóa của di sản định hình bản sắc và tinh thần dân tộc. Phát huy giá trị di sản đòi hỏi sự tham gia của nhiều bên.
II.Chính sách di sản Việt Nam Phát triển bền vững quốc gia
Chính sách di sản Việt Nam thể hiện rõ định hướng phát triển văn hóa. Sau đổi mới, nhà nước đã đẩy mạnh việc kiểm kê, xếp hạng di sản. Mục tiêu là phục hồi và bảo vệ DSVH. Luật Di sản văn hóa năm 2001 là cột mốc quan trọng. Nó thúc đẩy quá trình di sản hóa và khẳng định vị thế của di sản. Nhiều di tích lịch sử và di sản văn hóa phi vật thể đã được công nhận. Các di sản tiêu biểu được đề cử UNESCO. Quản lý di sản theo hướng phát triển bền vững là ưu tiên hàng đầu. Nó gắn kết di sản với sáng tạo văn hóa mới, khẳng định bản sắc thời hiện đại.
2.1. Di sản hóa Động lực phát triển văn hóa quốc gia
Di sản hóa là một hoạt động trọng tâm. Nó cụ thể hóa định hướng phát triển văn hóa quốc gia. Hoạt động này bắt đầu mạnh mẽ sau Luật DSVH 2001. Di sản hóa tác động đến thực hành văn hóa cộng đồng. Nó củng cố mối quan hệ giữa nhà nước và chủ thể văn hóa. Di sản được gắn kết với những sáng tạo văn hóa mới. Điều này khẳng định bản sắc văn hóa thời hiện đại. Tuy nhiên, việc lựa chọn và phục hồi di sản cần cân nhắc kỹ lưỡng. Nó phản ánh động thái chính trị và tương tác quyền lực xã hội.
2.2. Xếp hạng di sản Quy trình thực trạng đa dạng
Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong xếp hạng di sản. Đến tháng 7/2018, gần 10.000 di tích cấp tỉnh được xếp hạng. Bộ VHTTDL xếp hạng 3.463 di tích quốc gia. 95 di tích quốc gia đặc biệt được Thủ tướng Chính phủ công nhận. Hơn 4 vạn di tích đã được kiểm kê theo Luật DSVH. 61.669 DSVH phi vật thể được kiểm kê. 249 DSVH phi vật thể quốc gia được công nhận. UNESCO ghi danh 08 di sản thế giới và 12 DSVH phi vật thể của Việt Nam. Ngoài ra, có 07 di sản tư liệu được UNESCO ghi danh.
III.Di sản hóa Đền Hát Môn Biểu tượng quốc gia và tâm linh
Đền Hát Môn là trường hợp điển hình về di sản hóa tại Việt Nam. Đây là một di tích cổ ở đồng bằng sông Hồng. Đền thờ Hai Bà Trưng, biểu tượng kiên cường của dân tộc. Việc thờ phụng Hai Bà Trưng có ý nghĩa tâm linh sâu sắc. Nó còn duy trì, nâng cao tâm thức về cội nguồn lịch sử. Nhiều nhà chính trị - ngoại giao quốc tế nhắc đến Hai Bà Trưng. Hình tượng Hai Bà thể hiện tinh thần đoàn kết, triết lý quốc gia - dân tộc. Đền Hát Môn đã được nhà nước vinh danh. Đây là minh chứng cho sự quan tâm đến các di tích lịch sử quan trọng.
3.1. Đền Hát Môn Di tích lịch sử tâm linh đặc biệt
Đền Hát Môn tọa lạc tại huyện Phúc Thọ, Hà Nội. Đây là một di tích lịch sử cổ kính. Đền thờ Hai Bà Trưng, những nữ anh hùng dân tộc. Sự thờ phụng Hai Bà Trưng đã kéo dài hàng nghìn năm. Nó không chỉ mang ý nghĩa tâm linh cho cộng đồng địa phương. Nó còn đặc biệt quan trọng trong việc duy trì và nâng cao nhận thức về cội nguồn. Di tích lịch sử này củng cố tinh thần dân tộc Việt Nam. Các chuyến thăm và phát biểu của lãnh đạo quốc tế tại đền đã khẳng định tầm quan trọng của nó.
