So sánh BLHS Việt Nam - Nga: Phân tích thuật ngữ luật hình sự

Nghiên cứu xây dựng chuẩn hóa thuật ngữ luật hình sự để sửa đổi BLHS toàn diện.

Chuyên ngành
Luật hình sự
Tác giả

Luan An

Số trang

212

Thời gian đọc

32 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt nội dung

I. So sánh khái niệm người thực hành trong BLHS Việt Nam và Nga

BLHS Việt Nam định nghĩa người thực hành là người trực tiếp thực hiện hoặc lợi dụng người khác để phạm tội. Những người bị lợi dụng do tuổi đời, năng lực hoặc tình tiết đặc biệt không chịu trách nhiệm hình sự. BLHS Nga quy định rõ ràng về phạm tội thái quá tại Điều 36: người thực hành vượt quá ý đồ đồng phạm thì đồng phạm không chịu trách nhiệm. Điều này phản ánh sự khác biệt trong nguyên tắc luật hình sự và cấu thành tội phạm giữa hai nước.

1.1. Định nghĩa người thực hành theo BLHS Việt Nam

Bộ luật Hình sự Việt Nam nhấn mạnh người thực hành là cá nhân trực tiếp gây ra hậu quả nguy hiểm. Những người bị lợi dụng không có năng lực trách nhiệm hình sự được miễn trách nhiệm. Tuy nhiên, quy định này chưa đề cập đến trách nhiệm đối với hành vi phạm tội thái quá của người thực hành.

1.2. Quy định về phạm tội thái quá trong BLHS Nga

Điều 36 BLHS Nga quy định rõ: nếu người thực hành vượt quá ý đồ đồng phạm, những người đồng phạm khác không chịu trách nhiệm hình sự. Đây là điểm nổi bật trong hệ thống hình phạt và chính sách hình sự của Nga, giúp phân định trách nhiệm trong tội phạm có tổ chức.

II. Phân tích tội phạm có tổ chức trong hai BLHS

BLHS Việt Nam định nghĩa phạm tội có tổ chức tại Khoản 3 Điều 20 nhưng chưa phân loại mức độ câu kết. BLHS Nga quy định chi tiết tại Điều 35: phân loại thành nhóm không bàn bạc, nhóm bàn bạc trước và nhóm có tổ chức. Cách tiếp cận của Nga phản ánh rõ hơn bản chất tổ chức của tội phạm và mức độ nghiêm trọng của hành vi.

2.1. Khái niệm phạm tội có tổ chức theo BLHS Việt Nam

Điều 20 BLHS Việt Nam định nghĩa phạm tội có tổ chức là hành vi của nhóm người có sự câu kết. Tuy nhiên, định nghĩa này chưa phân biệt rõ giữa nhóm lỏng lẻo và nhóm có cấu trúc chặt chẽ, gây khó khăn trong thực tiễn áp dụng.

2.2. Hệ thống phân loại tội phạm có tổ chức trong BLHS Nga

BLHS Nga quy định 4 cấp độ: nhóm không bàn bạc, nhóm bàn bạc trước, nhóm có tổ chức và liên minh tội phạm. Điều này giúp xác định mức độ tổ chức và hình phạt tương ứng, phù hợp với nguyên tắc trách nhiệm hình sự.

III. So sánh các trường hợp loại trừ tính chất tội phạm

BLHS Việt Nam quy định 4 trường hợp loại trừ tính chất tội phạm như phòng vệ chính đáng. BLHS Nga bổ sung thêm 4 trường hợp tại Điều 28, bao gồm bắt giữ người phạm tội, cưỡng bức, mạo hiểm có căn cứ và thi hành mệnh lệnh. Cách tiếp cận của Nga thể hiện rõ hơn chính sách hình sự linh hoạt.

3.1. Trường hợp gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội

BLHS Nga quy định hành vi này không cấu thành tội phạm nếu không có lỗi chủ quan. Đây là điểm khác biệt so với BLHS Việt Nam, nơi chưa có quy định cụ thể cho trường hợp này.

