Luận án Tiến sĩ Trần Thị Minh: Tặng cho quyền sử dụng đất ở theo pháp luật Việt Nam
Tặng quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam theo quy định pháp luật hiện hành về sở hữu đất đai.
Luan An
luận án tiến sĩ
Năm xuất bản
Số trang
167
Thời gian đọc
26 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Tặng cho quyền sử dụng đất ở: Khái niệm và đặc điểm
- Số trang:
- 167 trang
- Trường:
- Học viện Khoa học Xã hội
- Chuyên ngành:
- Luật Kinh tế
- Tác giả:
- Trần Thị Minh
- Năm:
- 2019
Tóm tắt nội dung luận án
I. Tặng cho quyền sử dụng đất ở Khái niệm và đặc điểm
Tặng cho quyền sử dụng đất ở là việc người sử dụng đất chuyển giao quyền sử dụng đất của mình cho người khác mà không nhận lại bất kỳ lợi ích nào. Đây là một trong những quyền năng của người sử dụng đất, được pháp luật Việt Nam công nhận và bảo vệ.
1.1. Khái niệm tặng cho quyền sử dụng đất ở
Tặng cho quyền sử dụng đất ở là một loại giao dịch dân sự, trong đó người tặng cho chuyển giao quyền sử dụng đất của mình cho người nhận tặng cho mà không nhận lại bất kỳ lợi ích nào.
1.2. Đặc điểm của tặng cho quyền sử dụng đất ở
Tặng cho quyền sử dụng đất ở có các đặc điểm sau: là một loại giao dịch dân sự, không có yếu tố kinh tế, người tặng cho không nhận lại bất kỳ lợi ích nào.
II. Pháp luật về tặng cho quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam
Pháp luật Việt Nam công nhận và bảo vệ quyền tặng cho quyền sử dụng đất ở. Các quy định về tặng cho quyền sử dụng đất ở được thể hiện trong Luật Đất đai 2013, Bộ luật Dân sự 2015 và các văn bản dưới luật.
2.1. Cơ sở pháp lý của tặng cho quyền sử dụng đất ở
Cơ sở pháp lý của tặng cho quyền sử dụng đất ở bao gồm Luật Đất đai 2013, Bộ luật Dân sự 2015 và các văn bản dưới luật.
2.2. Điều kiện tặng cho quyền sử dụng đất ở
Điều kiện tặng cho quyền sử dụng đất ở bao gồm: người tặng cho có quyền sử dụng đất hợp pháp, người nhận tặng cho có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
III. Thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất ở
Thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất ở bao gồm: lập hợp đồng tặng cho, công chứng hợp đồng tặng cho, đăng ký biến động đất đai.
3.1. Lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở phải được lập thành văn bản và có các nội dung chính sau: thông tin của người tặng cho và người nhận tặng cho, thông tin về quyền sử dụng đất ở, giá trị quyền sử dụng đất ở.
3.2. Công chứng hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở
Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ở phải được công chứng tại văn phòng công chứng hoặc cơ quan có thẩm quyền khác.
IV. Vấn đề đăng ký biến động đất đai khi tặng cho quyền sử dụng đất ở
Đăng ký biến động đất đai là bước quan trọng cuối cùng trong thủ tục tặng cho quyền sử dụng đất ở. Người nhận tặng cho phải đăng ký biến động đất đai tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
4.1. Nghĩa vụ đăng ký biến động đất đai
Người nhận tặng cho có nghĩa vụ đăng ký biến động đất đai tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
4.2. Thủ tục đăng ký biến động đất đai
Thủ tục đăng ký biến động đất đai bao gồm: nộp hồ sơ, kiểm tra hồ sơ, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở mới.
V. Những vấn đề cần lưu ý khi tặng cho quyền sử dụng đất ở
Khi tặng cho quyền sử dụng đất ở, người tặng cho và người nhận tặng cho cần lưu ý các vấn đề sau: đảm bảo quyền sử dụng đất hợp pháp, thực hiện đúng thủ tục pháp lý, tránh tranh chấp sau này.
5.1. Đảm bảo quyền sử dụng đất hợp pháp
Người tặng cho phải đảm bảo quyền sử dụng đất của mình là hợp pháp và không có tranh chấp.
5.2. Thực hiện đúng thủ tục pháp lý
Người tặng cho và người nhận tặng cho phải thực hiện đúng thủ tục pháp lý để tránh tranh chấp sau này.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (167 trang)Nội dung chính
Tổng quan về luận án
Luận án tiến sĩ luật học "Tặng cho quyền sử dụng đất ở theo pháp luật Việt Nam hiện nay" (Chuyên ngành: Luật Kinh tế, Mã số: 9380107) do nghiên cứu sinh Trần Thị Minh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Nga tại Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (2019) là công trình nghiên cứu tiên phong, có tính hệ thống cao về chế định tặng cho quyền sử dụng đất ở (QSDĐ ở). Trong cấu trúc pháp lý của Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, người sử dụng đất không có quyền tư hữu đối với tư liệu sản xuất đất đai mà được trao "quyền sử dụng đất" – một dạng quyền tài sản đặc thù (Điều 53 Hiến pháp 2013; Điều 4, 179 Luật Đất đai 2013; Điều 105, 115 Bộ luật Dân sự 2015).
┌────────────────────────────────────────────────────────┐
│ Sở hữu toàn dân về đất đai │
│ (Nhà nước đại diện chủ sở hữu tối cao) │
└───────────────────────────┬────────────────────────────┘
│ Phân quyền tài sản
▼
┌────────────────────────────────────────────────────────┐
│ Quyền sử dụng đất (QSDĐ) ở │
│ - Quyền tài sản độc lập / Vật quyền phái sinh │
│ - Giao dịch dịch chuyển không đền bù │
└───────────────────────────┬────────────────────────────┘
│
┌──────────────────┴──────────────────┐
▼ ▼
┌───────────────────────────────┐ ┌───────────────────────────────┐
│ Khía cạnh văn hóa - XH │ │ Khía cạnh kinh tế │
│ Tương thân tương ái, đạo lý │ │ Giá trị vốn hóa, mặt bằng │
│ gia đình, dòng họ, thừa kế │ │ kinh doanh, nguy cơ trục lợi │
└───────────────────────────────┘ └───────────────────────────────┘
Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi được luận án chỉ rõ: Kể từ khi Luật Đất đai năm 2013 và Bộ luật Dân sự năm 2015 có hiệu lực, giới luật học còn thiếu vắng một công trình chuyên khảo giải quyết toàn diện mối quan hệ biện chứng giữa pháp luật dân sự chung và pháp luật đất đai chuyên ngành đối với riêng phân khúc đất ở. Tặng cho QSDĐ ở không đơn thuần mang bản chất văn hóa - xã hội gia đình truyền thống mà đã trở thành công cụ luân chuyển vốn, tài sản có giá trị thương mại lớn nhưng tiềm ẩn rủi ro lạm dụng để trốn thuế, tẩu tán tài sản hoặc tạo ra xung đột gay gắt giữa quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở gắn liền với đất.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu (Research Questions - RQ) và giả thuyết nghiên cứu (Hypotheses - H) được xác lập nhất quán:
- RQ1: Bản chất pháp lý của tặng cho QSDĐ ở có phải là dạng đặc biệt của quan hệ chuyển quyền tài sản? $\rightarrow$ H1: Tặng cho QSDĐ ở là giao dịch dân sự chuyển dịch quyền tài sản có giá trị kinh tế nhưng mang đặc tính không có đền bù ngang giá.
- RQ2: Những đặc thù cốt lõi nào chi phối việc thực thi tặng cho QSDĐ ở? $\rightarrow$ H2: QSDĐ ở gắn liền với khối bất động sản chỉnh thể (nhà ở, công trình xây dựng), chủ thể hộ gia đình phức tạp và giá trị tâm linh "đất tổ".
- RQ3: Cấu trúc hệ thống pháp luật điều chỉnh tặng cho QSDĐ ở hiện hành có những lỗ hổng nào? $\rightarrow$ H3: Tồn tại sự bất tương thích giữa Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Đất đai 2013 về điều kiện hợp đồng, chủ thể hộ gia đình và quy chế xử lý hợp đồng vô hiệu từng phần.
- RQ4: Thực tiễn xét xử tranh chấp tặng cho QSDĐ ở bộc lộ những rào cản gì? $\rightarrow$ H4: Án kiện phát sinh lớn do không đồng thuận giữa các đồng chủ sử dụng, hợp đồng tặng cho có điều kiện không minh định rõ ràng và nghịch lý phân chia thực tế khi vi phạm hạn mức tách thửa.
- RQ5: Cần định hướng lập pháp nào để tháo gỡ điểm nghẽn? $\rightarrow$ H5: Hoàn thiện pháp luật theo hướng thống nhất nguyên tắc "vật quyền đăng ký", chuẩn hóa khái niệm chủ thể và công nhận nguyên tắc "nhà theo đất, đất theo nhà".
Phạm vi nghiên cứu bao quát các chuẩn mực hiến định, luật định và dữ liệu thực tiễn 07 năm (2011–2018) từ các bản án tranh chấp tại Tòa án nhân dân các cấp cùng báo cáo chuyên môn của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tòa án nhân dân Tối cao.
Literature Review và Positioning
Tổng quan nghiên cứu trong nước ghi nhận nhiều công trình nền tảng: Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hải An (2011) và sách chuyên khảo (2012) tập trung vào hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất nói chung; Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Văn Hiến (2006) và Trần Thị Minh (2012) nghiên cứu hợp đồng tặng cho dưới góc độ Bộ luật Dân sự 2005; Luận văn của Dương Anh Sơn (2010) tiếp cận bản chất hợp đồng không đền bù dưới góc độ luật so sánh; Nguyễn Thị Nga (2003, 2018) phân tích sâu về thị trường QSDĐ, chế định sở hữu đất đai và bất cập về chủ thể "hộ gia đình sử dụng đất" trong Luật Đất đai 2013; các bài báo chuyên ngành của Đỗ Văn Đại (2009), Vũ Thị Hồng Yến (2010, 2018), Lê Thị Giang (2018), Nguyễn Thùy Trang (2017) mổ xẻ thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng và điều kiện tặng cho tài sản.
┌───────────────────────────────────────────────────────────┐
│ HỌC THUYẾT NỀN TẢNG │
│ - Vật quyền & Khế ước: Blackstone, Burge, Geis │
│ - Đăng ký công khai: Hệ thống Torrens, Nguyễn Ngọc Điện │
│ - Sở hữu kép/đa tầng: PGS.TS Phạm Duy Nghĩa │
└─────────────────────────────┬─────────────────────────────┘
│
┌──────────────────────────────┴──────────────────────────────┐
▼ ▼
┌─────────────────────────────────────────────────┐ ┌─────────────────────────────────────────────────┐
│ DÒNG QUAN ĐIỂM A │ │ DÒNG QUAN ĐIỂM B │
│ (PGS. Trần Thị Minh Châu, 2014) │ │ (GS. Lê Hồng Hạnh, 2018) │
│ - Giữ vững tuyệt đối sở hữu toàn dân │ │ - Thừa nhận sở hữu tư nhân đối với đất ở │
│ - Nhà nước điều tiết địa tô & quy hoạch │ │ - Loại bỏ điểm nghẽn "sở hữu ảo" │
└────────────────────────┬────────────────────────┘ └────────────────────────┬────────────────────────┘
│ │
└──────────────────────┬──────────────────────────────┘
│
▼
┌─────────────────────────────────────────────┐
│ POSITIONING CỦA LUẬN ÁN TRẦN THỊ MINH │
│ Giữ nguyên khung Hiến định sở hữu toàn dân │
│ nhưng nâng tầm QSDĐ ở thành "Vật quyền phái │
│ sinh hoàn chỉnh" gắn liền tài sản trên đất. │
└─────────────────────────────────────────────┘
Trong y giới học thuật tồn tại hai luồng quan điểm đối lập sâu sắc về sở hữu đất đai và hiệu lực giao dịch:
- Tranh luận về bản chất chế độ sở hữu: GS. Lê Hồng Hạnh cho rằng điểm nghẽn lớn nhất của Luật Đất đai là quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân một cách cào bằng, đòi hỏi phải công nhận quyền sở hữu tư nhân đối với đất ở hợp pháp. Ngược lại, PGS. Trần Thị Minh Châu lập luận rằng sở hữu toàn dân và sở hữu tư nhân trong thực tiễn điều tiết quy hoạch và triệt tiêu địa tô đều hội tụ về điểm chung: Nhà nước và công dân cùng chia sẻ quyền kiểm soát việc sử dụng đất hợp lý.
- Tranh luận về thời điểm phát sinh hiệu lực hợp đồng tặng cho bất động sản: Đỗ Văn Đại và Vũ Thị Hồng Yến chỉ ra sự mâu thuẫn giữa quy định hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm công chứng/chứng thực theo luật dân sự hay từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính theo luật đất đai. Nguyễn Ngọc Điện nhấn mạnh giá trị an toàn pháp lý tuyệt đối của hệ thống đăng ký bất động sản mô hình Torrens.
So sánh quốc tế làm nổi bật tính đặc thù của Việt Nam:
- Cộng hòa Pháp: Bộ luật Dân sự (Code Civil 1804) quy định tặng cho là việc chuyển giao quyền sở hữu không đền bù thông qua chứng thư tặng cho (Điều 893, 894), đồng thời bảo hộ nghiêm ngặt kỷ phần bắt buộc của người thừa kế (Điều 913), cho phép bảo lưu quyền hưởng dụng (Điều 949) và hủy bỏ việc tặng cho khi người nhận vô ơn hoặc không thực hiện nghĩa vụ (Điều 953).
- Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa: Đất đai thuộc sở hữu nhà nước hoặc tập thể, người dân chỉ có QSDĐ. Điều 146 và 147 Luật Tài sản năm 2007 xác lập nguyên tắc bất biến "nhà theo đất, đất theo nhà" (chuyển nhượng/tặng cho QSDĐ kéo theo tài sản trên đất và ngược lại), không bắt buộc công chứng nhưng bắt buộc đăng ký biến động tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Luận án của Trần Thị Minh định vị chính xác vị thế học thuật bằng việc không sa vào tranh cãi thay đổi chế độ sở hữu hiến định, mà tập trung giải mã QSDĐ ở như một "vật quyền phái sinh hoàn chỉnh", thiết lập cơ chế đồng bộ giữa đăng ký quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, lấp đầy khoảng trống xử lý tranh chấp tặng cho có điều kiện và tặng cho tài sản chung hộ gia đình.
Đóng góp lý thuyết và khung phân tích
Đóng góp cho lý thuyết
Luận án kế thừa và phát triển học thuyết Sở hữu đa tầng / Sở hữu kép do PGS.TS Phạm Duy Nghĩa khởi xướng:
"Sáng tạo ra khái niệm quyền sử dụng đất, người Việt Nam dường như đã tạo ra một khái niệm sở hữu kép, một khái niệm sở hữu đa tầng: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân, song quyền sử dụng đất lại thuộc về cá nhân hoặc tổ chức."
┌───────────────────────────────────────────────────────────┐
│ NHÀ NƯỚC (Đại diện chủ sở hữu) │
│ - Quyền định đoạt tối cao (Quy hoạch, giao, thu hồi) │
│ - Quyền điều tiết giá trị địa tô │
└─────────────────────────────┬─────────────────────────────┘
│ Trao quyền phái sinh
▼
┌───────────────────────────────────────────────────────────┐
│ NGƯỜI SỬ DỤNG ĐẤT (Chủ thể vật quyền) │
│ - Quyền chiếm hữu, sử dụng trực tiếp │
│ - Quyền định đoạt quyền tài sản (Tặng cho, chuyển dịch) │
│ - Quyền năng không có đền bù (Animus Donandi) │
└───────────────────────────────────────────────────────────┘
Nghiên cứu luận giải rằng việc Nhà nước cho phép chuyển giao QSDĐ giữa các chủ thể tư đã biến quyền năng thụ động một chiều thành một "vật quyền đối với quyền tài sản" (Rights in rem over property rights). Tác giả làm rõ bản chất của giao dịch tặng cho:
"Việc tặng cho QSDĐ là một trong những phương thức biểu hiện của sự dịch chuyển quyền từ chủ thể sử dụng đất này sang chủ thể sử dụng đất khác dựa trên mối quan hệ bình đẳng về địa vị pháp lý giữa chủ thể trao quyền và chủ thể nhận quyền, chúng vượt qua sự chỉ định hay sự áp đặt của Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu đại diện đối với đất đai."
Bên cạnh đó, luận án mở rộng Lý thuyết khế ước tặng cho không đền bù (Gratuitous contract / Donation) từ các học giả kinh điển như William Blackstone, William Burge và George S. Geis (2001). Luận án khẳng định yếu tố không đền bù không đồng nghĩa với việc vô điều kiện. Điều kiện trong tặng cho QSDĐ ở không phải là sự trao đổi ngang giá mà là cam kết thực thi ý chí và nghĩa vụ luân lý của bên tặng cho (chăm sóc, phụng dưỡng, thờ cúng).
Khung phân tích độc đáo
Khung phân tích của luận án được xây dựng dựa trên sự tích hợp của ba trụ cột lý thuyết:
┌─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ KHUNG PHÂN TÍCH ĐỘC ĐÁO CỦA LUẬN ÁN │
└──────────────────────────────────────┬──────────────────────────────────────┘
│
┌────────────────────────────────┼────────────────────────────────┐
▼ ▼ ▼
┌───────────────────────────┐ ┌───────────────────────────┐ ┌───────────────────────────┐
│ Lý thuyết Vật quyền │ │ Lý thuyết Hợp đồng │ │ Lý thuyết Đăng ký │
│ (Property Law/Jus │ │ không đền bù │ │ bất động sản │
│ in re) │ │ (Gratuitous Contracts) │ │ (Torrens System) │
│ - Tách bạch sở hữu đất │ │ - Xác lập ý chí tự nguyện │ │ - Hiệu lực đối kháng với │
│ và quyền tài sản QSDĐ │ │ dâng hiến │ │ người thứ ba │
│ - Tính chỉnh thể bất động │ │ - Điều kiện phi đền bù │ │ - Công khai hóa biến động │
│ sản (đất & nhà trên đất)│ │ và nghĩa vụ luân lý │ │ quyền sở hữu │
└───────────────────────────┘ └───────────────────────────┘ └───────────────────────────┘
- Lý thuyết Vật quyền hiện đại (Rights in rem): Nhận diện QSDĐ ở và tài sản gắn liền với đất là một "khối bất động sản chỉnh thể không thể tách rời về mặt vật lý nhưng có thể phân tách về mặt chủ thể quyền".
- Lý thuyết Hợp đồng không có đền bù (Gratuitous Contracts Theory): Chuẩn hóa khái niệm điều kiện trong giao dịch tặng cho, bảo đảm sự tự do định đoạt theo Điều 457 Bộ luật Dân sự 2015:
"Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận."
- Lý thuyết Đăng ký bất động sản công khai (Torrens System): Xem đăng ký biến động không chỉ là thủ tục hành chính quản lý nhà nước mà là điều kiện tiên quyết xác lập hiệu lực vật quyền đối kháng với người thứ ba.
Boundary conditions: Khung phân tích giới hạn trong phạm vi tài sản là "đất ở" của hộ gia đình, cá nhân trong không gian pháp lý Việt Nam, chịu sự chi phối trực tiếp của nguyên tắc sở hữu toàn dân và tập quán văn hóa phụng dưỡng gia đình Á Đông.
Phương pháp nghiên cứu tiên tiến
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu định vị trên lập trường nhận thức luận Duy vật biện chứng và Duy vật lịch sử (Marxism-Leninism) kết hợp với chủ nghĩa Hiện thực phê phán (Critical Realism) và Pháp lý thực định (Legal Positivism).
┌────────────────────────────────────────────────────────┐
│ THIẾT KẾ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU │
└───────────────────────────┬────────────────────────────┘
│
┌──────────────────┴──────────────────┐
▼ ▼
┌───────────────────────────────┐ ┌───────────────────────────────┐
│ Nghiên cứu Luật học thực định│ │ Nghiên cứu Bản án thực tiễn │
│ (Doctrinal Legal Research) │ │ (Empirical Case-law Study) │
│ - Đối chiếu BLDS 2015, Luật │ │ - Tổng hợp bản án 2011-2018 │
│ Đất đai 2013, Luật Nhà ở │ │ - Phân tích dữ liệu TANDTC, │
│ - So sánh lập pháp quốc tế │ │ Bộ Tài nguyên & Môi trường │
└───────────────────────────────┘ └───────────────────────────────┘
Thiết kế nghiên cứu đa tầng (Multi-level design) được triển khai qua 3 cấp độ:
- Cấp độ chính sách/lập pháp: Đánh giá tính thống nhất, đồng bộ giữa Hiến pháp 2013, Bộ luật Dân sự 2015, Luật Đất đai 2013, Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, Luật Công chứng 2014 và Luật Nhà ở 2014.
- Cấp độ hành chính/bổ trợ tư pháp: Khảo sát quy trình công chứng, chứng thực hợp đồng tặng cho và đăng ký biến động đất đai tại Văn phòng Đăng ký đất đai.
- Cấp độ tài phán tư pháp: Điều tra thực tiễn xét xử các vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tặng cho QSDĐ ở tại Tòa án nhân dân các cấp.
Quy trình nghiên cứu rigorous và Data
Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu đảm bảo tính chuẩn xác khoa học:
- Chiến lược chọn mẫu (Sampling): Lọc toàn bộ các bản án giám đốc thẩm, phúc thẩm và sơ thẩm tiêu biểu về tranh chấp tặng cho QSDĐ và tài sản gắn liền với đất từ năm 2011 đến năm 2018 do TAND Tối cao công bố và các địa phương thụ lý.
- Tam giác hóa dữ liệu (Data Triangulation): Kết hợp chặt chẽ giữa 3 nguồn: (1) Văn bản quy phạm pháp luật thực định; (2) Số liệu thống kê, báo cáo tổng kết ngành của Bộ Tài nguyên và Môi trường, TAND Tối cao; (3) Án lệ và các tranh chấp thực tế diễn ra tại Tòa án.
- Kỹ thuật phân tích: Sử dụng phương pháp phân tích nội dung (Content Analysis), phân tích quy phạm (Normative Analysis), phương pháp diễn dịch - quy nạp và luật so sánh đối chiếu với hệ thống pháp luật Pháp, Đức, Nga, Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc.
- Kiểm tra độ vững (Robustness Checks): Thử nghiệm phản chứng tính khả thi của các phán quyết tuyên "vô hiệu từng phần" thông qua việc đối chiếu với quy định về diện tích tối thiểu được phép tách thửa do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành.
Phát hiện đột phá và implications
Những phát hiện then chốt
┌─────────────────────────────────────────────────────────────────────────────┐
│ 4 PHÁT HIỆN ĐỘT PHÁ CỦA LUẬN ÁN │
└──────────────────────────────────────┬──────────────────────────────────────┘
│
┌────────────────────────────────┼────────────────────────────────┐
▼ ▼ ▼
┌───────────────────────────┐ ┌───────────────────────────┐ ┌───────────────────────────┐
│ PHÁT HIỆN 1: CHỦ THỂ │ │ PHÁT HIỆN 2: TÁCH RỜI │ │ PHÁT HIỆN 3: BẾ TẮC ÁN TÒA│
│ Xung đột chế định "Hộ │ │ Đăng ký tách rời giữa │ │ Tuyên "vô hiệu từng phần" │
│ gia đình" (Luật Đất đai) │ │ QSDĐ và nhà ở gây xung │ │ nhưng không thể thi hành │
│ và cá nhân (BLDS 2015) │ │ đột quyền sở hữu nghiêm │ │ án vì vi phạm hạn mức │
│ $\rightarrow$ 60-70% tranh chấp │ │ trọng khi hủy tặng cho. │ │ tách thửa tối thiểu. │
└───────────────────────────┘ └───────────────────────────┘ └───────────────────────────┘
- Xung đột thể chế về chủ thể "Hộ gia đình sử dụng đất": Bộ luật Dân sự 2015 đã thu hẹp chủ thể quan hệ dân sự chỉ gồm cá nhân và pháp nhân (Điều 101), trong khi Luật Đất đai 2013 vẫn duy trì cấp Giấy chứng nhận QSDĐ cho "Hộ gia đình" (Điều 5, 212). Thực tiễn cho thấy phần lớn tranh chấp phát sinh do Giấy chứng nhận chỉ ghi tên chủ hộ, khi tặng cho không có sự đồng thuận bằng văn bản của các thành viên khác có chung quyền sử dụng tại thời điểm giao đất.
- Sự chia cắt pháp lý giữa quyền sử dụng đất và tài sản trên đất: Hệ thống pháp luật tách rời thủ tục đăng ký QSDĐ (ngành tài nguyên môi trường) và đăng ký quyền sở hữu nhà ở/công trình xây dựng (ngành xây dựng). Điều này dẫn tới hiện tượng "đất của cha mẹ nhưng nhà của con cái", khiến Tòa án lúng túng khi xác định đối tượng hợp đồng tặng cho và hậu quả pháp lý khi một bên đòi lại tài sản.
- Nghịch lý thi hành án đối với phán quyết "Hợp đồng vô hiệu một phần": Khi Tòa án tuyên bố hợp đồng tặng cho vô hiệu đối với phần diện tích của thành viên không đồng ý, bản án không thể thi hành trên thực tế vì diện tích được phân chia nhỏ hơn hạn mức tách thửa tối thiểu luật định. Cơ quan đăng ký đất đai từ chối cấp Giấy chứng nhận mới, đẩy các bên vào tình trạng bế tắc quyền tài sản kéo dài.
- Khoảng trống pháp lý về tặng cho QSDĐ ở có điều kiện: Pháp luật dân sự cho phép tặng cho có điều kiện (Điều 462 BLDS 2015) nhưng Luật Đất đai 2013 không có quy định hướng dẫn việc ghi nhận điều kiện vào Giấy chứng nhận hoặc Sổ địa chính. Hệ quả là khi bên nhận tặng cho vi phạm cam kết (không phụng dưỡng, ngược đãi bên tặng cho), bên tặng cho không thể hủy bỏ hợp đồng nếu bên nhận đã kịp thời chuyển nhượng cho người thứ ba ngay tình.
- Hiện tượng trục lợi, lạm dụng giao dịch tặng cho: Tặng cho QSDĐ ở bị biến tướng thành công cụ trốn thuế thu nhập cá nhân, trốn nghĩa vụ trả nợ ngân hàng hoặc tẩu tán tài sản trong các vụ án hình sự, kinh tế do thiếu vắng cơ chế kiểm soát mục đích giao dịch tại khâu công chứng.
Implications đa chiều
┌────────────────────────────────────────┐
│ HỆ THỐNG GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT │
└───────────────────┬────────────────────┘
│
┌──────────────────────────────┼──────────────────────────────┐
▼ ▼ ▼
┌──────────────────────────────┐ ┌──────────────────────────────┐ ┌──────────────────────────────┐
│ CẢI CÁCH LẬP PHÁP │ │ QUẢN TRỊ BỔ TRỢ TƯ PHÁP │ │ ĐỔI MỚI TÀI PHÁN │
│ - Loại bỏ chủ thể "Hộ gia │ │ - Bắt buộc công chứng & tra │ │ - Áp dụng cơ chế thanh toán│
│ đình", ghi rõ từng cá nhân │ cứu cơ sở dữ liệu chung │ giá trị bằng tiền thay vì │
│ - Thể chế hóa nguyên tắc │ │ - Ghi nhận điều kiện tặng │ chia nhỏ thửa đất vi phạm │
│ "Nhà theo đất, đất theo nhà│ cho vào Sổ địa chính │ hạn mức tách thửa. │
└──────────────────────────────┘ └──────────────────────────────┘ └──────────────────────────────┘
- Về mặt lý luận: Hoàn thiện lý thuyết vật quyền đối với quyền tài sản trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, khẳng định bản chất QSDĐ ở là tài sản dân sự độc lập có thể định đoạt bằng ý chí tự nguyện dâng hiến.
- Về mặt lập pháp: Kiến nghị sửa đổi Luật Đất đai theo hướng: (i) Bãi bỏ khái niệm chủ thể "hộ gia đình sử dụng đất", minh định tên tất cả đồng sở hữu trên Giấy chứng nhận; (ii) Áp dụng nguyên tắc "nhà theo đất, đất theo nhà" tương tự Điều 146, 147 Luật Tài sản Trung Quốc 2007; (iii) Bổ sung quy định hủy bỏ việc tặng cho QSDĐ ở khi người nhận không thực hiện nghĩa vụ phụng dưỡng theo mô hình Điều 953 Bộ luật Dân sự Pháp.
- Về thực tiễn xét xử: Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao cần ban hành Án lệ hoặc Nghị quyết hướng dẫn: Đối với trường hợp hợp đồng tặng cho vô hiệu một phần mà không thể tách thửa, Tòa án phải phán quyết giao toàn bộ khối bất động sản cho một bên quản lý sử dụng và buộc bên đó thanh toán giá trị chênh lệch bằng tiền cho các đồng chủ sở hữu khác.
Limitations và Future Research
- Hạn chế nghiên cứu:
- Giới hạn dữ liệu thời gian: Số liệu bản án tập trung giai đoạn 2011–2018, chưa phản ánh các biến động mới sau giai đoạn số hóa cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia.
- Hạn chế mô hình định lượng: Nghiên cứu chủ yếu dựa trên phương pháp luật học thực định và phân tích định tính bản án, chưa xây dựng mô hình kinh tế lượng đo lường tỷ lệ tẩu tán tài sản và trốn thuế qua giao dịch tặng cho.
- Không gian tài phán: Khảo cứu quốc tế tập trung vào hệ thống dân luật (Civil Law) của Pháp, Đức, Trung Quốc mà chưa so sánh sâu với hệ thống thông luật (Common Law) về khái niệm Deed of Gift và Doctrine of Consideration.
- Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):
- Đánh giá tác động toàn diện của Luật Đất đai mới đối với chế định vật quyền và đăng ký giao dịch đất ở.
- Xây dựng khung pháp lý tích hợp công nghệ Blockchain và Hợp đồng thông minh (Smart Contract) trong đăng ký bất động sản nhằm ngăn chặn việc chuyển nhượng trái phép tài sản tặng cho có điều kiện.
- Nghiên cứu sâu về chế định "Bảo lưu quyền hưởng dụng" (Usufruct) của cha mẹ cao tuổi khi tặng cho nhà đất cho con cái theo mô hình Điều 949 Bộ luật Dân sự Pháp.
Tác động và ảnh hưởng
┌────────────────────────────────────────────────────────┐
│ TÁC ĐỘNG VÀ ẢNH HƯỞNG TOÀN DIỆN │
└───────────────────────────┬────────────────────────────┘
│
┌──────────────────┼──────────────────┐
▼ ▼ ▼
┌───────────────────────┐ ┌───────────────────────┐ ┌───────────────────────┐
│ HỌC THUẬT VÀ │ │ CHÍNH SÁCH VÀ │ │ XÃ HỘI VÀ │
│ ĐÀO TẠO PHÁP LÝ │ │ LẬP PHÁP │ │ TƯ TƯỞNG DÂN SỰ │
│ Tài liệu chuẩn mực │ │ Luận cứ khoa học sửa │ │ Bảo vệ người yếu thế │
│ cho đào tạo sau đại │ │ đổi Luật Đất đai và │ │ (người già), giảm │
│ học, trích dẫn cao. │ │ ban hành Nghị quyết án│ │ thiểu xung đột dòng họ│
│ │ │ lệ của TAND Tối cao. │ │ và phòng chống lạm │
│ │ │ │ │ dụng tẩu tán tài sản. │
└───────────────────────┘ └───────────────────────┘ └───────────────────────┘
- Ảnh hưởng học thuật: Là tài liệu tham khảo có giá trị cao cho giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu về Luật Đất đai và Luật Dân sự tại các cơ sở đào tạo luật lớn (Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật ĐHQGHN, Học viện Khoa học Xã hội).
- Ảnh hưởng chính sách và tư pháp: Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho Tổ biên tập sửa đổi Luật Đất đai; hỗ trợ Thẩm phán các cấp có căn cứ lý luận chuẩn xác khi xét xử các tranh chấp phức tạp liên quan đến tài sản chung hộ gia đình.
- Lợi ích kinh tế - xã hội: Bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các chủ thể yếu thế (người cao tuổi tặng cho đất có điều kiện nuôi dưỡng), ngăn ngừa tranh chấp gia đình kéo dài, bảo đảm trật tự an toàn giao lưu dân sự và lành mạnh hóa thị trường bất động sản.
Đối tượng hưởng lợi
- Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Khai thác khoảng trống nghiên cứu về vật quyền phái sinh, đăng ký đối kháng và cơ chế giải quyết xung đột luật chuyên ngành.
- Giảng viên và chuyên gia học thuật: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy chuyên sâu trong các học phần Pháp luật Đất đai nâng cao và Pháp luật Hợp đồng Dân sự.
- Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Luật sư: Vận dụng các giải pháp giải quyết xung đột hợp đồng vô hiệu từng phần và bảo lưu quyền lợi khi thi hành án dân sự.
- Công chứng viên và cán bộ đăng ký đất đai: Nâng cao kỹ năng thẩm định ý chí chủ thể hộ gia đình, xác lập điều kiện tặng cho hợp pháp, ngăn ngừa rủi ro hủy hợp đồng.
- Cơ quan hoạch định chính sách: Tiếp nhận các đề xuất sửa đổi điều luật cụ thể để đồng bộ hóa hệ thống pháp luật đất đai - dân sự - nhà ở.
Câu hỏi chuyên sâu
1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Luận án đã mở rộng và hoàn thiện học thuyết Sở hữu đa tầng của PGS.TS Phạm Duy Nghĩa và lý thuyết Vật quyền phái sinh, chứng minh rằng trong khuôn khổ sở hữu toàn dân, QSDĐ ở đã được tư hữu hóa về mặt quyền năng tài sản và cấu thành một khối bất động sản chỉnh thể không thể tách rời với nhà ở trên đất.
2. Đổi mới phương pháp nghiên cứu so với các công trình trước đây?
So với luận án của Nguyễn Hải An (2011) và luận văn của Nguyễn Văn Hiến (2006) vốn chỉ nghiên cứu pháp luật thực định tĩnh dựa trên các đạo luật cũ, luận án này kết hợp phương pháp nghiên cứu thực định đa tầng với phân tích dữ liệu án lệ thực tế 07 năm (2011–2018) và tam giác hóa dữ liệu qua luật so sánh quốc tế (Pháp, Đức, Trung Quốc).
3. Phát hiện bất ngờ nhất từ dữ liệu thực tiễn là gì?
Đó là nghịch lý bế tắc thi hành án khi Tòa án áp dụng đúng luật dân sự để tuyên bố "hợp đồng vô hiệu một phần", nhưng bản án bị vô hiệu hóa trên thực tế do phần đất được chia không đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật về diện tích tối thiểu được phép tách thửa của chính quyền địa phương.
4. Luận án có cung cấp giao thức nhân rộng/áp dụng thực tế không?
Có. Luận án cung cấp quy trình 4 bước chuẩn hóa dành cho hoạt động công chứng và đăng ký đất đai: (1) Xác minh thành viên hộ tại thời điểm cấp đất; (2) Tích hợp thẩm định nhà ở trên đất; (3) Thể chế hóa điều kiện nghĩa vụ vào hợp đồng; (4) Đăng ký ghi chú điều kiện tặng cho vào hồ sơ địa chính.
5. Định hướng chương trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được vạch ra như thế nào?
Tập trung vào 3 trọng tâm: (1) Số hóa và ứng dụng hợp đồng thông minh trong quản trị biến động đất tặng cho; (2) Hoàn thiện quy chế pháp lý về quyền hưởng dụng trọn đời đối với nhà đất tặng cho; (3) Thiết lập cơ chế kiểm soát giao dịch tặng cho nhằm ngăn chặn rửa tiền và tẩu tán tài sản phi pháp.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Trần Thị Minh là công trình nghiên cứu khoa học pháp lý xuất sắc với 5 đóng góp đột phá cốt lõi:
- Xác lập hệ thống khái niệm khoa học chuẩn xác về QSDĐ ở và bản chất pháp lý của giao dịch tặng cho quyền tài sản không đền bù.
- Luận giải sâu sắc mối quan hệ hữu cơ không thể tách rời giữa QSDĐ ở và tài sản gắn liền với đất dưới góc độ lý thuyết vật quyền hiện đại.
- Nhận diện toàn diện các xung đột lập pháp giữa Bộ luật Dân sự 2015 và Luật Đất đai 2013 về chủ thể hộ gia đình và điều kiện hiệu lực hợp đồng.
- Phát hiện nguyên nhân thực tiễn và đưa ra giải pháp tháo gỡ bế tắc thi hành án đối với phán quyết tuyên hợp đồng vô hiệu từng phần.
- Đề xuất hệ thống giải pháp lập pháp đồng bộ, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế (Pháp, Trung Quốc) để hoàn thiện khung khổ pháp luật đất đai Việt Nam trong kỷ nguyên kinh tế thị trường và hội nhập toàn cầu.
Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộVIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRẦN THỊ MINH TẶNG CHO QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Ở THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY Ngành: Luật Kinh tế Mã số: 9380107 LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ NGA HÀ NỘI - 2019 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đề tài Luận án tiến sĩ là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu được sử dụng trong Luận án hoàn toàn được thu thập từ thực tế, chính xác, đáng tin cậy, có nguồn gốc rõ ràng, được xử lý trung thực khách quan, chưa từng được ai công bố ở đâu và trong bất kỳ công trình nào khác. Tác giả luận án TRẦN THỊ MINH MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành, đất đai tại Việt Nam được xác định là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, thống nhất quản lý và có quyền trao cho người sử dụng đất QSDĐ để sử dụng.
Căn cứ theo quy định này có thể thấy, pháp luật Việt Nam không thừa nhận quyền tư hữu về đất đai mà thay thế nó bằng QSDĐ – một dạng quyền năng của chủ sở hữu đối với tài sản. Đây là sự khác biệt mang tính đặc trưng của pháp luật Việt Nam, theo đó người sử dụng đất có các quyền năng của chủ sở hữu đối với quyền tài sản là QSDĐ như quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho. Việc pháp luật Việt Nam cho phép chuyển QSDĐ giữa những người sử dụng đất là sự kết hợp biến thể của quyền tư hữu về đất dưới hai khía cạnh tài sản và quyền. Trong đó, xét về khía cạnh tài sản, QSDĐ được xác định như một loại tài sản có giá trị thay thế cho tài sản là đất đai để tham gia vào các giao dịch kinh tế, dân sự trên thị trường.
Bên cạnh đó, về khía cạnh quyền, các quyền năng của người sử dụng đất được xây dựng trên cơ sở vật quyền đối với quyền tài sản là QSDĐ, đây được coi là sự thay thế đối với quyền của chủ sở hữu đất đai mà thông qua đó người sử dụng đất có quyền của chủ sở hữu đối với tài sản là đất. Có thể khẳng định rằng, sự ghi nhận và cho phép QSDĐ của những người sử dụng đất được phép chuyển QSDĐ cho nhau trên cơ sở phạm vi và điều kiện 1 2 mà pháp luật cho phép trong Hiến pháp 1992 và Luật Đất đai 1993 đã biến QSDĐ của những người sử dụng đất trước đất trước đây được xác lập một các áp đặt, thụ động, một chiều theo ý chí và mệnh lệnh của Nhà nước, trở thành một quyền tài sản được hình thành và phát triển một cách đa dạng, phong phú và linh hoạt nhiều chiều. Theo đó, QSDĐ của những người sử dụng đất không chỉ được xác lập trên cơ sở được Nhà nước giao, cho thuê, mà QSDĐ còn được xác lập từ các giao dịch dân sự, thương mại trên thị trường thông qua các giao dịch về QSDĐ giữa các chủ thể với nhau. Trong các giao dịch ấy, tặng cho QSDĐ là một trong những phương thức biểu hiện của sự dịch chuyển quyền từ chủ thể sử dụng đất này sang chủ thể sử dụng đất khác dựa trên mối quan hệ bình đẳng về địa vị pháp lý giữa chủ thể trao quyền và chủ thể 1 Điều 17 Hiến pháp năm 1992.
2Khoản 3 Điều 2 Luật Đất đai 1993. 1 nhận quyền, chúng vượt qua sự chỉ định hay sự áp đặt của Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu đại diện đối với đất đai. Chỉ cần đáp ứng các điều kiện luật định, tặng cho QSDĐ được xác lập dựa trên sự tôn trọng và ý chí tự nguyện, tự định đoạt, tự "dâng hiến" của chủ thể có QSDĐ hợp pháp cho một chủ thể khác mà họ mong muốn. Tặng cho QSDĐ theo quan niệm truyền thống với ý nghĩa là một quan hệ mang tính văn hóa, xã hội nhiều hơn là quan hệ mang tính kinh tế, chúng được thực hiện chủ yếu trong các mối quan hệ hôn nhân, huyết thống, thân quen.
Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, khi QSDĐ không chỉ đơn thuần là một thứ tài nguyên thuần túy mà thiên nhiên ban tặng cho con người, mà chúng trở thành một tài sản có giá trị đối với đời sống vật chất và tinh thần của người dân, trở thành nguồn vốn có vai trò quan trọng trong các giao dịch thương mại thì tặng cho QSDĐ còn hàm chứa ý nghĩa kinh tế to lớn. Theo đó, QSDĐ ở là tài sản có giá trị phải được "dành cho ai" mà người đó có khả năng khai thác, sử dụng có hiệu quả đối với tài sản đó. Với ý nghĩa đó, trên thực tế, việc tặng cho QSDĐ ở có thể diễn ra rất đa dạng từ chủ thể tặng cho như: những người có quan hệ huyết thống (cha mẹ, con cái), người thân quen, cho đến các tổ chức, cộng đồng dân cư hoặc Nhà nước. QSDĐ là đối tượng được tặng cho cũng rất đa dạng: QSDĐ nông nghiệp có đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất lâm nghiệp để trồng rừng, đất nuôi trồng thủy sản và các loại đất nông nghiệp khác.
QSDĐ phi nông nghiệp có loại đất phi nông nghiệp là đất ở và đất phi nông nghiệp không phải là đất ở. Cơ sở pháp lý của tài sản tặng cho cũng vô cùng phức tạp: có loại QSDĐ đã đầy đủ cơ sở pháp lý, song cũng có loại đất chưa đầy đủ cơ sở pháp lý, có loại QSDĐ thuộc quyền sử dụng hợp pháp duy nhất của người tặng cho, song có loại QSDĐ thuộc quyền sử dụng của nhiều chủ thể mà trong đó có chủ thể không đồng tình tặng cho QSDĐ ấy. Sự phức tạp ấy đòi hỏi cần phải được nghiên cứu một cách thấu đáo hệ thống pháp luật không chỉ là pháp luật dân sự về tặng cho tài sản, pháp luật đất đai về tặng cho QSDĐ mà còn pháp luật khác có liên quan như: pháp luật về hôn nhân và gia đình, pháp luật về công chứng, chứng thực, pháp luật về đăng ký. Trong tặng cho các QSDĐ thì tặng cho QSDĐ ở có tính phức tạp hơn cả bởi xuất phát từ chính tính chất, đặc điểm, vai trò và giá trị hữu dụng của QSDĐ ở.
Theo đó, QSDĐ ở - chúng không chỉ là nơi con người sinh ra, tồn tại và phát triển cuộc 2 sống, mà chúng còn gắn chặt với yếu tố tâm linh, là “quê cha, đất tổ”. Đặc biệt hơn, đất ở thì chúng không chỉ biểu hiện một chức năng đơn nhất là để ở mà chúng còn được sử dụng kết hợp làm mặt bằng cho các hoạt động kinh doanh, làm trụ sở văn phòng. nếu đất ở đó ở vị trí trung tâm, thuận lợi giao thông và gần các khu vực thương mại. Mặt khác, đất ở không chỉ thuần túy chỉ là đất ở, có thể bao gồm cả đất, nhà và các công trình xây dựng khác.
Nguồn gốc đất ở khi tặng cho có thể đã được cấp giấy chứng nhận, nhưng cũng có loại đất, tài sản gắn liền với đất ở không có giấy chứng nhận. Có loại đất ở của riêng cá nhân, song có loại đất ở lại của chung của hộ gia đình. Về hợp đồng tặng cho QSDĐ, hiện nay pháp luật quy định hai loại hợp đồng là hợp đồng tặng cho QSDĐ không có điều kiện và hợp đồng tặng cho QSDĐ có điều kiện. Đối với hợp đồng tặng cho QSDĐ có điều kiện, người được tặng cho phải thực hiện trước hoặc sau khi tặng cho các nghĩa vụ mà người tặng cho yêu cầu.
Các điều kiện do người tặng cho đưa ra cũng rất đa dạng và phong phú, chỉ cần không vi phạm các điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội thì người có QSDĐ được tự do đưa ra các điều kiện của mình theo mong muốn. Sự phức tạp về chủ thể, về đối tượng, về cơ sở pháp lý của đối tượng tặng cho. cùng với sự phát triển sôi động của thị trường bất động sản, đất đai nói chung, đặc biệt là đất ở tại đô thị, khu vực cận trung tâm, khu vực nơi có tốc độ đô thị hóa cao thì đất ở ngày càng tăng cao và càng trở nên có giá trị đối với người có quyền sử dụng hợp pháp. Theo đó, tặng cho QSDĐ ở không còn bó hẹp ở phạm vi và ý nghĩa truyền thống là cho nhau tài sản mà mình không còn nhu cầu sử dụng, cho những người thân của mình tài sản với tinh thần "chia sẻ" hay tặng cho QSDĐ ở để thực hiện những ý tưởng nhân văn khác như: tặng cho cộng đồng dân cư, tặng cho Nhà nước để sử dụng đất đó phục vụ cho mục đích quốc gia, công cộng.
Vượt ra xa phạm vi ấy, tặng cho QSDĐ còn hướng tới việc thay đổi tính năng và hiệu quả sử dụng đất, để tận dụng và phát huy tối đa hệ số sử dụng đất. Và điều đáng phải bàn là tặng cho QSDĐ ở còn nhằm những mục đích và ý đồ khác hơn để “tư lợi cá nhân”, để trốn thuế hay để thực hiện việc tẩu tán tài sản để trốn tránh việc thực hiện những nghĩa vụ tài sản khác. Đây là mặt trái của tặng cho QSDĐ nói chung và tặng cho QSDĐ ở nói riêng mà trên thực tế chúng phát sinh khá nhiều những tranh chấp, mâu thuẫn, bất đồng. Cụ thể, xuất phát từ bản thân các giao dịch tặng cho là các giao dịch không có đền bù ngang giá, chính vì vậy, 3 khi thấy giá trị QSDĐ, đặc biệt là đất ở đô thị và các vùng ven đô tăng, nhiều trường hợp người sử dụng đất đã tặng cho lại đòi lại QSDĐ đã tặng cho.
Trên thực tế, nhiều trường hợp, QSDĐ ở tặng cho không có tranh chấp, song tranh chấp về tài sản là nhà, công trình xây dựng khi các tài sản đó không là tài sản thuộc quyền sở hữu của người tặng cho. Đặc biệt, những loại giấy chứng nhận QSDĐ cấp cho hộ gia đình song không ghi rõ hộ gia đình bao gồm những thành viên nào, khi tặng cho, một hoặc một số thành viên trong hộ gia đình khởi kiện đòi phần QSDĐ của mình với lý do họ không đồng ý tặng cho tài sản đó. Trong nhiều trường hợp, cơ quan có thẩm quyền vô cùng khó khăn và lúng túng khi công nhận hợp đồng hay xử lý hợp đồng vô hiệu, hợp đồng vô hiệu toàn phần hay vô hiệu từng phần.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Trần Thị Minh (2019). Tặng cho quyền sử dụng đất ở: Pháp luật Việt Nam hiện nay [Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học Xã hội]. LuanAn.net. https://luanan.net/luat-hoc/tang-cho-quyen-su-dung-dat-o-theo-phap-luat-viet-nam
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Tặng cho quyền sử dụng đất ở: Pháp luật Việt Nam hiện nay" nghiên cứu về vấn đề gì?
Tặng quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam theo quy định pháp luật hiện hành về sở hữu đất đai.
Luận án "Tặng cho quyền sử dụng đất ở: Pháp luật Việt Nam hiện nay" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội. Năm bảo vệ: 2019.
Luận án "Tặng cho quyền sử dụng đất ở: Pháp luật Việt Nam hiện nay" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Tặng cho quyền sử dụng đất ở: Pháp luật Việt Nam hiện nay" thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế. Danh mục: Luật Học.
Luận án "Tặng cho quyền sử dụng đất ở: Pháp luật Việt Nam hiện nay" có bao nhiêu trang?
Luận án "Tặng cho quyền sử dụng đất ở: Pháp luật Việt Nam hiện nay" có 167 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Tặng cho quyền sử dụng đất ở: Pháp luật Việt Nam hiện nay" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.