3.2. Di sản hóa Đền Hát Môn Xếp hạng quốc gia đặc biệt
Trong xu hướng di sản hóa chung, Đền Hát Môn được nhà nước lựa chọn. Năm 2013, di tích này được vinh danh là Di tích quốc gia đặc biệt. Lễ hội đền Hát Môn được vinh danh là DSVH phi vật thể quốc gia năm 2016. Quá trình này không ngẫu nhiên. Nó là kết quả của sự lựa chọn và tham gia của nhiều bên liên quan. Việc ghi danh mang lại nhiều vấn đề. Nhà nước, chính quyền địa phương, cộng đồng và các công ty du lịch sử dụng di sản cho nhiều mục đích. Di sản hóa là một quá trình lựa chọn có sự tham gia của nhiều bên liên quan.
IV.Quản lý di sản Tác động thách thức với cộng đồng
Quá trình di sản hóa là một vấn đề phức tạp. Không phải mọi thực hành hay biểu tượng văn hóa đều trở thành di sản. Việc lựa chọn, phục hồi và xếp hạng di sản liên quan đến nhiều quan điểm khác nhau. Nó thể hiện động thái chính trị và tương tác quyền lực của các nhóm xã hội. Khi di sản được ghi danh, nhiều vấn đề phát sinh. Nhà nước, chính quyền địa phương, cộng đồng và các công ty du lịch có thể 'sử dụng' di sản cho các mục đích đa dạng. Điều này đặt ra thách thức lớn trong quản lý di sản, đặc biệt đối với vai trò của cộng đồng địa phương.
4.1. Di sản hóa Lựa chọn sử dụng đa mục đích
Quá trình di sản hóa là một chuỗi các lựa chọn. Nhiều bên liên quan tham gia vào quá trình này. Việc được ghi danh, gán nhãn danh hiệu di sản kéo theo nhiều vấn đề. Nhà nước, chính quyền địa phương, cộng đồng, công ty du lịch sử dụng di sản. Mỗi bên có mục đích riêng. Sự đa dạng trong cách 'sử dụng' di sản cần được quản lý chặt chẽ. Điều này nhằm đảm bảo bảo tồn di sản nguyên vẹn và phát huy giá trị di sản một cách bền vững. Các quyết định này định hình tương lai của di tích và cộng đồng.
4.2. Quản lý di sản Rủi ro cộng đồng bị gạt bỏ
Sự can thiệp sâu của nhà nước vào quản lý di sản có thể dẫn đến hệ lụy. Cộng đồng có nguy cơ bị 'ngoài lề hóa'. Điều này xảy ra ngay với chính di sản mà họ từng là người sáng tạo, nắm giữ và thực hành. Quá trình di sản hóa cũng tác động đến suy nghĩ và nhận thức. Nó ảnh hưởng đến cách thức thực hành văn hóa truyền thống của cộng đồng. Cần có cơ chế để cộng đồng địa phương tiếp tục là chủ thể. Đảm bảo quyền lợi và vai trò của họ trong bảo tồn di sản là thiết yếu.
V.Cộng đồng địa phương Phát huy giá trị di sản bền vững
Cộng đồng địa phương giữ vai trò trung tâm trong quá trình di sản hóa. Họ là những người sáng tạo, duy trì và thực hành các giá trị văn hóa. Tuy nhiên, sự can thiệp của các bên liên quan có thể làm thay đổi vai trò này. Việc duy trì sự tham gia của cộng đồng là yếu tố then chốt. Nó đảm bảo tính bền vững của hoạt động bảo tồn di sản. Phát huy giá trị di sản cần kết hợp hài hòa giữa chính sách nhà nước và sáng kiến cộng đồng. Điều này giúp di sản sống động và có ý nghĩa trong đời sống hiện đại.
5.1. Cộng đồng Chủ thể sáng tạo nắm giữ di sản
Cộng đồng địa phương là chủ thể gốc của di sản. Họ là người sáng tạo ra các thực hành văn hóa và di tích lịch sử. Cộng đồng giữ vai trò duy trì và thực hành di sản qua nhiều thế hệ. Vai trò này cần được công nhận và tôn trọng. Việc phát triển du lịch di sản hay bất kỳ hoạt động nào cũng cần đặt cộng đồng vào vị trí trung tâm. Điều này đảm bảo tính xác thực và bền vững của di sản. Sự tham gia tích cực của cộng đồng là chìa khóa thành công trong bảo tồn di sản.