3.2. Sự kiện bất ngờ và các trường hợp đặc biệt

BLHS Nga mở rộng khái niệm sự kiện bất ngờ, bao gồm cả hạn chế tâm sinh lý. Điều này giúp đánh giá khách quan hơn về lỗi của người thực hiện hành vi, phù hợp với nguyên tắc luật hình sự.

IV. So sánh hình phạt tiền và tịch thu tài sản

BLHS Việt Nam chưa định nghĩa rõ hình phạt tiền, trong khi BLHS Nga quy định chi tiết tại Điều 46. Tịch thu tài sản ở Việt Nam là hình phạt bổ sung, còn Nga xem đây là biện pháp pháp luật hình sự khác. Sự khác biệt này ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của hình phạt trong hai hệ thống.

4.1. Định nghĩa hình phạt tiền theo BLHS Nga

Điều 46 BLHS Nga quy định hình phạt tiền là hình thức trừng phạt bằng tiền, tính theo thu nhập của người phạm tội. Điều này giúp xác định mức phạt cụ thể, tránh tình trạng tùy tiện trong xét xử.

4.2. Tịch thu tài sản trong hai BLHS

Việt Nam coi tịch thu tài sản là hình phạt bổ sung, trong khi Nga xem đây là biện pháp pháp lý độc lập. Cách tiếp cận của Nga phù hợp hơn với nguyên tắc hình phạt trong luật hình sự hiện đại.

V. Quy định về án tích và trách nhiệm hình sự

BLHS Nga quy định rõ án tích từ Điều 86, bao gồm thời gian và điều kiện xóa án tích. BLHS Việt Nam chỉ đề cập đến các trường hợp xóa án tích mà không định nghĩa cụ thể. Sự khác biệt này ảnh hưởng đến chính sách cải tạo và giám sát người phạm tội.

5.1. Khái niệm án tích trong BLHS Nga

Điều 86 BLHS Nga xác định án tích là thời gian từ khi bản án có hiệu lực đến khi xóa án tích. Thời gian này được xét khi người phạm tội tái phạm, đảm bảo tính nghiêm minh trong trách nhiệm hình sự.

5.2. Trách nhiệm hình sự và điều kiện áp dụng

BLHS Nga quy định điều kiện trách nhiệm hình sự tại Điều 19, bao gồm năng lực và độ tuổi. Việt Nam chỉ nêu cơ sở trách nhiệm mà không đề cập đến các điều kiện này, gây khó khăn trong thực tiễn.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ xây dựng và chuẩn hóa các thuật ngữ luật hình sự phục vụ việc sửa đổi cơ bản toàn diện blhs việt nam

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (212 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

trong trường họp này: “Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm hoặc trực tiếp tham gia cùng thực hiện tội phạm với những người khác (đồng thực hiện) và cũng ia người thực hiện tội phạm bằng cach igi dụng người khác. Những người bị lợi dụng này không phải chịu trách nhiệm do độ tuổi, do không có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc các tình tiết khác được Bộ luật này quy định `) - Việc phạm tội thái qua của người thực hiện Trách nhiệm hĩnh sự đối với hành vi thái quá của người thực hành chưa được đề cập trong BLHS Việt Nam, trong khi thực tiễn xét xử ở nước ta vẫn tồn tại vấn đề này. BLHS của Nga lại quy định khá rõ ràng về vấn đề này tại Điều 36: “Được coi là phạm tội thái quá khi người tiễn hành thực hiện tội phạm nằm ngoàiý đồ của những người đồng phạm khác, về việc phạm tội thái quá của người thực hiện những người dong phạm khác không phải chịu trách nhiệm hình sự. ” :; Phạm tội có tổ chức Khoản 3 Điều 20 đã định nghĩa khái niệm phạm tội có tô chức.

Tuy nhiên, định nghĩa này chưa thể hiện được rõ ràng về sự câu kết chặt chẽ. Sự câu kết chặt chẽ này nằm ở cả hành vi cũng như kết cấu của nhóm người. Vì vậy, cần chia ra các trường hợp phạm tội có tô chức với các mức độ câu kết khác nhau, phản ánh tính có tô chức cả ở hành vi phạm tội lẫn cơ cầu tô chức của nhóm người. Trong khi đó, BLHS Nga quy định rất rõ ràng về trường hợp này tại Điều 35: “1.

lội phạm được coi là thực hiện bởi một nhom người nếu cô sự cùng tham gia thực hiện của hai người thục hành trở lên mà không cổ bàn bạc từ trước. Tội phạm được coi là thực hiện bởi một nhóm người có bàn bạc từ trước nếu những người tham gia đã trao đối, ban bạc trước đồ về việc cùng thực hiện tội phạm. Tôi phạm được coi là thực hiện bởi một nhom có t6 chức nếu nhóm này có tô chức 6n định, đã được tập hợp tại trước đó để thực hiện một hoặc mỘt số tội phạm. 205 4 Tội phạm được coi là thực hiện bởi một liên minh tội phạm (t6 chức tội phạm) nếu đây là một nhóm có bộ máy tổ chức rõ ràng hoặc là sự hợp nhất các nhóm có tổ chức lại, hoạt động dưới sự chỉ huy của một người duy nhát, các thành viên liên minh với nhau nhằm mục dich cùng nhau thực hiện một hoặc một số tộiphạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trong hong trực tiếp hoặc gián tiếp nhận được khoản lợi tài chính hoặc khoản lợi vật chất khác.

*Những trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi Ngoài những quy định về những trường họp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi như: sự kiện bất ngờ, tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng, BLHS Nga còn quy định thêm 4 trường hợp là: Gây thiệt hại trong khi bắt giữ người phạm tội, cưỡng bức thé chất va tinh thần, mao hiểm có căn cứ, thi hành mệnh lệnh hoặc chỉ thị. Các trường hợp loại trừ tính chất tội phạm của hành vi được quy định thành một chương riêng chứ không năm rải rác tại các chương khác nhau như ở BLHS Việt Nam. * Sự kiện bất ngờ Trong BLHS cua Nga, tại Điều 28, chế định này được đặt tên là: Gây ra hậu quả nhưng không có lỗi. Định nghĩa của khái niệm này về cơ bản cũng giống như định nghĩa tại Điều II BLHS Việt Nam.

Ngoài ra, BLHS Nga có bổ sung thêm trường họp 'zgười thực hiện hành vi, mặc dù thấy trước khả năng xảy ra những hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành động (không hành động) của mình nhưng không thể ngăn ngừa những hậu quả này do những hạn chế về tâm sinh lí không đáp ứng được yêu câu của hoàn cảnh bức thiết hoặc tâm trạng và thân kinh quá mệt moi * Phạt tiền BLHS Việt Nam không định nghĩa thế nào là hình phạt tiền. Trong khi đó, khoản 1 Điều 46 BLHS Nga đã định nghĩa hình phạt này. * Tịch thu tài sản Tịch thu tài sản trong BLHS Việt Nam được quy định là hình phạt bổ 206 sung. Điều 40 quy định: “?7?ch thu tai sản là tước một phần hoặc toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của người bị kết án sung quỹ nhà nước.

” Trong BLHS Nga, tịch thu tài sản được qui định là biện pháp pháp luật hình sự khác và định nghĩa tại Điều 104-1: “Tich thu tài sản là việc tịch thu không hoàn lại và đua vào sở hữu nhà nước căn cứ vào bản án có hiệu lực. ” : Án tích Trong BLHS Nga, khoàn 1- Điều 86 xác định: ‘Nguoi bi kết án do thực hiện tội phạm được coi là có án tích (tiền án) kể từ ngày ban án bắt đấu có hiệu lực cho tới thời điểm trả xong án tích hoặc thời điểm xoá bỏ án tích. An tích sẽ được xét tới trong trường hợp tai phạm tội và khi áp dung hình phạt." BLHS Việt Nam chỉ quy định về xoá án tích trong các trường hợp: đương nhiên được xoá án tích, xoá án tích trong trường họp đặc biệt, xoá án tích theo quyết định của Toà án, mà không quy định như thế nào là có án tích. * Trách nhiệm hình sự Điều 2 BLHS Việt Nam quy định về Cơ sở của trách nhiệm hình sự, thec đó một người phạm một tại đã được BLHS quy định phải chịu trách nhiệm hình sự.

BLHS không nhac đến Điều kiện của trách nhiệm hình sự bao gồm năng lực và độ tuôi chịu trách nhiệm hình sự. Trong khi đó, Điều 19 BLHS Nga qui định các điều kiện chung của trách nhiệm hĩnh sự gồm năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuôi theo quy định của BLHS. VE PHAN CÁC TOI PHAM CUA 2 BLHS Phần các tội phạm BLHS Việt Nam có 14 chương, từ chương XI đến XXIV với 266 điều; còn trong Phần các tội phạm BLHS Nga có 6 mục, 19 chuong, từ chương 16 đến 34 với 255 điều. VỀ tên eác nhóm tội trong 2 BLHS Hai BLHS có 14 chương - nhóm tội có nội dung tương ứng với tên gọi cụ thê như sau: 207 STT BLHS Viét Nam BLHS Nga Các tội phá hoại hoà binh, chống Các tội phá hoại hoà bình và an ninh loài người và tội phạm chiên ứanh của loài người Các tội phạm về chức vụ Các tội chống lại chính quyền, xâm phạm lợi ích của các cơ quan nhà nước, xâm phạm công vụ của các cơ quan chính quyên địa phương Các tội phạm về ma túy Các tội xâm phạm sức khỏe của dân chúng và đạo đức xã hội (Điêu 228 đên Điêu 23 ) Các tội phạm về môi trường Các tội phạm về môi trường Cac tội xâm phạm an ninh quôc gia Các tội xâm phạm hiến pháp và an ninh quôc gia Các tội xâm phạm an toàn công - Các tội xâm phạm an toàn xã hội cộng, trật tự công cộng - Các tội xâm phạm an toàn khi vận hành và khai thác giao thông - Các tội phạm trong lĩnh vực thông tin máy tính - Tội xâm phạm sức khỏe của công dân và đạo đức xã hội Các tội xâm phạm chê độ hôn nhân Các tội xâm phạm gia đình và người và gia đình chưa thành niên Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp Các tội xâm phạm nghĩa vu, tach Các tội vi phạm chế độ nghĩa vụ quân nhiệm của quân nhân Sự 10 Các tội xâm phạm quyền tự do, dân Các tội xâm phạm quyền hiến định và chủ của công dân tự do của con người và công dân I Các tội xâm phạm sở hữu 12 Các tội xâm phạm tính mạng, sức - Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe khỏe, nhân phâm, danh dự của con - Các tội xâm phạm tự do, danh dự, người nhan phẩm, cá nhan - Các tội xâm phạm quyên bat khả xâm phạm tình dục và tự do tình dục của COn người 13 Các tội xâm phạm trật tự quản lí Các tội xâm phạm trật tự quản lí hàn] chính 14 Các tội xâm phạm trật tự quản lí Tội phạm trong lĩnh vực hoạt động kinh tế kinh tê 208 BLHS Nga có các nhóm tội riêng mà trong BLHS Việt Nam không có: Các tội xâm phạm lợi ích dịch vụ trong các tô chức thương mại và các tô chức khác; Các tội xâm phạm quyền bất khả xâm phạm tĩnh dục và tự do tình dục của con người; Các tội xâm phạm an toàn khi vận hành và khai thác giao thông và Các tội xâm phạm trong lĩnh vực thông tin máy tính.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Phân tích và so sánh BLHS Việt Nam - Nga" nghiên cứu về vấn đề gì?

Nghiên cứu xây dựng chuẩn hóa thuật ngữ luật hình sự để sửa đổi BLHS toàn diện.

Luận án "Phân tích và so sánh BLHS Việt Nam - Nga" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Phân tích và so sánh BLHS Việt Nam - Nga" thuộc chuyên ngành Luật Hình sự. Danh mục: Luật Học.

Luận án "Phân tích và so sánh BLHS Việt Nam - Nga" có bao nhiêu trang?

Luận án "Phân tích và so sánh BLHS Việt Nam - Nga" có 212 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Phân tích và so sánh BLHS Việt Nam - Nga" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter