Luận án: Miễn giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam - Nghiên cứu chuyên sâu

"Luận án nghiên cứu miễn giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam, phân tích quy định và áp dụng của luật trong thực tiễn."

Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án tiến sĩ luật học

Năm xuất bản

Số trang

214

Thời gian đọc

33 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Lý luận cơ bản về miễn giảm hình phạt theo luật hình sự
Số trang:
214 trang
Trường:
Học viện Khoa học Xã hội
Chuyên ngành:
Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Tác giả:
Năm:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Lý luận cơ bản về miễn giảm hình phạt theo luật hình sự

Chế định miễn, giảm hình phạt giữ vị trí then chốt trong khoa học luật hình sự. Quy phạm này thể hiện sâu sắc chính sách nhân đạo khoan hồng của Nhà nước. Đồng thời, quy định bảo đảm nguyên tắc cá thể hóa hình phạt đối với từng hành vi phạm tội cụ thể. Biện pháp hình phạt là phương thức cưỡng chế nghiêm khắc nhất. Tuy nhiên, việc áp dụng máy móc hình phạt không mang lại hiệu quả giáo dục tối ưu. Tòa án không áp dụng hình phạt trừng trị trong mọi trường hợp phạm tội. Chế định miễn, giảm hình phạt phân hóa rõ trách nhiệm của người phạm tội và pháp nhân thương mại. Pháp luật tạo cơ hội sửa đổi lỗi lầm cho người có khả năng cải tạo tốt. Đây là công cụ hữu hiệu trong phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm.

1.1. Khái niệm và bản chất pháp lý của miễn giảm hình phạt

Miễn hình phạt là việc Tòa án không buộc người có tội phải chịu hình phạt. Tòa án vẫn tuyên người đó có tội và chịu trách nhiệm pháp lý. Đây là điểm khác biệt cốt lõi so với việc miễn trách nhiệm hình sự. Trong khi đó, giảm mức hình phạt đã tuyên là việc rút ngắn thời gian hoặc giảm nhẹ loại hình phạt. Quyết định miễn, giảm hình phạt mang tính quyền lực nhà nước đặc thù. Tòa án chỉ ban hành quyết định này dựa trên các căn cứ luật định nghiêm ngặt. Bản chất của biện pháp này không làm suy giảm tính răn đe của luật pháp. Ngược lại, quy định khuyến khích người phạm tội tích cực lập công chuộc tội. Việc áp dụng đúng đắn góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào sự công bằng pháp luật.

1.2. Mục đích và ý nghĩa xã hội của chế định miễn giảm hình phạt

Mục đích của hình phạt bao gồm trừng trị, giáo dục và phòng ngừa tội phạm. Chế định miễn, giảm hình phạt phục vụ đắc lực cho mục đích giáo dục và phòng ngừa. Khi người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, việc giảm nhẹ là cần thiết. Chính sách nhân đạo khoan hồng giúp giải tỏa áp lực tâm lý cho người phạm tội. Xã hội ghi nhận nỗ lực hoàn lương và tạo điều kiện tái hòa nhập cộng đồng thuận lợi. Quy định này cũng giúp giảm tải đáng kể cho hệ thống trại giam và cơ quan thi hành án. Việc tiết kiệm ngân sách nhà nước đi đôi với việc nâng cao hiệu quả cải tạo phạm nhân. Cơ chế này khuyến khích người bị kết án tự giác sửa chữa lỗi lầm và bồi thường thiệt hại.

II. Lịch sử phát triển chế định miễn giảm hình phạt Việt Nam

Lịch sử pháp luật Việt Nam ghi nhận sự phát triển liên tục của các quy phạm khoan hồng. Chế định miễn, giảm hình phạt xuất hiện từ thời kỳ phong kiến và được duy trì qua các giai đoạn. Nhà nước luôn kết hợp giữa trừng trị nghiêm minh và giáo dục phục thiện. Các văn bản pháp lý sau năm 1945 đã kế thừa và hoàn thiện chính sách này. Quy định phản ánh tư tưởng nhân văn sâu sắc của nền tư pháp cách mạng. Chế định từng bước được luật hóa qua các thời kỳ Bộ luật Hình sự. Sự hoàn thiện này đáp ứng kịp thời yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong từng thời kỳ phát triển đất nước.

2.1. Quy định miễn giảm hình phạt thời kỳ phong kiến Việt Nam

Thời kỳ phong kiến, quy định khoan hồng được thể hiện rõ trong các bộ luật lớn. Bộ luật Hồng Đức và Bộ luật Gia Long đã dành nhiều điều khoản về ân xá và chuộc tội. Người già, trẻ em hoặc người tàn tật thường được hưởng chính sách giảm nhẹ đặc biệt. Quy định chuộc tội bằng tiền hoặc công lao phản ánh tính linh hoạt của pháp luật cổ. Tinh thần nhân đạo truyền thống của dân tộc được lồng ghép vào quy chế xét xử cung đình. Các vị vua phong kiến thường ban bố đại xá vào những dịp trọng đại của đất nước. Những quy định này đặt nền móng lịch sử sơ khai cho chế định miễn chấp hành hình phạt hiện đại.

2.2. Miễn giảm hình phạt từ Cách mạng tháng Tám đến trước năm 2015

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước ban hành nhiều sắc lệnh và thông tư hướng dẫn. Các văn bản này quy định cụ thể việc giảm thời hạn tù và ân giảm án tử hình. Bộ luật Hình sự năm 1985 lần đầu tiên pháp điển hóa toàn diện chế định miễn, giảm hình phạt. Sau đó, Bộ luật Hình sự năm 1999 tiếp tục mở rộng diện đối tượng được xem xét tha giảm. Tòa án nhân dân tối cao ban hành nhiều nghị quyết hướng dẫn áp dụng thống nhất trên toàn quốc. Các quy định dần chuẩn hóa căn cứ, thủ tục và thẩm quyền xét giảm mức hình phạt đã tuyên. Quá trình phát triển này tạo tiền đề thực tiễn vững chắc cho các cải cách trong giai đoạn mới.

III. Quy định miễn giảm hình phạt theo Bộ luật Hình sự năm 2015

Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 đánh dấu bước đột phá lập pháp quan trọng. Chế định miễn, giảm hình phạt được sửa đổi toàn diện theo hướng minh bạch và nhân văn. Luật bổ sung quy định áp dụng đối với cả pháp nhân thương mại phạm tội. Các điều kiện xem xét được lượng hóa cụ thể, giảm thiểu sự tùy nghi trong xét xử. Quy định thể hiện sự tương thích cao với các công ước quốc tế về quyền con người. Cơ chế mới vừa bảo đảm tính nghiêm trị vừa mở rộng tối đa cơ hội hoàn lương cho phạm nhân. Tinh thần cải cách tư pháp tạo hành lang pháp lý vững chắc cho Tòa án các cấp áp dụng thống nhất.

3.1. Các điều kiện và căn cứ pháp lý để xét miễn hình phạt

Điều 59 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung 2017 quy định chi tiết về miễn hình phạt. Người phạm tội có thể được miễn phạt khi có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội phải có tính chất nguy hiểm cho xã hội không lớn hoặc có chuyển biến tình hình. Người phạm tội đã tự nguyện khắc phục cơ bản hậu quả hoặc lập công lớn. Tòa án đánh giá toàn diện nhân thân và khả năng tự cải tạo của người phạm tội ngoài xã hội. Đối với pháp nhân thương mại, việc miễn hình phạt căn cứ vào sự chủ động hợp tác và bồi thường toàn bộ thiệt hại. Biện pháp này bảo đảm nguyên tắc cá thể hóa hình phạt một cách công bằng và thực chất.

3.2. Căn cứ xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù

Điều 63 của Bộ luật quy định chặt chẽ về việc giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù. Phạm nhân phải có quá trình chấp hành án tốt và tích cực lao động, học tập cải tạo. Người bị kết án tù có thời hạn phải chấp hành được ít nhất một phần ba thời hạn tù. Đối với tù chung thân, phạm nhân cần chấp hành đủ mười hai năm mới được xét giảm lần đầu. Người phạm tội lập công hoặc mắc bệnh hiểm nghèo được ưu tiên xem xét sớm hơn. Việc giảm mức hình phạt đã tuyên được Hội đồng xét giảm tiến hành công khai, minh bạch. Chế định này là động lực quan trọng thúc đẩy phạm nhân nỗ lực rèn luyện để sớm trở về với gia đình.

3.3. Tha tù trước thời hạn có điều kiện theo quy định mới

Tha tù trước thời hạn có điều kiện là chế định pháp lý hoàn toàn mới tại Điều 66 BLHS. Đây không phải là miễn chấp hành hình phạt hoàn toàn mà là sự thay đổi hình thức chấp hành. Phạm nhân được chuyển từ giam giữ tập trung sang thử thách tại cộng đồng dưới sự giám sát. Điều kiện áp dụng bao gồm phạm tội lần đầu, có nhiều tiến bộ và chấp hành đủ thời gian luật định. Người được tha tù phải tuân thủ nghiêm ngặt các nghĩa vụ trong thời gian thử thách còn lại. Nếu vi phạm nghĩa vụ hoặc phạm tội mới, người đó phải quay lại trại giam để thi hành nốt phần án cũ. Biện pháp này mang tính nhân đạo vượt trội, hỗ trợ tái hòa nhập xã hội hiệu quả và bền vững.

IV. Thực tiễn áp dụng quy định miễn giảm hình phạt hiện nay

Thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân các cấp cho thấy hiệu quả tích cực của chế định. Hàng năm, hàng chục nghìn phạm nhân được xem xét giảm án và tha tù có điều kiện. Công tác xét duyệt bảo đảm đúng pháp luật, khách quan và không bỏ lọt tiêu chuẩn. Tuy nhiên, quá trình thực thi vẫn phát sinh một số vướng mắc về nhận thức và áp dụng. Việc phân định giữa miễn hình phạt và miễn trách nhiệm hình sự đôi khi chưa đồng nhất. Cần có các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao chất lượng áp dụng pháp luật hình sự trong giai đoạn cải cách tư pháp hiện nay. Thực tiễn đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng giữa cơ quan tư pháp và cơ sở giam giữ.

4.1. Đánh giá thực tiễn áp dụng miễn giảm hình phạt tại Tòa án

Số liệu thống kê giai đoạn 2010 - 2020 cho thấy tỷ lệ người được miễn hình phạt chiếm tỷ trọng nhỏ. Nguyên nhân do Thẩm phán còn tâm lý e ngại trách nhiệm khi quyết định không phạt tù. Việc xét giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù diễn ra nền nếp tại các trại giam trên toàn quốc. Các đợt giảm án nhân dịp lễ lớn được chuẩn bị kỹ lưỡng và thẩm định chặt chẽ. Tuy vậy, tiêu chí đánh giá tiến bộ hay lập công còn thiếu hướng dẫn cụ thể giữa các ngành hữu quan. Một số trường hợp áp dụng tha tù trước thời hạn có điều kiện còn gặp khó khăn trong khâu quản lý tại địa phương. Những tồn tại này đòi hỏi phải có sự tổng kết thực tiễn để kịp thời tháo gỡ.

4.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng chế định miễn giảm hình phạt

Để bảo đảm áp dụng thống nhất, Tòa án nhân dân tối cao cần sớm ban hành nghị quyết hướng dẫn. Cần cụ thể hóa các tiêu chí về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và điều kiện tha tù. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ phạm nhân và quy trình xét duyệt. Đẩy mạnh công tác kiểm sát tư pháp nhằm ngăn chặn tiêu cực và sai sót trong quá trình thi hành án. Nâng cao trình độ nghiệp vụ cho Thẩm phán và cán bộ quản lý trại giam. Kết hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương và gia đình trong việc giám sát người chấp hành án ngoài xã hội. Những giải pháp này bảo đảm chính sách nhân đạo khoan hồng được thực thi chuẩn xác, nghiêm minh.

Mục lục chi tiết luận án

MỞ ĐẦU
1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1. Tình hình nghiên cứu
1.2. Đánh giá các công trình khoa học và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu
2. CHƯƠNG 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ MIỄN, GIẢM HÌNH PHẠT
2.1. Những vấn đề lý luận về miễn, giảm hình phạt trong pháp luật hình sự
2.2. Lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam về miễn, giảm hình phạt từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015
3. CHƯƠNG 3: QUY ĐỊNH VỀ MIỄN, GIẢM HÌNH PHẠT TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
3.1. Quy định về miễn, giảm hình phạt trong Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015
3.2. Quy định về miễn, giảm hình phạt trong Bộ luật Hình sự một số nước trên thế giới
4. CHƯƠNG 4: THỰC TIỄN ÁP DỤNG, NỘI DUNG HOÀN THIỆN VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG QUY ĐỊNH VỀ MIỄN, GIẢM HÌNH PHẠT
4.1. Thực tiễn áp dụng quy định Bộ luật Hình sự Việt Nam về miễn, giảm hình phạt của Tòa án nhân dân các cấp
4.2. Những yêu cầu và nội dung hoàn thiện quy định về miễn, giảm hình phạt trong Bộ luật Hình sự năm 2015
4.3. Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định về miễn, giảm hình phạt trong Bộ luật Hình sự năm 2015
KẾT LUẬN CHUNG
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
BẢNG TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án miễn giảm hình phạt theo pháp luật hình sự việt nam

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (214 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRẦN THỊ QUỲNH MIỄN, GIẢM HÌNH PHẠT THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC HÀ NỘI, 2020 VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI TRẦN THỊ QUỲNH MIỄN, GIẢM HÌNH PHẠT THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM Ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự Mã số: 9.04 LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC Người hướng dẫn khoa học: PGS. Cao Thị Oanh HÀ NỘI, 2020 LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học. Các số liệu trong Luận án bảo đảm độ tin cậy, chính xác và trung thực. Những kết quả nghiên cứu nêu trong Luận án chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào.

Tác giả Luận án Trần Thị Quỳnh MỤC LỤC MỞ ĐẦU.1 Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU. Tình hình nghiên cứu. Đánh giá các công trình khoa học và những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu. 26 Chương 2: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ MIỄN, GIẢM HÌNH PHẠT.

Những vấn đề lý luận về miễn, giảm hình phạt trong pháp luật hình sự. Lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam về miễn, giảm hình phạt từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến khi ban hành Bộ luật Hình sự năm 2015.57 Chương 3: QUY ĐỊNH VỀ MIỄN, GIẢM HÌNH PHẠT TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI. Quy định về miễn, giảm hình phạt trong Bộ luật Hình sự Việt Nam năm 2015. Quy định về miễn, giảm hình phạt trong Bộ luật Hình sự một số nước trên thế giới.87 Chương 4: THỰC TIỄN ÁP DỤNG, NỘI DUNG HOÀN THIỆN VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG QUY ĐỊNH VỀ MIỄN, GIẢM HÌNH PHẠT.

Thực tiễn áp dụng quy định Bộ luật Hình sự Việt Nam về miễn, giảm hình phạt của Tòa án nhân dân các cấp. Những yêu cầu và nội dung hoàn thiện quy định về miễn, giảm hình phạt trong Bộ luật Hình sự năm 2015. Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định về miễn, giảm hình phạt trong Bộ luật Hình sự năm 2015. 137 KẾT LUẬN CHUNG.149 DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ.151 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.152 BẢNG TỪ VIẾT TẮT Bộ luật Hình sự: BLHS Giáo sư: GS.

Nghiên cứu sinh: NCS. Phó giáo sư: PGS. Tiến sĩ khoa học: TSKH. Tòa án nhân dân: TAND Trách nhiệm hình sự: TNHS DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 4.

Tình hình miễn hình phạt hoặc miễn TNHS của TAND các cấp giai đoạn 2010 - 2020 (Nguồn: TANDTC). Tình hình miễn hình phạt có điều kiện đối với người dưới 18 tuổi phạm tội của TAND các cấp giai đoạn 2010 - 2020 (Nguồn: TANDTC). Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Trong công cuộc đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước có mục đích không chỉ nhằm trừng trị người, pháp nhân thương mại phạm tội [66], mà còn giáo dục họ ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa họ phạm tội mới; giáo dục người, pháp nhân thương mại khác tôn trọng pháp luật, phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm. Đây cũng là mục đích cơ bản của hình phạt được quy định tại Điều 31 Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 [66].

Tuy nhiên, không phải lúc nào hình phạt cũng được đem ra để áp dụng đối với người, pháp nhân thương mại đã thực hiện hành vi phạm tội là sẽ có hiệu quả cao và đáp ứng được yêu cầu của chính sách hình sự và các nguyên tắc cơ bản của luật hình sự (như: phân hóa trách nhiệm hình sự (TNHS), nhân đạo, công bằng), vì không phải mọi người, pháp nhân thương mại phạm tội đều bị áp dụng một hình phạt giống nhau dù là cùng phạm một tội danh. Do đó, bên cạnh chế định hình phạt, pháp luật hình sự cần phải có cả chế định miễn, giảm hình phạt, bởi miễn, giảm hình phạt chính là phương thức, là biện pháp để thực hiện các chính sách và nguyên tắc của luật hình sự, bảo đảm tính hiệu quả của pháp luật hình sự trong công cuộc đấu tranh phòng ngừa, chống tội phạm. Ở Việt Nam, quy định về miễn, giảm hình phạt đã có từ lâu trong lịch sử. Từ thời đại phong kiến, miễn, giảm hình phạt đã được quy định tại các Bộ luật như Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long.

Sau khi giành được độc lập đất nước năm 1945, vấn đề miễn, giảm hình phạt cũng đã được nhắc đến và quy định rải rác ở các văn bản pháp lý mang tính đơn lẻ như sắc lệnh, thông tư, pháp lệnh hay các báo cáo tổng kết công tác của Tòa án nhân dân (TAND) tối cao. Sau này, khi pháp điển hóa luật hình sự, chế định miễn, giảm hình phạt đã được ghi nhận chính thức trong BLHS năm 1985 và tiếp tục được quy định tại BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) với xu hướng ngày càng hoàn thiện và mở rộng hơn về đối tượng miễn, giảm hình phạt. Như vậy, lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam đã ghi nhận miễn, giảm hình phạt là một quyết định đặc biệt của Tòa án có tính nhân đạo sâu sắc trong quá trình xét xử. Việc Tòa án quyết định miễn, giảm hình phạt cho người, pháp nhân thương mại phạm tội không có nghĩa làm giảm tính răn đe, trừng trị của pháp luật bởi Tòa án chỉ miễn hình phạt khi thấy rằng việc áp dụng hình phạt là không cần thiết 1 hoặc giảm hình phạt khi 2 thấy rằng mức hình phạt giảm là đã đủ sức trừng trị, giáo dục và phòng ngừa.

Hơn nữa, việc miễn, giảm hình phạt vừa thể hiện chính sách nhân đạo, vừa có ý nghĩa tiết kiệm các chi phí để thực thi biện pháp cưỡng chế, thúc đẩy tính thiện, động viên, khuyến khích người, pháp nhân thương mại chứng tỏ khả năng tự giáo dục, tự cải tạo, tạo điều kiện cho họ sớm tái hòa nhập với cộng đồng, trở thành người có ích cho gia đình và cho xã hội và thúc đẩy ý thức tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật của pháp nhân. Tuy nhiên, trên cả ba phương diện lý luận, lập pháp và thực tiễn xét xử, chế định về miễn, giảm hình phạt vẫn còn nhiều bất cập, cụ thể: Thứ nhất, về phương diện lý luận, miễn, giảm hình phạt chưa được quan tâm nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện. Qua khảo sát tình hình nghiên cứu thì miễn, giảm hình phạt mới chỉ được đề cập đến như một khía cạnh liên quan khi nghiên cứu các chế định khác hoặc nghiên cứu chung của các công trình nghiên cứu về chính sách, nguyên tắc của luật hình sự, việc quyết định hình phạt. Ngoài ra, trong khoa học luật hình sự đã có một số công trình đề cập đến miễn hình phạt, nhưng chưa có công trình nào đề cập đến khái niệm, cơ sở, bản chất pháp lý và phân loại các trường hợp giảm hình phạt trong xét xử của Tòa án, cũng như làm sáng tỏ hậu quả pháp lý của miễn, giảm hình phạt.

Đặc biệt, đến nay chưa có một công trình nào mang tính tổng thể, hệ thống và xây dựng khung lý thuyết về vấn đề miễn, giảm hình phạt và những vấn đề lý luận ở cấp độ một Luận án tiến sĩ luật học cùng một lúc về miễn, giảm hình phạt kể từ khi ban hành ba BLHS Việt Nam đến nay (các năm 1985, 1999 và 2015). Thứ hai, về phương diện lập pháp, lần pháp điển hóa thứ ba luật hình sự - BLHS năm 2015 mặc dù đã có những sửa đổi, hoàn thiện quy định về miễn, giảm hình phạt, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu về mặt lập pháp đối với chế định miễn, giảm hình phạt cũng như thực tiễn áp dụng. Chẳng hạn, cả ba BLHS năm 1985, BLHS năm 1999, sửa đổi năm 2009 và BLHS năm 2015 vẫn chưa đưa ra được định nghĩa pháp lý của khái niệm miễn hình phạt, giảm hình phạt; miễn, giảm hình phạt; hậu quả pháp lý của pháp nhân thương mại được miễn hình phạt; các trường hợp miễn hình phạt vẫn quy định rải rác trong BLHS; chưa có sự thống nhất giữa luật nội dung (BLHS) và luật hình thức (BLTTHS) trong việc quy định về miễn hình phạt; đặc biệt quy định về miễn hình phạt vẫn còn quy định chung cùng với chế định miễn TNHS, chưa có sự phân hóa với miễn TNHS và còn mang tính chất tùy nghi lựa chọn (“có thể”), chưa có quy định về trường hợp đương nhiên được miễn hình phạt. Điều 3 này cũng làm hạn chế việc áp dụng chế định miễn hình phạt trong thực tiễn xét xử.

Về giảm hình phạt thì chưa có quy định về phương pháp giảm nhẹ, công thức giảm nhẹ khi có tình tiết giảm nhẹ cũng như các trường hợp loại trừ việc giảm nhẹ dù có tình tiết giảm nhẹ TNHS, dẫn đến việc giảm nhẹ tùy thuộc vào ý chí chủ quan của người Thẩm phán, nên mới dẫn đến việc giảm nhẹ ở một số vụ án còn chưa đúng, chưa tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo. Tòa án nhân dân tối cao cũng chưa ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể đối với trường hợp miễn, giảm hình phạt đối với người phạm tội, việc miễn hình phạt đối với pháp nhân thương mại phạm tội và vấn đề xóa án tích; nội dung của một số tình tiết để giảm nhẹ TNHS với tư cách là điều kiện giảm hình phạt; v. Thứ ba, về phương diện thực tiễn, trong thực tiễn áp dụng, miễn hình phạt ít được áp dụng và còn có sai sót; việc giảm hình phạt được áp dụng phổ biến, khoảng 70% vụ án có áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS để giảm hình phạt cho người phạm tội, nhưng vẫn còn nhiều vụ án áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS và giảm hình phạt còn chưa chính xác. Việc các nhà lập pháp quy định hình phạt theo khung vì không thể tính hết và quy định hết tất cả các trường hợp phạm tội khác nhau để quy định hình phạt tương ứng đối với từng trường hợp phạm tội có thể xảy ra trên thực tế đã làm tăng khả năng lựa chọn của Tòa án khi quyết định hình phạt, cũng như quyết định giảm hình phạt nhưng cũng dẫn đến không ít trường hợp giảm hình phạt còn tùy tiện do phụ thuộc nhiều vào ý chí chủ quan của Thẩm phán.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Trần Thị Quỳnh (2020). Luận án miễn giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam [Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học Xã hội]. LuanAn.net. https://luanan.net/luat-hoc/luat-hinh-su/luan-an-mien-giam-hinh-phat-theo-phap-luat-hinh-su-viet-nam

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Luận án miễn giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam" nghiên cứu về vấn đề gì?

"Luận án nghiên cứu miễn giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam, phân tích quy định và áp dụng của luật trong thực tiễn."

Luận án "Luận án miễn giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam" được bảo vệ tại trường nào?

Luận án này được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội. Năm bảo vệ: 2020.

Luận án "Luận án miễn giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Luận án miễn giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam" thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự. Danh mục: Luật Hình Sự.

Luận án "Luận án miễn giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam" có bao nhiêu trang?

Luận án "Luận án miễn giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam" có 214 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Luận án miễn giảm hình phạt theo pháp luật hình sự Việt Nam" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter