Luận án tiến sĩ: Địa vị pháp lý của hội thẩm ở Việt Nam hiện nay - Trần Thị Thu Hằng (2019)
Luận án tiến sĩ phân tích địa vị pháp lý hội thẩm tại Việt Nam, cập nhật xu hướng hiện nay.
Luan An
Luận án tiến sĩ luật học
Năm xuất bản
Số trang
169
Thời gian đọc
26 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Khái quát về địa vị pháp lý của hội thẩm tại Việt Nam
- Số trang:
- 169 trang
- Trường:
- Học viện Khoa học Xã hội
- Chuyên ngành:
- Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
- Tác giả:
- Trần Thị Thu Hằng
- Năm:
- 2019
Tóm tắt nội dung luận án
I. Khái quát về địa vị pháp lý của hội thẩm tại Việt Nam
Địa vị pháp lý của hội thẩm xác định vị trí, vai trò của người đại diện nhân dân trong hoạt động tư pháp. Đây là tổng thể các quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định. Chế định hội thẩm thể hiện tính dân chủ xã hội chủ nghĩa sâu sắc. Người dân trực tiếp tham gia vào quá trình thực thi công lý. Hệ thống tòa án tại Việt Nam ghi nhận sự tham gia bắt buộc của hội thẩm trong hầu hết các phiên tòa sơ thẩm. Hội thẩm đại diện cho ý chí, nguyện vọng và tri thức thực tiễn của xã hội. Sự hiện diện của hội thẩm bảo đảm phán quyết thấu tình đạt lý, củng cố niềm tin của công chúng vào nền tư pháp.
1.1. Khái niệm và vai trò của hội thẩm nhân dân trong xét xử
Hội thẩm nhân dân là công dân Việt Nam được Hội đồng nhân dân bầu để thực hiện nhiệm vụ xét xử. Chế định này phản ánh bản chất của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Trong hội đồng xét xử, hội thẩm nhân dân mang tiếng nói đời sống thực tiễn và nhận thức đạo đức xã hội vào phòng xử án. Sự tham gia của hội thẩm góp phần giám sát hoạt động xét xử của thẩm phán chuyên nghiệp. Điều này giúp ngăn ngừa tiêu cực, thiên vị hoặc oan sai. Hoạt động của hội thẩm cũng góp phần tuyên truyền, giáo dục pháp luật trực tiếp đến quần chúng nhân dân.
1.2. Phân loại gồm hội thẩm nhân dân và hội thẩm quân nhân
Pháp luật hiện hành chia chế định hội thẩm thành hai nhóm chính. Nhóm thứ nhất là hội thẩm nhân dân, công tác tại các Tòa án nhân dân cấp tỉnh và cấp huyện. Nhóm thứ hai là hội thẩm quân nhân, tham gia xét xử tại các Tòa án quân sự quân khu và khu vực. Hội thẩm quân nhân là quân nhân tại ngũ hoặc công chức quốc phòng được cử tham gia xét xử. Sự phân định này bảo đảm tính đặc thù của từng lĩnh vực chuyên môn. Cả hai nhóm hội thẩm đều mang trọng trách bảo vệ pháp chế, giữ gìn trật tự kỷ cương xã hội và kỷ luật quân đội.
II. Tiêu chuẩn bầu và nhiệm kỳ của hội thẩm nhân dân hiện nay
Hội thẩm nhân dân giữ vai trò quyết định tính đúng đắn của các bản án sơ thẩm. Do đó, việc lựa chọn nhân sự đòi hỏi các tiêu chí nghiêm ngặt về tư cách đạo đức và hiểu biết xã hội. Pháp luật quy định chặt chẽ từ khâu đề cử, hiệp thương đến bầu cử chính thức. Các quy định này bảo đảm hội thẩm có đủ uy tín và bản lĩnh đại diện cho nhân dân. Quá trình lựa chọn cũng bảo đảm sự cân đối về giới tính, độ tuổi, ngành nghề và thành phần xã hội trong đoàn hội thẩm.
2.1. Tiêu chuẩn bầu hội thẩm nhân dân theo luật định
Tiêu chuẩn bầu hội thẩm nhân dân được quy định rõ trong văn bản luật. Công dân phải có phẩm chất chính trị vững vàng, đạo đức trong sạch, có tinh thần dũng cảm bảo vệ công lý. Người tham gia cần có kiến thức pháp lý nhất định và hiểu biết đời sống xã hội sâu sắc. Độ tuổi, sức khỏe và thời gian công tác phải đáp ứng yêu cầu tham gia các phiên tòa. Sự hiểu biết thực tiễn giúp hội thẩm đánh giá chứng cứ khách quan, toàn diện và nhân văn.
2.2. Nhiệm kỳ của hội thẩm và cơ cấu tổ chức đoàn hội thẩm
Nhiệm kỳ của hội thẩm theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp, thông thường kéo dài 5 năm. Cơ cấu này bảo đảm sự ổn định và tính kế thừa trong tổ chức xét xử. Các hội thẩm tập hợp thành Đoàn hội thẩm nhân dân tại từng địa phương. Trưởng đoàn và Phó trưởng đoàn chịu trách nhiệm phân công, điều phối thành viên tham gia xét xử theo kế hoạch của Tòa án. Cơ chế này tạo sự chủ động và hạn chế sự can thiệp hành chính từ bên ngoài.
2.3. Quy trình bầu và miễn nhiệm hội thẩm tại Hội đồng nhân dân
Quy trình bầu và miễn nhiệm hội thẩm tuân thủ các bước chặt chẽ theo luật định. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh hoặc cấp huyện giới thiệu nhân sự. Hội đồng nhân dân cùng cấp tiến hành bầu hội thẩm theo đề nghị đó. Khi hội thẩm không còn đủ tiêu chuẩn, vi phạm kỷ luật hoặc vì lý do sức khỏe, Hội đồng nhân dân sẽ xem xét miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm. Trình tự này bảo đảm quyền lực tư pháp bắt nguồn từ nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân.
III. Quyền hạn và nghĩa vụ của hội thẩm theo quy định pháp luật
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân quy định chi tiết quyền hạn và nghĩa vụ của hội thẩm. Việc xác định rõ thẩm quyền giúp hội thẩm chủ động thực hiện chức trách tư pháp. Pháp luật bảo đảm các điều kiện cần thiết để hội thẩm tiếp cận hồ sơ, nghiên cứu chứng cứ trước phiên tòa. Đồng thời, pháp luật cũng ràng buộc trách nhiệm cá nhân của hội thẩm đối với phán quyết đưa ra. Cơ chế này cân bằng giữa quyền năng tư pháp và kỷ luật công vụ.
3.1. Quyền hạn và nghĩa vụ của hội thẩm trong hội đồng xét xử
Quyền hạn và nghĩa vụ của hội thẩm được thực thi tối đa tại phòng xử án. Trong hội đồng xét xử, hội thẩm có quyền nghiên cứu hồ sơ vụ án, tham gia xét hỏi nhân chứng, đương sự và bị cáo. Hội thẩm có quyền thảo luận, biểu quyết độc lập về mọi vấn đề của vụ án. Song song đó, hội thẩm có nghĩa vụ tôn trọng sự thật khách quan, giữ bí mật nhà nước và bí mật xét xử. Việc thực hiện đúng nghĩa vụ bảo đảm bản án có căn cứ pháp lý vững chắc.
3.2. Chế độ bồi dưỡng nghiệp vụ và bảo đảm hoạt động xét xử
Nhà nước ban hành các chính sách bồi dưỡng kiến thức pháp luật định kỳ cho hội thẩm. Ngành tòa án tổ chức các lớp tập huấn kỹ năng nghiên cứu hồ sơ và kỹ năng thẩm vấn. Hội thẩm được cấp trang phục xét xử, phụ cấp phiên tòa và các chế độ bảo đảm theo luật định. Cơ quan, tổ chức nơi hội thẩm làm việc có trách nhiệm tạo điều kiện về thời gian để hội thẩm làm nhiệm vụ xét xử. Những bảo đảm này giúp nâng cao chất lượng xét xử thực tế.
IV. Nguyên tắc hội thẩm ngang quyền và tính độc lập khi xét xử
Nguyên tắc xét xử tập thể và quyết định theo đa số là trụ cột của tố tụng Việt Nam. Tại phiên tòa sơ thẩm, số lượng hội thẩm thường chiếm đa số trong thành phần hội đồng xét xử. Điều này bảo đảm quan điểm của người đại diện nhân dân giữ trọng lượng quyết định. Các nguyên tắc hiến định khẳng định vị thế bình đẳng giữa chuyên môn pháp lý và tiếng nói lương tri xã hội.
4.1. Nguyên tắc hội thẩm ngang quyền với thẩm phán khi phán quyết
Nguyên tắc hội thẩm ngang quyền với thẩm phán là nền tảng bảo đảm sự bình đẳng trong nghị án. Hội thẩm có giá trị lá phiếu ngang bằng với thẩm phán chuyên nghiệp. Khi quyết định tội danh, mức hình phạt hay trách nhiệm bồi thường, mọi thành viên đều biểu quyết theo đa số. Thẩm phán không có quyền áp đặt quan điểm cá nhân lên hội thẩm. Ý kiến thiểu số của hội thẩm được ghi nhận bằng văn bản trong hồ sơ vụ án.
4.2. Tính độc lập của hội thẩm khi xét xử theo quy định Hiến pháp
Tính độc lập của hội thẩm khi xét xử được Hiến pháp và pháp luật bảo vệ nghiêm ngặt. Khi xét xử, hội thẩm chỉ tuân theo pháp luật, không bị chi phối bởi bất kỳ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào. Mọi hành vi can thiệp trái pháp luật vào hoạt động xét xử của hội thẩm đều bị xử lý nghiêm minh. Tính độc lập bảo đảm sự công tâm, khách quan và minh bạch trong mọi phán quyết tư pháp.
V. Giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý của hội thẩm Việt Nam
Cải cách tư pháp đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện khung khổ pháp lý về hội thẩm. Thực tiễn áp dụng pháp luật vẫn còn bộc lộ một số hạn chế về tính chuyên nghiệp và điều kiện làm việc. Nâng cao vị thế pháp lý của hội thẩm là nhiệm vụ trọng tâm nhằm bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Các giải pháp cần tiến hành đồng bộ từ hoàn thiện thể chế đến tổ chức thực hiện.
5.1. Hoàn thiện Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và văn bản liên quan
Hệ thống pháp luật cần sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Tòa án nhân dân và các bộ luật tố tụng. Cần quy định cụ thể hơn về tiêu chí lựa chọn, cơ chế bảo vệ hội thẩm trước các áp lực xã hội. Thủ tục phân công hội thẩm ngẫu nhiên bằng công nghệ thông tin cần được mở rộng. Điều này giúp ngăn ngừa sự can thiệp chủ quan và bảo đảm tính minh bạch trong chỉ định thành viên hội đồng xét xử.
5.2. Nâng cao năng lực chuyên môn và trách nhiệm pháp lý hội thẩm
Công tác đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng tranh tụng cho hội thẩm cần được đổi mới toàn diện. Tòa án cần cung cấp hồ sơ sớm và tạo điều kiện không gian nghiên cứu thuận lợi. Đồng thời, cần nâng cao chế độ bồi dưỡng, đãi ngộ tương xứng với trách nhiệm tư pháp. Quy định rõ trách nhiệm giải trình và xử lý kỷ luật đối với hành vi vi phạm đạo đức xét xử là yêu cầu tất yếu.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (169 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộVIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRẦN THỊ THU HẰNG ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA HỘI THẨM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI - NĂM 2019 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRẦN THỊ THU HẰNG ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA HỘI THẨM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính Mã số: 938.02 LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS. NGUYỄN ĐĂNG DUNG HÀ NỘI - NĂM 2019 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi; các số liệu, tư liệu được sử dụng trong Luận án là trung thực, có xuất xứ rõ ràng; những phát hiện đưa ra trong Luận án là kết quả nghiên cứu của tác giả Luận án. TÁC GIẢ LUẬN ÁN Trần Thị Thu Hằng LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện Luận án "Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay", Tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Ban Giám đốc, Ban chủ nhiệm khoa Luật, Phòng quản lý đào tạo, các nhà khoa học, cán bộ và chuyên viên của Học viện khoa học xã hội Việt Nam. Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành về những sự giúp đỡ đó.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Nguyễn Đăng Dung –người thầy trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành Luận án. Tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo, bạn bè và đồng nghiệp của tôi tại Ban Nội chính Trung ương, Tòa án nhân dân tối cao và gia đình đã động viên, khích lệ, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành Luận án này. Trân trọng cảm ơn. Hà Nội, ngày tháng năm 2019 Tác giả Luận án Trần Thị Thu Hằng MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 8 1.
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 8 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 13 1. Đánh giá chung tình hình nghiên cứu 14 1.4 Những vấn đề đặt ra cần nghiên cứu 16 CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA HỘI THẨM 19 2. Khái niệm, ý nghĩa, vai trò địa vị pháp lý của hội thẩm 19 2.
Các yếu tố cấu thành địa vị pháp lý của hội thẩm 42 2.3 Những yếu tố ảnh hưởng tới địa vị pháp lý của hội thẩm 53 2. Địa vị pháp lý của hội thẩm (bồi thẩm, thẩm phán không chuyên) ở một số 58 quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA HỘI THẨM Ở VIỆT NAM 70 3. Quá trình hình thành và phát triển địa vị pháp lý của hội thẩm ở Việt Nam 70 3. Thực trạng địa vị pháp lý của hội thẩm ở Việt Nam hiện nay 81 3.
Ưu điểm, hạn chế, bất cập, nguyên nhân trong địa vị pháp lý của hội thẩm ở 113 Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra CHƯƠNG 4 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA 124 HỘI THẨM Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 4.1 Những yêu cầu đặt ra đối với việc hoàn thiện địa vị pháp lý của hội thẩm 124 4.2 Các giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý của hội thẩm 130 KẾT LUẬN CHUNG 149 DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 152 MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Cải cách tư pháp là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đã được đề ra từ rất lâu và luôn được đặt trong tổng thể cải cách về bộ máy nhà nước. Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 là chủ trương cải cách sâu sắc và toàn diện nhất trong quá trình hình thành, phát triển của hệ thống tư pháp Việt Nam từ năm 1945 đến nay. Chiến lược Cải cách tư pháp đề ra mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu lực và hiệu quả cao [37].
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng cũng tiếp tục khẳng định“Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp"[34, tr.178],"Cụ thể hóa đầy đủ các nguyên tắc hiến định về chức năng, nhiệm vụ của Tòa án nhân dân và hoạt động xét xử" [34, tr. Trước những yêu cầu nêu trên, thì nhiệm vụ của ngành tòa án là rất quan trọng, có thể nói đây là công tác có vai trò quyết định của hoạt động cải cách tư pháp bởi vì tòa án là cơ quan giữ vị trí "trung tâm" trong hệ thống các cơ quan tư pháp, nơi thể hiện kết quả hoạt động cuối cùng của hệ thống tư pháp. Để tòa án thực sự thực hiện quyền tư pháp, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người và quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013 thì việc cải cách, đổi mới hoạt động của tòa án nhân dân nói chung, hoạt động của hội thẩm nói riêng cần phải được tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện theo hướng đề cao hơn nữa mục tiêu bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người và quyền công dân, góp phần giữ vững ổn định xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu quả của bộ máy Nhà nước mà các Nghị quyết của Đảng đã đề ra. Hội thẩm có vị trí, vai trò quan trọng đảm bảo tính dân chủ trong hoạt động xét xử, là người đại diện cho nhân dân, hội thẩm tham gia trực tiếp vào công tác xét xử với tư cách là chủ thể xét xử, mang tiếng nói của đời sống xã hội, của đạo lý để đánh giá về vụ việc phải giải quyết, góp phần giúp hoạt động xét xử của tòa án 1 được chính xác, khách quan, đảm bảo công bằng, công lý trong xét xử.
Sự tham gia của hội thẩm trong hoạt động xét xử đã được ghi nhận trong Hiến pháp như là một nguyên tắc hiến định. Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định "Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có Hội thẩm tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn". Chính vì vai trò quan trọng của hội thẩm trong hoạt động xét xử nên việc nghiên cứu và không ngừng hoàn thiện địa vị pháp lý của hội thẩm theo hướng hiệu lực, hiệu quả là một nhiệm vụ thường xuyên, liên tục, nhằm năng cao chất lượng hoạt động tư pháp. Trong những năm qua, hệ thống pháp luật về chế định hội thẩm không ngừng được hoàn thiện.
Các quy định của Hiến pháp, pháp luật về địa vị của hội thẩm đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng, tạo điều kiện đảm bảo cho sự tham gia của nhân dân trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, nghiên cứu các quy định của pháp luật hiện hành về địa vị của hội thẩm cũng như thực tiễn áp dụng các quy định này vẫn còn nhiều vấn đề vướng mắc, bất cập như về tiêu chuẩn của hội thẩm, quy trình lựa chọn, cách thức thành lập hội thẩm, đã khiến cho việc hội thẩm tham gia xét xử mang nặng tính cơ cấu, giảm tính ngẫu nhiên, làm mất đi tính chất "bình dân" của người hội thẩm. Mặc dù pháp luật đã quy định cho hội thẩm những quyền và nghĩa vụ khi tham gia trực tiếp vào hoạt động xét xử nhưng lại thiếu các cơ chế đảm bảo cho các quyền và nghĩa vụ pháp lý này được thi trên thực tế. Dẫn tới thực tiễn thực hiện pháp luật về địa vị của hội thẩm đã bộc lộ những hạn chế nhất định, những khó khăn vướng mắc trong thực tiễn áp dụng là một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng hội thẩm chưa chủ động khi tiến hành các hoạt động tố tụng, nghiên cứu hồ sơ cũng như thẩm vấn tại tại phiên tòa, không ít hội thẩm trong suốt nhiệm kỳ xét xử của mình (05 năm), hầu như không đưa ra được ý kiến độc lập về việc giải quyết vụ án, vẫn còn thụ động, chờ đợi vào quyết định của thẩm phán, chủ tọa.
Do vậy, việc hội thẩm tham gia xét xử còn mang nặng tính hình thức, chất lượng, hiệu quả hoạt động xét xử của hội thẩm chưa cao, hội thẩm chưa phát huy được hết vị trí quan trọng mà Hiến pháp và pháp luật đã quy định: "Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật."[82]; "Khi biểu quyết về quyết định giải quyết vụ án, Hội thẩm nhân dân ngang quyền với Thẩm phán"[89] và dẫn tới các quy định này dường như không có tính khả thi trong thực tiễn hoạt động xét xử. 2 Trong tiến trình nghiên cứu về cải cách tư pháp, mặc dù thẩm phán và hội thẩm đều là những người tiến hành tố tụng, là chủ thể xét xử, có vị trí rất quan trọng và cơ bản trong tòa án nhưng hiện nay việc nghiên cứu mới chỉ tập trung vào địa vị pháp lý của thẩm phán mà chưa thấy có một đề tài hay một công trình nghiên cứu cơ bản chuyên sâu nào về địa vị pháp lý của hội thẩm, nên nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về địa vị pháp lý của hội thẩm chưa được làm sáng tỏ. Do đó, việc thường xuyên nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về địa vị hội thẩm, nâng cao hiệu quả xét xử của tòa án được xem là giải pháp vừa có tính cấp thiết, lâu dài, nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vừa giải quyết những vướng mắc bất cập hiện nay trong hoạt động xét xử của tòa án. Những phân tích trên đây cho thấy tính cấp thiết cả về mặt lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu đề tài, do vậy, nghiên cứu sinh đã lựa chọn "Địa vị pháp lý của Hội thẩm ở Việt Nam hiện nay" làm đề tài Luận án tiến sĩ của mình.
Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận án 2. Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về địa vị pháp lý của hội thẩm trong xét xử tại tòa án, Luận án đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về địa vị của hội thẩm, góp phần nâng cao chất lượng xét xử của tòa án, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Trần Thị Thu Hằng (2019). Địa vị pháp lý của hội thẩm tại Việt Nam hiện nay [Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học xã hội]. LuanAn.net. https://luanan.net/luat-hoc/luat-hinh-su/luan-an-tien-si-dia-vi-phap-ly-hoi-tham-viet-nam-hien-nay
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Địa vị pháp lý của hội thẩm tại Việt Nam hiện nay" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án tiến sĩ phân tích địa vị pháp lý hội thẩm tại Việt Nam, cập nhật xu hướng hiện nay.
Luận án "Địa vị pháp lý của hội thẩm tại Việt Nam hiện nay" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội. Năm bảo vệ: 2019.
Luận án "Địa vị pháp lý của hội thẩm tại Việt Nam hiện nay" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Địa vị pháp lý của hội thẩm tại Việt Nam hiện nay" thuộc chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành chính. Danh mục: Luật Hình Sự.
Luận án "Địa vị pháp lý của hội thẩm tại Việt Nam hiện nay" có bao nhiêu trang?
Luận án "Địa vị pháp lý của hội thẩm tại Việt Nam hiện nay" có 169 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Địa vị pháp lý của hội thẩm tại Việt Nam hiện nay" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.