5.2. Cộng đồng Nâng cao ý thức thực hành truyền thống
Quá trình di sản hóa có thể tác động đến nhận thức của cộng đồng. Nó ảnh hưởng đến cách thức thực hành văn hóa truyền thống. Nâng cao ý thức của cộng đồng về giá trị di sản là cần thiết. Khuyến khích sự chủ động của họ trong quản lý di sản cũng rất quan trọng. Chính sách di sản cần tạo điều kiện cho cộng đồng tham gia. Điều này giúp họ tiếp tục phát huy giá trị di sản. Sự gắn kết giữa cộng đồng và di sản sẽ tạo ra sức sống lâu dài cho các di tích và lễ hội.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (212 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộLý do chọn đề tài Trong vài thập kỉ trở lại đây, di sản văn hóa (DSVH) đã trở thành một chủ đề được giới nghiên cứu khoa học, các cơ quan quản lý nhà nước và cộng đồng quan tâm. Điều này cho thấy di sản thiên nhiên, di tích và thực hành văn hóa ngày càng có vai trò, chức năng và ý nghĩa quan trọng trong các lĩnh vực văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội. Ở Việt Nam, từ sau đổi mới, việc phục hồi và bảo vệ các DSVH, cả vật thể và phi vật thể đã thể hiện rõ chủ trương của nhà nước trong việc xem văn hóa là “mục tiêu và động lực cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội” theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII (1998). Cùng với đó, nhiều DSVH đã được kiểm kê, lựa chọn và làm hồ sơ xếp hạng di sản ở các cấp khác nhau: cấp tỉnh, cấp quốc gia, cấp quốc gia đặc biệt đối với di tích; cấp quốc gia đối với các di sản DSVH văn hóa phi vật thể.
Một số DSVH “tiêu biểu” đã được đưa vào danh mục do Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để xây dựng hồ sơ đệ trình Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc (UNESCO) vinh danh trong các Danh sách Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, Di sản tư liệu thế giới, Kiệt tác di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại (Danh sách DSVH phi vật thể đại diện của nhân loại). Theo thống kê, tính đến tháng 7-2018, Ủy ban nhân dân (UBND) các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã xếp hạng gần 10.000 di tích cấp tỉnh, thành phố; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) đã xếp hạng 3.463 di tích quốc gia; và Thủ tướng Chính phủ đã xếp hạng 95 di tích quốc gia đặc biệt; đồng thời có trên 4 vạn di tích đã được kiểm kê theo quy định của Luật DSVH; 61.669 DSVH phi vật thể của 63 tỉnh/thành phố đã được kiểm kê; trong đó có 249 DSVH phi vật thể được Bộ VHTTDL đưa vào danh mục DSVH phi vật thể quốc gia. Trong số các DSVH của Việt Nam, UNESCO đã ghi danh 08 di sản vào danh mục Di sản thế giới theo Công ước UNESCO 1972 về Bảo vệ DSVH và Thiên nhiên Thế giới; 12 DSVH phi vật thể. Ngoài ra, theo Chương trình Ký ức thế giới của UNESCO, tính đến nay, 1 Việt Nam đã có 07 di sản tư liệu được UNESCO ghi danh (gồm 03 di sản tư liệu thế giới và 04 di sản tư liệu khu vực châu Á - Thái Bình Dương) [23, tr.
Đặc biệt, việc vinh danh, xếp hạng DSVH /di sản hóa đã trở thành một trong những hoạt động quan trọng để thực tế hóa định hướng phát triển văn hóa quốc gia khi Việt Nam ban hành Luật DSVH năm 2001. Nó được coi là một tác nhân làm thay đổi thực hành văn hóa của cộng đồng, củng cố mối quan hệ với nhà nước của các chủ thể văn hóa, gắn kết DSVH với những sáng tạo văn hóa mới, khẳng định bản sắc văn hóa thời hiện đại. Mặt khác, trong quá trình di sản hóa, việc lựa chọn các DSVH nào, phục hồi, xếp hạng nó ra sao, các mối quan hệ giữa cộng đồng, nhà nước trong quá trình đó như thế nào… là một vấn đề khá phức tạp và thể hiện nhiều quan điểm khác nhau, những động thái chính trị, những mối tương tác quyền lực của các nhóm xã hội trong bối cảnh Việt Nam đương đại. Đền Hát Môn (huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội) là một di tích cổ ở đồng bằng sông Hồng thờ Hai Bà Trưng - những nhân vật được xem là biểu tượng nói lên tinh thần đấu tranh kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam.
Việc thờ phụng Hai Bà Trưng từ hàng nghìn năm ở đây không chỉ có ý nghĩa về mặt tâm linh đối với cộng đồng địa phương mà còn có tầm quan trọng đặc biệt trong việc duy trì và nâng cao tâm thức của người Việt về cội nguồn, về lịch sử chung của quốc gia - dân tộc. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà trong các bài phát biểu quan trọng của nhiều nhà chính trị - ngoại giao trên thế giới khi đến Việt Nam cũng đã gợi nhắc về hình tượng Hai Bà Trưng như một biểu tượng về sự đoàn kết, khẳng định tinh thần, triết lý của cộng đồng quốc gia - dân tộc Việt Nam (bài phát biểu của cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia - tháng 5/2016; bài phát biểu tại APEC của Tổng thống Donald Trump - năm 2017; chuyến thăm đền Hai Bà Trưng của Đại tướng Robert B. Brown - Tư lệnh Bộ Tư lệnh Lục quân Thái Bình Dương Mỹ tháng 8/2018…). Nằm trong xu hướng chung về di sản hóa, di tích đền Hát Môn đã được nhà nước lựa chọn để vinh danh, xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt năm 2013, lễ hội đền Hát Môn được vinh danh là DSVH phi vật thể quốc gia năm 2016.
Trong thực 2 tế, không phải bất cứ các thực hành/biểu tượng văn hóa nào cũng trở thành DSVH mà quá trình di sản hóa nói chung, di sản hóa đền Hát Môn nói riêng là một quá trình lựa chọn với sự tham gia của nhiều bên liên quan. Và khi được ghi danh, được gán nhãn danh hiệu DSVH các cấp sẽ kéo theo nhiều vấn đề như nhà nước, chính quyền địa phương, cộng đồng, các công ty du lịch… “sử dụng” DSVH cho nhiều mục đích khác nhau. Khi nhà nước can thiệp ngày càng sâu vào quản lý DSVH sau khi được vinh danh cũng sẽ dẫn tới hệ lụy là cộng đồng có nguy cơ bị “ngoài lề hóa” đối với chính di sản mà trong quá khứ họ là người sáng tạo, nắm giữ và thực hành… Quá trình di sản hóa cũng có những tác động đến suy nghĩ, nhận thức và cách thức thực hành văn hóa truyền thống của cộng đồng có di sản; dẫn tới các động thái tương tác đa chiều trong mối quan hệ giữa cộng đồng, nhà nước và DSVH. Một quá trình chồng chéo, đan xen với nhiều bên tham gia làm cho chính bản thân DSVH bị biến đổi.
Hay nói một cách khác, quá trình di sản hóa đã tạo nên một sân chơi, một diễn đàn, một công cụ để nhiều bên có thể tham gia với các động năng phức tạp, đa tầng khác nhau. Trong thực tế hiện nay, những thảo luận đặt ra xung quanh quá trình di sản hóa, tạo dựng DSVH ở Việt Nam đang đặt ra nhiều vấn đề cấp thiết về lý luận và thực tiễn đòi hỏi cần phải đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu. Trên cơ sở đó, tác giả đã lựa chọn vấn đề: Di sản hóa ở Việt Nam: Trƣờng hợp đền Hát Môn, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội làm đề tài luận án tiến sĩ của mình, với mong muốn đóng góp một góc nhìn mới trong bức tranh nghiên cứu vốn đa dạng và phong phú về DSVH ở Việt Nam trong bối cảnh xã hội đương đại. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.
Mục đích nghiên cứu Luận án nghiên cứu về quá trình lựa chọn, vinh danh di tích và lễ hội đền Hát Môn trở thành DSVH để biện giải các động thái chính trị, xã hội và kinh tế của vấn đề di sản hóa ở Việt Nam cũng như các tác động của quá trình di sản hóa đối với việc bảo vệ, phát huy giá trị DSVH vật thể và phi vật thể. 3 Mặt khác, thông qua nghiên cứu trường hợp về quá trình di sản hóa di tích và lễ hội đền Hát Môn, luận án hướng đến luận giải về mặt lý luận xu hướng di sản hóa từ góc độ thực tiễn của Việt Nam, góp phần vào nghiên cứu các vấn đề liên quan đến di sản hóa, DSVH trên thế giới trong bối cảnh quốc tế và hội nhập hiện nay. Nhiệm vụ nghiên cứu Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận án có các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể như sau: - Nghiên cứu tổng quan về di tích và lễ hội đền Hát Môn, quá trình hình thành, phát triển và vai trò của di tích trong việc tạo dựng bản sắc quốc gia - dân tộc và ý nghĩa đối với cộng đồng địa phương trong lịch sử. - Nghiên cứu các vấn đề lý luận về xu hướng di sản hóa ở Việt Nam và trên thế giới.
- Nghiên cứu một cách có hệ thống thực tiễn quá trình lựa chọn và vinh danh di tích và lễ hội đền Hát Môn trở thành DSVH; Chỉ ra quá trình biến đổi của di tích và lễ hội đền Hát Môn sau khi vinh danh; sự tham gia của cộng đồng, nhà nước vào quá trình di sản hóa di tích và lễ hội đền Hát Môn. - Bàn luận về những vấn đề đặt ra liên quan đến quá trình di sản hóa các di tích và thực hành văn hóa ở Việt Nam trong bối cảnh xã hội chuyển đổi hiện nay. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tượng nghiên cứu Để có được sự hiểu biết về các động thái kinh tế, xã hội và chính trị cũng như tác động của việc di sản hoá ở đền Hát Môn, đối tượng nghiên cứu chính của luận án là di tích và lễ hội đền Hát Môn, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội và các bên liên quan tham gia vào quá trình vinh danh di sản đền và lễ hội này.
Phạm vi nghiên cứu 3. Phạm vi nội dung nghiên cứu Phạm vi nội dung nghiên cứu của luận án là thực trạng di sản hóa đền Hát Môn; khảo sát việc biến đổi di tích và thực hành văn hóa trước và sau vinh danh; các động thái tham gia của Nhà nước và cộng đồng trong quá trình di sản hóa. Phạm vi thời gian nghiên cứu Luận án tập trung nghiên cứu về di tích và lễ hội đền Hát Môn, khảo sát thực tế từ trước (từ 1986 đến năm 2013) và sau khi Nhà nước công nhận là di tích quốc gia đặc biệt cho đến nay. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu DSVH và những vấn đề liên quan đến nó là đối tượng được nghiên cứu dưới nhiều góc nhìn khác nhau như: lịch sử, nhân học, triết học, xã hội học, du lịch học, kinh tế học… Trong phạm vi luận án này, chúng tôi tiếp cận DSVH theo hướng văn hóa học, các nội dung về quyền lực, tính chính trị của DSVH là vấn đề nghiên cứu trọng tâm.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Luận án di sản hóa ở Việt Nam: Trường hợp đền Hát Môn, Phúc Thọ (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/nghien-cuu-van-hoa/van-hoa-hoc/luan-an-di-san-hoa-o-viet-nam-truong-hop-den-hat-mon-phuc-tho-ha-noi
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Luận án di sản hóa ở Việt Nam: Trường hợp đền Hát Môn, Phúc Thọ" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án nghiên cứu di sản hóa tại Đền Hát Môn, Phúc Thọ, Hà Nội, đề xuất giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa.
Luận án "Luận án di sản hóa ở Việt Nam: Trường hợp đền Hát Môn, Phúc Thọ" có bao nhiêu trang?
Luận án "Luận án di sản hóa ở Việt Nam: Trường hợp đền Hát Môn, Phúc Thọ" có 212 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Luận án di sản hóa ở Việt Nam: Trường hợp đền Hát Môn, Phúc Thọ" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.