Luận án Tiến sĩ Trần Thị Minh: Tặng cho quyền sử dụng đất ở theo pháp luật Việt Nam

Tặng quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam theo quy định pháp luật hiện hành về sở hữu đất đai.

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Tác giả

Luan An

Thể loại

luận án tiến sĩ

Năm xuất bản

Số trang

167

Thời gian đọc

26 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt nội dung

I. Tặng cho quyền sử dụng đất ở Khái niệm và đặc điểm

Tặng cho quyền sử dụng đất ở là việc người sử dụng đất chuyển giao quyền sử dụng đất của mình cho người khác mà không nhận lại bất kỳ lợi ích nào. Đây là một trong những quyền năng của người sử dụng đất, được pháp luật Việt Nam công nhận và bảo vệ.

1.1. Khái niệm tặng cho quyền sử dụng đất ở

Tặng cho quyền sử dụng đất ở là một loại giao dịch dân sự, trong đó người tặng cho chuyển giao quyền sử dụng đất của mình cho người nhận tặng cho mà không nhận lại bất kỳ lợi ích nào.

1.2. Đặc điểm của tặng cho quyền sử dụng đất ở

Tặng cho quyền sử dụng đất ở có các đặc điểm sau: là một loại giao dịch dân sự, không có yếu tố kinh tế, người tặng cho không nhận lại bất kỳ lợi ích nào.

II. Pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam

Pháp luật Việt Nam công nhận và bảo vệ quyền tặng cho quyền sử dụng đất ở. Các quy định về tặng cho quyền sử dụng đất ở được thể hiện trong Luật Đất đai 2013, Bộ luật Dân sự 2015 và các văn bản dưới luật.

2.1. Cơ sở pháp lý của tặng cho quyền sử dụng đất ở

Cơ sở pháp lý của tặng cho quyền sử dụng đất ở bao gồm Luật Đất đai 2013, Bộ luật Dân sự 2015 và các văn bản dưới luật.

2.2. Điều kiện tặng cho quyền sử dụng đất ở

Điều kiện tặng cho quyền sử dụng đất ở bao gồm: người tặng cho có quyền sử dụng đất hợp pháp, người nhận tặng cho có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.

III. Thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất ở

Thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất ở bao gồm: lập hợp đồng tặng cho, công chứng hợp đồng tặng cho, đăng ký biến động đất đai.

3.1. Lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở

Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở phải được lập thành văn bản và có các nội dung chính sau: thông tin của người tặng cho và người nhận tặng cho, thông tin về quyền sử dụng đất ở, giá trị quyền sử dụng đất ở.

3.2. Công chứng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở

Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở phải được công chứng tại văn phòng công chứng hoặc cơ quan có thẩm quyền khác.

IV. Vấn đề đăng ký biến động đất đai khi tặng cho quyền sử dụng đất ở

Đăng ký biến động đất đai là bước quan trọng cuối cùng trong thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất ở. Người nhận tặng cho phải đăng ký biến động đất đai tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

4.1. Nghĩa vụ đăng ký biến động đất đai

Người nhận tặng cho có nghĩa vụ đăng ký biến động đất đai tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

4.2. Thủ tục đăng ký biến động đất đai

Thủ tục đăng ký biến động đất đai bao gồm: nộp hồ sơ, kiểm tra hồ sơ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở mới.

V. Những vấn đề cần lưu ý khi tặng cho quyền sử dụng đất ở

Khi tặng cho quyền sử dụng đất ở, người tặng cho và người nhận tặng cho cần lưu ý các vấn đề sau: đảm bảo quyền sử dụng đất hợp pháp, thực hiện đúng thủ tục pháp lý, tránh tranh chấp sau này.

5.1. Đảm bảo quyền sử dụng đất hợp pháp

Người tặng cho phải đảm bảo quyền sử dụng đất của mình là hợp pháp và không có tranh chấp.

5.2. Thực hiện đúng thủ tục pháp lý

Người tặng cho và người nhận tặng cho phải thực hiện đúng thủ tục pháp lý để tránh tranh chấp sau này.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sỹ tặng cho quyền sử dụng đất ở theo pháp luật việt nam hiện nay

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (167 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRẦN THỊ MINH TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY Ngành: Luật Kinh tế Mã số: 9380107 LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ NGA HÀ NỘI - 2019 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài Luận án tiến sĩ là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu được sử dụng trong Luận án hoàn toàn được thu thập từ thực tế, chính xác, đáng tin cậy, có nguồn gốc rõ ràng, được xử lý trung thực khách quan, chưa từng được ai công bố ở đâu và trong bất kỳ công trình nào khác. Tác giả luận án TRẦN THỊ MINH MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành, đất đai tại Việt Nam được xác định là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, thống nhất quản lý và có quyền trao cho người sử dụng đất QSDĐ để sử dụng.

Căn cứ theo quy định này có thể thấy, pháp luật Việt Nam không thừa nhận quyền tư hữu về đất đai mà thay thế nó bằng QSDĐ – một dạng quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản. Đây là sự khác biệt mang tính đặc trưng của pháp luật Việt Nam, theo đó người sử dụng đất có các quyền năng của chủ sở hữu đối với quyền tài sản là QSDĐ như quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho. Việc pháp luật Việt Nam cho phép chuyển QSDĐ giữa những người sử dụng đất là sự kết hợp biến thể của quyền tư hữu về đất dưới hai khía cạnh tài sản và quyền. Trong đó, xét về khía cạnh tài sản, QSDĐ được xác định như một loại tài sản có giá trị thay thế cho tài sản là đất đai để tham gia vào các giao dịch kinh tế, dân sự trên thị trường.

Bên cạnh đó, về khía cạnh quyền, các quyền năng của người sử dụng đất được xây dựng trên cơ sở vật quyền đối với quyền tài sản là QSDĐ, đây được coi là sự thay thế đối với quyền của chủ sở hữu đất đai mà thông qua đó người sử dụng đất có quyền của chủ sở hữu đối với tài sản là đất. Có thể khẳng định rằng, sự ghi nhận và cho phép QSDĐ của những người sử dụng đất được phép chuyển QSDĐ cho nhau trên cơ sở phạm vi và điều kiện 1 2 mà pháp luật cho phép trong Hiến pháp 1992 và Luật Đất đai 1993 đã biến QSDĐ của những người sử dụng đất trước đất trước đây được xác lập một các áp đặt, thụ động, một chiều theo ý chí và mệnh lệnh của Nhà nước, trở thành một quyền tài sản được hình thành và phát triển một cách đa dạng, phong phú và linh hoạt nhiều chiều. Theo đó, QSDĐ của những người sử dụng đất không chỉ được xác lập trên cơ sở được Nhà nước giao, cho thuê, mà QSDĐ còn được xác lập từ các giao dịch dân sự, thương mại trên thị trường thông qua các giao dịch về QSDĐ giữa các chủ thể với nhau. Trong các giao dịch ấy, tặng cho QSDĐ là một trong những phương thức biểu hiện của sự dịch chuyển quyền từ chủ thể sử dụng đất này sang chủ thể sử dụng đất khác dựa trên mối quan hệ bình đẳng về địa vị pháp lý giữa chủ thể trao quyền và chủ thể 1 Điều 17 Hiến pháp năm 1992.

2Khoản 3 Điều 2 Luật Đất đai 1993. 1 nhận quyền, chúng vượt qua sự chỉ định hay sự áp đặt của Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu đại diện đối với đất đai. Chỉ cần đáp ứng các điều kiện luật định, tặng cho QSDĐ được xác lập dựa trên sự tôn trọng và ý chí tự nguyện, tự định đoạt, tự "dâng hiến" của chủ thể có QSDĐ hợp pháp cho một chủ thể khác mà họ mong muốn. Tặng cho QSDĐ theo quan niệm truyền thống với ý nghĩa là một quan hệ mang tính văn hóa, xã hội nhiều hơn là quan hệ mang tính kinh tế, chúng được thực hiện chủ yếu trong các mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, thân quen.

Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, khi QSDĐ không chỉ đơn thuần là một thứ tài nguyên thuần túy mà thiên nhiên ban tặng cho con người, mà chúng trở thành một tài sản có giá trị đối với đời sống vật chất và tinh thần của người dân, trở thành nguồn vốn có vai trò quan trọng trong các giao dịch thương mại thì tặng cho QSDĐ còn hàm chứa ý nghĩa kinh tế to lớn. Theo đó, QSDĐ ở là tài sản có giá trị phải được "dành cho ai" mà người đó có khả năng khai thác, sử dụng có hiệu quả đối với tài sản đó. Với ý nghĩa đó, trên thực tế, việc tặng cho QSDĐ ở có thể diễn ra rất đa dạng từ chủ thể tặng cho như: những người có quan hệ huyết thống (cha mẹ, con cái), người thân quen, cho đến các tổ chức, cộng đồng dân cư hoặc Nhà nước. QSDĐ là đối tượng được tặng cho cũng rất đa dạng: QSDĐ nông nghiệp có đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản và các loại đất nông nghiệp khác.

QSDĐ phi nông nghiệp có loại đất phi nông nghiệp là đất ở và đất phi nông nghiệp không phải là đất ở. Cơ sở pháp lý của tài sản tặng cho cũng vô cùng phức tạp: có loại QSDĐ đã đầy đủ cơ sở pháp lý, song cũng có loại đất chưa đầy đủ cơ sở pháp lý, có loại QSDĐ thuộc quyền sử dụng hợp pháp duy nhất của người tặng cho, song có loại QSDĐ thuộc quyền sử dụng của nhiều chủ thể mà trong đó có chủ thể không đồng tình tặng cho QSDĐ ấy. Sự phức tạp ấy đòi hỏi cần phải được nghiên cứu một cách thấu đáo hệ thống pháp luật không chỉ là pháp luật dân sự về tặng cho tài sản, pháp luật đất đai về tặng cho QSDĐ mà còn pháp luật khác có liên quan như: pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật về công chứng, chứng thực, pháp luật về đăng ký. Trong tặng cho các QSDĐ thì tặng cho QSDĐ ở có tính phức tạp hơn cả bởi xuất phát từ chính tính chất, đặc điểm, vai trò và giá trị hữu dụng của QSDĐ ở.

Theo đó, QSDĐ ở - chúng không chỉ là nơi con người sinh ra, tồn tại và phát triển cuộc 2 sống, mà chúng còn gắn chặt với yếu tố tâm linh, là “quê cha, đất tổ”. Đặc biệt hơn, đất ở thì chúng không chỉ biểu hiện một chức năng đơn nhất là để ở mà chúng còn được sử dụng kết hợp làm mặt bằng cho các hoạt động kinh doanh, làm trụ sở văn phòng. nếu đất ở đó ở vị trí trung tâm, thuận lợi giao thông và gần các khu vực thương mại. Mặt khác, đất ở không chỉ thuần túy chỉ là đất ở, có thể bao gồm cả đất, nhà và các công trình xây dựng khác.

Nguồn gốc đất ở khi tặng cho có thể đã được cấp giấy chứng nhận, nhưng cũng có loại đất, tài sản gắn liền với đất ở không có giấy chứng nhận. Có loại đất ở của riêng cá nhân, song có loại đất ở lại của chung của hộ gia đình. Về hợp đồng tặng cho QSDĐ, hiện nay pháp luật quy định hai loại hợp đồng là hợp đồng tặng cho QSDĐ không có điều kiện và hợp đồng tặng cho QSDĐ có điều kiện. Đối với hợp đồng tặng cho QSDĐ có điều kiện, người được tặng cho phải thực hiện trước hoặc sau khi tặng cho các nghĩa vụ mà người tặng cho yêu cầu.

Các điều kiện do người tặng cho đưa ra cũng rất đa dạng và phong phú, chỉ cần không vi phạm các điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội thì người có QSDĐ được tự do đưa ra các điều kiện của mình theo mong muốn. Sự phức tạp về chủ thể, về đối tượng, về cơ sở pháp lý của đối tượng tặng cho. cùng với sự phát triển sôi động của thị trường bất động sản, đất đai nói chung, đặc biệt là đất ở tại đô thị, khu vực cận trung tâm, khu vực nơi có tốc độ đô thị hóa cao thì đất ở ngày càng tăng cao và càng trở nên có giá trị đối với người có quyền sử dụng hợp pháp. Theo đó, tặng cho QSDĐ ở không còn bó hẹp ở phạm vi và ý nghĩa truyền thống là cho nhau tài sản mà mình không còn nhu cầu sử dụng, cho những người thân của mình tài sản với tinh thần "chia sẻ" hay tặng cho QSDĐ ở để thực hiện những ý tưởng nhân văn khác như: tặng cho cộng đồng dân cư, tặng cho Nhà nước để sử dụng đất đó phục vụ cho mục đích quốc gia, công cộng.

Vượt ra xa phạm vi ấy, tặng cho QSDĐ còn hướng tới việc thay đổi tính năng và hiệu quả sử dụng đất, để tận dụng và phát huy tối đa hệ số sử dụng đất. Và điều đáng phải bàn là tặng cho QSDĐ ở còn nhằm những mục đích và ý đồ khác hơn để “tư lợi cá nhân”, để trốn thuế hay để thực hiện việc tẩu tán tài sản để trốn tránh việc thực hiện những nghĩa vụ tài sản khác. Đây là mặt trái của tặng cho QSDĐ nói chung và tặng cho QSDĐ ở nói riêng mà trên thực tế chúng phát sinh khá nhiều những tranh chấp, mâu thuẫn, bất đồng. Cụ thể, xuất phát từ bản thân các giao dịch tặng cho là các giao dịch không có đền bù ngang giá, chính vì vậy, 3 khi thấy giá trị QSDĐ, đặc biệt là đất ở đô thị và các vùng ven đô tăng, nhiều trường hợp người sử dụng đất đã tặng cho lại đòi lại QSDĐ đã tặng cho.

Trên thực tế, nhiều trường hợp, QSDĐ ở tặng cho không có tranh chấp, song tranh chấp về tài sản là nhà, công trình xây dựng khi các tài sản đó không là tài sản thuộc quyền sở hữu của người tặng cho. Đặc biệt, những loại giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho hộ gia đình song không ghi rõ hộ gia đình bao gồm những thành viên nào, khi tặng cho, một hoặc một số thành viên trong hộ gia đình khởi kiện đòi phần QSDĐ của mình với lý do họ không đồng ý tặng cho tài sản đó. Trong nhiều trường hợp, cơ quan có thẩm quyền vô cùng khó khăn và lúng túng khi công nhận hợp đồng hay xử lý hợp đồng vô hiệu, hợp đồng vô hiệu toàn phần hay vô hiệu từng phần.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Tặng cho quyền sử dụng đất ở: Pháp luật Việt Nam hiện nay" nghiên cứu về vấn đề gì?

Tặng quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam theo quy định pháp luật hiện hành về sở hữu đất đai.

Luận án "Tặng cho quyền sử dụng đất ở: Pháp luật Việt Nam hiện nay" được bảo vệ tại trường nào?

Luận án này được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội. Năm bảo vệ: 2019.

Luận án "Tặng cho quyền sử dụng đất ở: Pháp luật Việt Nam hiện nay" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Tặng cho quyền sử dụng đất ở: Pháp luật Việt Nam hiện nay" thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế. Danh mục: Luật Học.

Luận án "Tặng cho quyền sử dụng đất ở: Pháp luật Việt Nam hiện nay" có bao nhiêu trang?

Luận án "Tặng cho quyền sử dụng đất ở: Pháp luật Việt Nam hiện nay" có 167 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Tặng cho quyền sử dụng đất ở: Pháp luật Việt Nam hiện nay" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter