Luận án Thạc sĩ Luật Kinh tế: Bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam - Thực tiễn TP. Hồ Chí Minh
Luận án tiến sĩ phân tích bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự tại TP. Hồ Chí Minh. Đánh giá thực tiễn và đề xuất hoàn thiện pháp luật.
Luan An
Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản
Số trang
75
Thời gian đọc
12 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
40 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Khung pháp lý bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự
- Số trang:
- 75 trang
- Trường:
- Học viện Khoa học Xã hội
- Chuyên ngành:
- Luật Kinh tế
- Tác giả:
- Nguyễn Thị Lan
- Năm:
- 2020
Tóm tắt nội dung luận án
I. Khung pháp lý bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự
Bán đấu giá tài sản thi hành án là phương thức chuyển nhượng công khai. Hoạt động này nhằm xử lý tài sản của người phải thi hành án. Mục tiêu trọng tâm là bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho người được thi hành án. Pháp luật Việt Nam quy định rõ ràng về trình tự tổ chức đấu giá. Các văn bản quy phạm tạo hành lang pháp lý minh bạch cho toàn bộ quá trình. Hoạt động này chuyển đổi tài sản kê biên thành tiền mặt nhanh chóng. Số tiền thu được dùng để thực hiện nghĩa vụ tài chính theo bản án. Việc đấu giá tài sản hạn chế tối đa nguy cơ tẩu tán tài sản. Đồng thời, cơ chế này giúp người phải thi hành án bảo toàn giá trị thặng dư. Các cơ quan chức năng giám sát chặt chẽ từng giai đoạn thực hiện. Tính công khai và khách quan luôn được đặt lên hàng đầu.
1.1. Bản chất và vai trò của bán đấu giá tài sản thi hành án
Bán đấu giá tài sản thi hành án phản ánh sự can thiệp của quyền lực tư pháp. Nhà nước bảo đảm giá trị phán quyết của Tòa án thông qua biện pháp cưỡng chế. Phương thức này giúp thu hồi khoản tiền lớn nhất từ tài sản cưỡng chế. Quy trình đấu giá công khai tạo cơ hội bình đẳng cho mọi người tham gia. Giá bán tài sản phản ánh đúng giá trị thị trường thực tế. Hoạt động này bảo vệ lợi ích công cộng và trật tự kinh tế xã hội. Việc đấu giá thành công giúp giảm áp lực án tồn đọng cho cơ quan thi hành án. Thị trường bất động sản và tài sản thanh lý nhờ đó vận hành trơn tru hơn. Quyền sở hữu tài sản mới của người trúng đấu giá được pháp luật bảo hộ tuyệt đối.
1.2. Mối quan hệ giữa Luật thi hành án dân sự và Luật đấu giá tài sản
Luật thi hành án dân sự và Luật đấu giá tài sản có mối quan hệ tương hỗ mật thiết. Luật thi hành án dân sự quy định thẩm quyền kê biên và định giá tài sản. Trong khi đó, Luật đấu giá tài sản điều chỉnh quy trình, thủ tục bán đấu giá chuyên nghiệp. Hai đạo luật này phối hợp nhằm chuẩn hóa quy trình xử lý tài sản công vụ. Các quy định pháp luật ngăn chặn sự chồng chéo quyền hạn giữa các cơ quan. Trình tự thông báo công khai được áp dụng thống nhất theo luật định. Sự gắn kết giữa hai luật bảo đảm tính pháp lý cho hợp đồng dịch vụ đấu giá. Khi có tranh chấp phát sinh, cơ quan tố tụng căn cứ vào cả hai văn bản để giải quyết. Điều này bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.
II. Quy trình kê biên xử lý tài sản THADS tại TP
Công tác kê biên xử lý tài sản THADS tại địa bàn TP. Hồ Chí Minh đòi hỏi sự chặt chẽ. Số lượng vụ việc thi hành án tại thành phố luôn chiếm tỷ trọng rất cao. Trình tự cưỡng chế tài sản tuân thủ các bước nghiêm ngặt theo luật định. Chấp hành viên xác minh tình trạng thực tế và nguồn gốc pháp lý của tài sản. Việc lập biên bản kê biên phải có sự chứng kiến của chính quyền địa phương. Cơ quan thi hành án niêm phong tài sản đúng quy định kỹ thuật. Hồ sơ kê biên được lưu trữ cẩn thận để phục vụ công tác giám sát. Quá trình xử lý tài sản hạn chế tối đa khiếu nại kéo dài từ đương sự. Hiệu quả xử lý tài sản ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả chung của toàn ngành.
2.1. Hoạt động kê biên xử lý tài sản THADS của chấp hành viên
Chấp hành viên cơ quan THADS giữ vai trò quyết định trong quá trình cưỡng chế tài sản. Chấp hành viên trực tiếp kiểm tra thực địa và xác định ranh giới bất động sản. Mọi hành vi cản trở việc kê biên đều bị xử lý theo chế tài nghiêm khắc. Chấp hành viên thông báo bằng văn bản cho các bên liên quan trước khi thực hiện. Việc cưỡng chế kê biên xử lý tài sản THADS bảo đảm tính răn đe của pháp luật. Đương sự có quyền thỏa thuận về việc tự nguyện nộp tiền thay thế tài sản kê biên. Chấp hành viên bảo quản nguyên trạng tài sản cho đến ngày tổ chức đấu giá. Mọi thao tác nghiệp vụ đều được kiểm sát viên giám sát chặt chẽ theo quy định.
2.2. Quy trình thẩm định giá tài sản kê biên trước khi đấu giá
Thẩm định giá tài sản kê biên là căn cứ cốt lõi xác định giá khởi điểm. Đương sự được quyền tự thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá độc lập. Trường hợp không thỏa thuận được, chấp hành viên sẽ ký hợp đồng dịch vụ thẩm định. Doanh nghiệp thẩm định giá phải có giấy phép hoạt động hợp pháp từ Bộ Tài chính. Chứng thư thẩm định giá bảo đảm tính khách quan, độc lập và trung thực. Kết quả thẩm định giá quyết định lớn đến khả năng thanh khoản của tài sản. Nếu có nghi ngờ về giá trị định giá, các bên có quyền yêu cầu định giá lại. Quy trình thẩm định giá chính xác giúp tránh tình trạng tài sản bị hạ giá quá sâu sau nhiều lần giảm giá.
III. Hoạt động của tổ chức hành nghề đấu giá tài sản TPHCM
Hệ thống tổ chức hành nghề đấu giá tài sản TPHCM phát triển mạnh về số lượng và quy mô. Các trung tâm dịch vụ và doanh nghiệp đấu giá cạnh tranh lành mạnh. Họ cung cấp dịch vụ tổ chức bán đấu giá tài sản thi hành án chuyên nghiệp. Cơ quan thi hành án ban hành tiêu chí rõ ràng để lựa chọn tổ chức đấu giá. Việc đấu giá được tiến hành qua nhiều hình thức như bỏ phiếu trực tiếp hoặc trực tuyến. Quy chế đấu giá được công khai minh bạch cho mọi khách hàng. Cơ quan quản lý tăng cường thanh tra nhằm ngăn ngừa tình trạng thông đồng, dìm giá. Sự tham gia tích cực của các tổ chức đấu giá góp phần đẩy nhanh tiến độ thu hồi tài sản.
3.1. Lựa chọn tổ chức hành nghề đấu giá tài sản TPHCM uy tín
Việc lựa chọn tổ chức hành nghề đấu giá tài sản TPHCM căn cứ vào nhiều tiêu chí khắt khe. Các tiêu chí bao gồm cơ sở vật chất, kinh nghiệm và uy tín của đấu giá viên. Cơ quan thi hành án chấm điểm hồ sơ năng lực theo thang điểm cụ thể. Đấu giá viên phải có đạo đức nghề nghiệp và am hiểu sâu luật pháp. Quy trình nộp hồ sơ đăng ký tham gia tổ chức đấu giá được công bố công khai. Điều này triệt tiêu tình trạng 'quân xanh, quân đỏ' và móc ngoặc tiêu cực. Doanh nghiệp đấu giá uy tín giúp phiên đấu giá diễn ra an toàn, đúng luật. Khách hàng tham gia đấu giá cảm thấy an tâm và tin tưởng vào tính công bằng.
3.2. Phối hợp giữa Cục Thi hành án dân sự TP HCM và đấu giá viên
Cục Thi hành án dân sự TP HCM duy trì quy chế phối hợp chặt chẽ với đấu giá viên. Hai bên thường xuyên trao đổi thông tin về tiến độ xử lý hồ sơ tài sản. Cục Thi hành án dân sự TP HCM hỗ trợ bảo đảm an ninh trật tự trong suốt phiên đấu giá. Đấu giá viên có trách nhiệm cung cấp thông tin tài sản đầy đủ cho khách hàng. Mọi thay đổi về pháp lý của tài sản kê biên được cập nhật tức thì. Khi xảy ra tranh chấp tại phòng đấu giá, biên bản ghi nhận được lập tại chỗ. Sự liên kết này giúp hạn chế tối đa rủi ro pháp lý cho các bên. Quá trình phối hợp nhịp nhàng thúc đẩy việc giải phóng tài sản diễn ra đúng hạn.
IV. Bàn giao tài sản trúng đấu giá và nguy cơ hủy kết quả
Giai đoạn bàn giao tài sản trúng đấu giá là khâu then chốt trong thi hành án. Người mua trúng đấu giá có nghĩa vụ nộp đủ tiền mua tài sản đúng thời hạn. Sau khi nhận đủ tiền, cơ quan chức năng tiến hành thủ tục chuyển giao tài sản. Tuy nhiên, khâu bàn giao thực tế tại cơ sở thường phát sinh nhiều tranh chấp. Người phải thi hành án có thể chống đối, cố tình không chịu di dời tài sản. Nếu có vi phạm nghiêm trọng trong quy trình, nguy cơ hủy kết quả bán đấu giá tài sản THADS rất cao. Việc giải quyết hậu quả pháp lý sau khi hủy đấu giá thường phức tạp và tốn kém thời gian. Vì vậy, các bên phải thực hiện nghiêm túc từng bước theo đúng quy định.
4.1. Vướng mắc trong bàn giao tài sản trúng đấu giá thực tế
Quá trình bàn giao tài sản trúng đấu giá thường gặp cản trở từ người phải thi hành án. Người đang chiếm giữ tài sản thường có tâm lý bất hợp tác và trì hoãn. Chấp hành viên phải xây dựng kế hoạch cưỡng chế giao tài sản chi tiết. Lực lượng công an địa phương phối hợp để giữ gìn an ninh trật tự khu vực. Đương sự khiếu nại vượt cấp nhằm kéo dài thời gian cưỡng chế bàn giao. Người mua trúng đấu giá chịu thiệt hại vì chậm đưa tài sản vào khai thác kinh doanh. Cơ quan thi hành án cần kiên quyết xử lý các hành vi cản trở thi hành công vụ. Việc giải quyết dứt điểm điểm nghẽn này giúp củng cố niềm tin của các nhà đầu tư.
4.2. Căn cứ pháp lý hủy kết quả bán đấu giá tài sản THADS
Việc hủy kết quả bán đấu giá tài sản THADS chỉ xảy ra theo phán quyết của Tòa án. Các căn cứ hủy kết quả gồm có: vi phạm trình tự niêm yết, thông đồng dìm giá hoặc sai phạm trong thẩm định giá. Hợp đồng dịch vụ đấu giá bị vô hiệu khi có dấu hiệu lừa dối khách hàng. Khi kết quả đấu giá bị hủy, tài sản được hoàn trả về trạng thái kê biên ban đầu. Người mua trúng đấu giá ngay tình được nhận lại toàn bộ số tiền đã nộp. Bên có lỗi làm thiệt hại quyền lợi của các đương sự phải bồi thường theo luật định. Chấp hành viên cơ quan THADS phải xem xét lại toàn bộ hồ sơ để tổ chức lại quy trình. Cơ chế hủy kết quả bảo đảm tính nghiêm minh và công lý của nền tư pháp.
V. Đổi mới quy trình bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự
Đổi mới quy trình bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự là yêu cầu cấp thiết hiện nay. Nền kinh tế số đòi hỏi chuyển đổi mạnh mẽ sang hình thức đấu giá trực tuyến. Hình thức này giúp xóa bỏ hoàn toàn nguy cơ can thiệp tiêu cực từ các nhóm lợi ích. Cơ sở dữ liệu về tài sản thi hành án cần được tích hợp đồng bộ trên toàn quốc. Người dân dễ dàng tra cứu thông tin quy hoạch và tình trạng pháp lý tài sản. Các thủ tục hành chính liên quan đến đăng ký quyền sở hữu cần được tinh gọn. Hoạt động kiểm tra, thanh tra nội bộ phải được thực hiện thường xuyên. Cải cách đồng bộ sẽ nâng cao hiệu lực thi hành các bản án dân sự tại các đô thị lớn.
5.1. Hoàn thiện quy định pháp luật về đấu giá tài sản thi hành án
Hệ thống pháp luật cần được sửa đổi để tháo gỡ triệt để các bất cập thực tế. Cần thống nhất quy định về giảm giá tài sản sau những lần đấu giá không thành. Thời hạn bàn giao tài sản trúng đấu giá cần được ấn định cụ thể, có chế tài xử phạt rõ ràng. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của tổ chức đấu giá phải được nâng cao hơn nữa. Nhà nước cần mở rộng quyền tiếp cận thông tin tài sản đấu giá cho công chúng. Các văn bản hướng dẫn thi hành giữa Bộ Tư pháp và Tòa án cần ban hành kịp thời. Quy định chặt chẽ sẽ bảo vệ tốt hơn quyền tài sản của mọi chủ thể kinh tế. Môi trường pháp lý ổn định là nền tảng cho sự phát triển của hoạt động bán đấu giá tài sản thi hành án.
5.2. Nâng cao năng lực cho chấp hành viên cơ quan THADS TP.HCM
Chấp hành viên cơ quan THADS TP.HCM cần được đào tạo chuyên sâu về kỹ năng thẩm định và xử lý tài sản. Công tác bồi dưỡng nghiệp vụ pháp luật kinh tế và kỹ năng ứng xử cần tổ chức định kỳ. Chấp hành viên phải giữ vững phẩm chất đạo đức, tính liêm chính và bản lĩnh nghề nghiệp. Cục Thi hành án dân sự TP HCM cần ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý hồ sơ thi hành án. Việc phân công vụ việc phải minh bạch, khách quan và gắn với trách nhiệm người đứng đầu. Chế độ đãi ngộ tương xứng sẽ tạo động lực cho cán bộ hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đội ngũ chấp hành viên vững vàng là nhân tố then chốt giúp nâng cao hiệu quả thi hành án.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (75 trang)Nội dung chính
Tổng quan nghiên cứu
Hoạt động bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự (THADS) là một mắt xích quan trọng nhằm đảm bảo hiệu lực của các bản án, quyết định của Tòa án, góp phần duy trì trật tự pháp luật và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan trong nền kinh tế thị trường. Tại Việt Nam, phương thức bán đấu giá tài sản đã được quy định trong pháp luật từ Pháp lệnh thi hành án dân sự năm 1989 và liên tục được hoàn thiện qua các văn bản như Nghị định 17/2010/NĐ-CP, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) và đặc biệt là Luật Đấu giá tài sản năm 2016. Mặc dù hành lang pháp lý ngày càng chặt chẽ, hoạt động bán đấu giá tài sản trong THADS vẫn còn đối mặt với nhiều tồn tại, hạn chế đáng kể, đặc biệt khi nhìn vào thực tiễn tại các đô thị lớn.
Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn này là phân tích một cách toàn diện thực trạng pháp luật Việt Nam về bán đấu giá tài sản để THADS và những bất cập trong thực tiễn áp dụng các quy định này, lấy Thành phố Hồ Chí Minh làm địa bàn nghiên cứu điển hình trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2019. Mục tiêu cụ thể là làm rõ các vướng mắc pháp lý và những khó khăn phát sinh từ quá trình triển khai, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi hoạt động này. Theo số liệu thống kê, chỉ riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh, trung bình mỗi năm các cơ quan THADS thụ lý trên 103.705 việc, với số tiền phải thi hành lên đến hàng chục nghìn tỷ đồng. Trong đó, kết quả bán đấu giá tài sản thành công chỉ chiếm một tỷ lệ nhất định, và vẫn còn nhiều vụ việc gặp khó khăn trong bàn giao tài sản, cho thấy sự cấp thiết của việc nghiên cứu này. Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc cải thiện đáng kể tỷ lệ thành công của các phiên đấu giá tài sản, ước tính có thể tăng thêm 15-20% trong vòng ba năm tới, đồng thời giảm thiểu khiếu nại, tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực THADS.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Luận văn tiếp cận vấn đề bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự dựa trên sự kết hợp của nhiều khung lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Thứ nhất, Lý thuyết về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cung cấp nền tảng cho việc xem xét vai trò của nhà nước trong việc xây dựng, hoàn thiện và thực thi pháp luật, nhằm đảm bảo công bằng, minh bạch và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mọi chủ thể. Trong bối cảnh đấu giá tài sản THADS, lý thuyết này nhấn mạnh sự cần thiết của một hệ thống pháp luật chặt chẽ, đồng bộ để ngăn ngừa tiêu cực và đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định tư pháp. Thứ hai, Lý thuyết về kinh tế thị trường và cơ chế đấu giá giúp phân tích bán đấu giá như một phương thức mua bán tài sản công khai, cạnh tranh, nhằm tối đa hóa giá trị thu được từ tài sản. Các khái niệm như "hiệu quả thị trường", "cơ chế định giá" được sử dụng để đánh giá mức độ thành công của các phiên đấu giá.
Các khái niệm chính được sử dụng trong luận văn bao gồm:
- Bán đấu giá tài sản: Là hình thức bán tài sản công khai, có từ hai người trở lên tham gia trả giá, người trả giá cao nhất nhưng không thấp hơn giá khởi điểm sẽ là người mua được tài sản (theo Điều 451 Bộ luật Dân sự 2015 và khoản 2 Điều 5 Luật Đấu giá tài sản 2016).
- Thi hành án dân sự (THADS): Là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm thực hiện các bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Bán đấu giá tài sản là một biện pháp cưỡng chế quan trọng trong THADS.
- Tài sản kê biên: Là tài sản của người phải thi hành án bị cơ quan THADS phong tỏa, giữ lại để đảm bảo việc thi hành án. Tài sản này sau đó có thể được đem ra bán đấu giá.
- Chấp hành viên (CHV): Là người có thẩm quyền của cơ quan THADS, trực tiếp tổ chức thực hiện các bản án, quyết định, bao gồm việc kê biên, định giá và lựa chọn tổ chức đấu giá tài sản.
- Đấu giá viên: Là người có chứng chỉ hành nghề đấu giá, trực tiếp điều hành các phiên bán đấu giá tài sản theo quy định của pháp luật.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin, cùng với các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được áp dụng bao gồm:
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Phân tích các quy định pháp luật hiện hành về bán đấu giá tài sản THADS (Luật Đấu giá tài sản 2016, Luật THADS 2008 sửa đổi 2014, Bộ luật Dân sự 2015 và các văn bản dưới luật), đồng thời tổng hợp các thông tin, số liệu từ báo cáo của Cục THADS Thành phố Hồ Chí Minh và các Chi cục THADS Quận/Huyện trong giai đoạn 2015-2019 để đánh giá thực trạng.
- Phương pháp diễn giải: Giải thích các khái niệm, nguyên tắc và quy định pháp luật liên quan, làm rõ bản chất và ý nghĩa của hoạt động bán đấu giá tài sản trong THADS.
- Phương pháp so sánh: So sánh các quy định pháp luật qua các thời kỳ, so sánh pháp luật Việt Nam với kinh nghiệm quốc tế (nếu có thông tin đầy đủ), và so sánh giữa quy định pháp luật với thực tiễn áp dụng để nhận diện các điểm chưa đồng bộ, mâu thuẫn.
- Phương pháp nghiên cứu điển hình (Case study): Phân tích sâu các vụ việc cụ thể xảy ra tại Thành phố Hồ Chí Minh, như trường hợp tranh chấp liên quan đến việc bản án bị hủy sau khi tài sản đã đấu giá thành công, hoặc các vụ việc sai sót trong kê biên, định giá tài sản, để minh họa rõ nét các vướng mắc thực tiễn.
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu chính được thu thập từ báo cáo tổng kết hàng năm của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, các biên bản làm việc, quyết định thi hành án và tài liệu liên quan đến các vụ việc đấu giá tài sản điển hình. Cỡ mẫu cho việc phân tích thực tiễn là toàn bộ các vụ việc liên quan đến bán đấu giá tài sản để THADS trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2015-2019, bao gồm hàng nghìn vụ việc được thống kê và hàng trăm vụ việc đấu giá cụ thể. Phương pháp chọn mẫu là chọn các trường hợp điển hình, có tính đại diện cho các loại hình vướng mắc, từ lỗi kê biên đến tranh chấp bàn giao.
- Lý do lựa chọn phương pháp phân tích: Việc kết hợp các phương pháp này cho phép luận văn có cái nhìn đa chiều, từ lý luận đến thực tiễn, từ quy định pháp luật đến hiệu quả thực thi, đảm bảo tính khách quan và khoa học trong việc đánh giá và đề xuất giải pháp. Đặc biệt, phương pháp nghiên cứu điển hình giúp làm nổi bật các vấn đề cụ thể mà các số liệu thống kê chung khó thể hiện hết.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Nghiên cứu thực trạng pháp luật và thực tiễn bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự tại Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2015-2019 đã đưa ra một số phát hiện quan trọng, chỉ ra những điểm còn tồn tại và hạn chế cần được khắc phục.
- Hiệu quả bán đấu giá tài sản chưa tương xứng với khối lượng công việc: Mặc dù số lượng vụ việc THADS phải xử lý tài sản kê biên thông qua đấu giá tăng liên tục trong giai đoạn nghiên cứu, từ 292 việc vào năm 2015 lên 471 việc vào năm 2019, nhưng tỷ lệ đấu giá thành công vẫn còn thấp và chưa ổn định. Cụ thể, số việc đấu giá thành công dao động từ 160 việc (năm 2015) đến 302 việc (năm 2019). Tỷ lệ việc đấu giá không thành hoặc phải định giá lại, hạ giá để đấu giá chiếm tỷ trọng đáng kể, ví dụ, năm 2016 có đến 211 việc không thành công so với 126 việc đấu giá thành, cho thấy chất lượng các phiên đấu giá chưa cao và quy trình định giá còn nhiều bất cập.
- Hành lang pháp lý còn nhiều vướng mắc, chưa đồng bộ: Mặc dù Luật Đấu giá tài sản năm 2016 đã có nhiều cải thiện, vẫn còn tồn tại những quy định thiếu thống nhất giữa các văn bản pháp luật, gây khó khăn cho quá trình áp dụng. Đáng chú ý là sự mâu thuẫn giữa khoản 2 Điều 101 Luật Thi hành án dân sự (về thời hạn ký hợp đồng dịch vụ đấu giá và thời hạn đấu giá) với thực tiễn các trường hợp phải tạm dừng thi hành án do kháng nghị bản án. Nghiêm trọng hơn, Điều 103 Luật Thi hành án dân sự năm 2014 quy định bảo vệ quyền lợi người mua trúng đấu giá ngay cả khi bản án bị hủy, nhưng trên thực tế, nhiều cơ quan THADS vẫn do dự, không kiên quyết bàn giao tài sản, dẫn đến kéo dài vụ việc và gây thiệt hại cho người mua ngay tình.
- Thực tiễn áp dụng còn nhiều sai sót và tiêu cực: Nghiên cứu chỉ ra nhiều vấn đề trong quá trình thực hiện:
- Sai sót trong xác minh và kê biên tài sản: Nhiều trường hợp chấp hành viên không xác minh đầy đủ hoặc lập biên bản kê biên chung chung, dẫn đến sự không khớp giữa hiện trạng tài sản và hồ sơ (ví dụ vụ 800m2 đất thuê trong 2.713,6m2 đất kê biên, hay khách sạn 6 tầng trên giấy nhưng thực tế có 7 tầng). Những sai sót này làm phức tạp hóa việc bàn giao tài sản và tiềm ẩn nguy cơ hủy kết quả đấu giá.
- Kết quả thẩm định giá không phù hợp thị trường: Việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá chưa có tiêu chí rõ ràng, dẫn đến kết quả thẩm định giá không chính xác, quá cao hoặc quá thấp so với giá thị trường. Điển hình là trường hợp một con tàu được thẩm định giá lần lượt là hơn 4,7 tỷ đồng, rồi hơn 18 tỷ đồng, sau đó lại trở về hơn 4,7 tỷ đồng chỉ trong 6 tháng, gây hoang mang và ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi các bên.
- Thiếu kiểm soát hoạt động đấu giá: Cơ quan THADS thường phó mặc cho các tổ chức đấu giá tài sản, thiếu kiểm tra, giám sát chặt chẽ. Điều này tạo điều kiện cho các hành vi tiêu cực như "quân xanh, quân đỏ", thông đồng dìm giá, hạn chế người tham gia đấu giá hoặc chậm trễ chuyển tiền bán tài sản, gây mất niềm tin của công chúng.
- Khó khăn trong bàn giao tài sản sau đấu giá: Đây là một trong những điểm nghẽn lớn nhất, với nhiều trường hợp người mua trúng đấu giá đã nộp đủ tiền nhưng không nhận được tài sản trong thời gian dài. Một ví dụ điển hình là vụ việc tại Chi cục THADS quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh, khi tài sản đã bán đấu giá thành và người mua đã nộp đủ tiền, nhưng bản án bị kháng nghị và hủy toàn bộ bởi quyết định giám đốc thẩm. Mặc dù Luật THADS có quy định bảo vệ người mua trúng đấu giá, sự thiếu thống nhất trong việc áp dụng pháp luật đã khiến vụ việc chậm trễ kéo dài nhiều năm.
Thảo luận kết quả
Các phát hiện trên cho thấy bức tranh tổng thể về hoạt động bán đấu giá tài sản THADS tại Thành phố Hồ Chí Minh còn nhiều thách thức. Sự gia tăng về số lượng vụ việc đấu giá tài sản THADS tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ 292 việc năm 2015 lên 471 việc năm 2019, là minh chứng cho sự tăng trưởng của nhu cầu thực thi bản án. Tuy nhiên, tỷ lệ thành công của các phiên đấu giá không tăng tỷ lệ thuận, thậm chí có sự biến động lớn, ví dụ, năm 2017 chỉ có 90 việc đấu giá thành công trong tổng số 316 việc đưa ra đấu giá, tức khoảng 28.5%. Điều này gây ra sự lãng phí về thời gian và nguồn lực cho cả cơ quan nhà nước và đương sự.
Nguyên nhân của những hạn chế này chủ yếu xuất phát từ ba yếu tố chính: thứ nhất, các kẽ hở và sự thiếu đồng bộ trong hệ thống pháp luật; thứ hai, năng lực và ý thức trách nhiệm của một bộ phận chấp hành viên chưa cao; và thứ ba, cơ chế kiểm soát hoạt động của các tổ chức đấu giá tài sản còn lỏng lẻo. Ví dụ về sự thiếu đồng bộ pháp luật thể hiện rõ trong trường hợp bản án bị hủy sau khi tài sản đã đấu giá thành công. Dù khoản 2 Điều 103 Luật THADS 2014 đã quy định rõ về việc tiếp tục giao tài sản để bảo vệ người mua ngay tình, nhưng do sự xung đột với các quy định về đình chỉ thi hành án khi bản án bị hủy, các cơ quan THADS gặp lúng túng. Điều này dẫn đến các tình huống thực tế như vụ việc của bà M và Ngân hàng TMCP-A, nơi tài sản đã bán đấu giá từ năm 2009 nhưng đến năm 2011 bản án bị hủy, khiến việc bàn giao tài sản cho người mua trúng đấu giá vẫn bị bỏ ngỏ. Sự không rõ ràng này làm giảm lòng tin của nhà đầu tư và người dân vào tính hiệu quả của cơ quan THADS.
Các sai sót trong nghiệp vụ của chấp hành viên, từ việc xác minh tài sản ban đầu cho đến việc lựa chọn tổ chức thẩm định giá, cũng góp phần không nhỏ vào việc làm giảm hiệu quả đấu giá. Trường hợp Công ty thẩm định giá Quốc tế thẩm định sai tại Chi cục THADS quận Tân Phú, hay Công ty TNHHXD Nhựt Vương và Tần Vương không đủ điều kiện vẫn thực hiện thẩm định giá cho hơn 200 vụ việc tại Kiên Giang với tổng giá trị hơn 803 tỷ đồng, cho thấy lỗ hổng nghiêm trọng trong khâu kiểm soát chất lượng dịch vụ. Các số liệu về việc đấu giá không thành, trung bình chiếm khoảng 20-30% tổng số việc đưa ra đấu giá hàng năm (ví dụ, 67 việc không thành trong tổng 471 việc đưa ra đấu giá năm 2019), có thể được minh họa hiệu quả thông qua biểu đồ tròn hoặc biểu đồ cột để thể hiện tỷ lệ này qua từng năm, giúp trực quan hóa mức độ nghiêm trọng của vấn đề. Biểu đồ đường có thể được sử dụng để trình bày xu hướng tăng giảm của số lượng vụ việc đấu giá và số việc đấu giá thành công/không thành công qua các năm 2015-2019.
Những tồn tại này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của người được thi hành án và người mua trúng đấu giá mà còn gây ra tâm lý e ngại, "tẩy chay" tài sản THADS trong cộng đồng, làm suy giảm tính công khai, minh bạch và hiệu quả của cả hệ thống THADS. Việc giảm số lượng các trường hợp đấu giá bị hủy (chỉ 1-2 vụ mỗi năm trong giai đoạn 2017-2019) cho thấy một số tiến bộ trong việc tuân thủ quy trình, tuy nhiên, điều này không phản ánh được tổng thể các vấn đề cốt lõi như dìm giá hay thông đồng.
Đề xuất và khuyến nghị
Để khắc phục những tồn tại, hạn chế và nâng cao hiệu quả hoạt động bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự tại Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và Việt Nam nói chung, luận văn đề xuất các giải pháp sau:
-
Hoàn thiện đồng bộ hành lang pháp lý về bán đấu giá tài sản THADS:
- Hành động: Khẩn trương rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự và Luật Đấu giá tài sản để loại bỏ các quy định chồng chéo, mâu thuẫn, đặc biệt là liên quan đến việc xử lý hậu quả khi bản án bị hủy sau khi tài sản đã đấu giá thành. Cần có quy định rõ ràng, thống nhất về trách nhiệm của các bên và cơ chế bồi thường thiệt hại.
- Target Metric: Đảm bảo 100% các quy định liên quan đến bán đấu giá tài sản THADS trong Luật THADS và Luật Đấu giá tài sản không còn mâu thuẫn nội tại trong vòng 2 năm tới.
- Timeline: Hoàn thành dự thảo sửa đổi trong vòng 1 năm và ban hành trong vòng 2 năm.
- Chủ thể thực hiện: Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự, Quốc hội.
-
Nâng cao năng lực chuyên môn và đạo đức công vụ của Chấp hành viên:
- Hành động: Tổ chức các khóa tập huấn chuyên sâu, định kỳ cho chấp hành viên về quy trình xác minh tài sản, kê biên tài sản, định giá và lựa chọn tổ chức đấu giá, đặc biệt chú trọng các tình huống pháp lý phức tạp. Xây dựng bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp chặt chẽ và cơ chế xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm.
- Target Metric: Giảm ít nhất 20% số lượng vụ việc có sai sót trong quá trình xác minh, kê biên tài sản và lựa chọn tổ chức thẩm định giá trong 3 năm.
- Timeline: Triển khai chương trình đào tạo liên tục hàng năm.
- Chủ thể thực hiện: Tổng cục Thi hành án dân sự, Sở Tư pháp, Cục THADS các tỉnh/thành phố.
-
Tăng cường kiểm soát và giám sát hoạt động của các tổ chức đấu giá tài sản:
- Hành động: Xây dựng và ban hành bộ tiêu chí rõ ràng, minh bạch để đánh giá, lựa chọn và giám sát các tổ chức đấu giá tài sản, tránh tình trạng cảm tính hoặc "thông thầu". Thiết lập cơ chế kiểm tra chéo, hậu kiểm đối với các phiên đấu giá, bao gồm kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ, quá trình niêm yết, thông báo, và đặc biệt là việc chuyển tiền bán đấu giá.
- Target Metric: Giảm thiểu 50% các trường hợp thông đồng, dìm giá hoặc hạn chế người tham gia đấu giá được phát hiện trong vòng 3 năm. Đảm bảo 95% các hợp đồng dịch vụ đấu giá tài sản tuân thủ đúng quy định pháp luật.
- Timeline: Triển khai trong 1 năm đầu và duy trì, cải tiến liên tục.
- Chủ thể thực hiện: Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự, Sở Tư pháp, các cơ quan kiểm tra, giám sát.
-
Chấn chỉnh công tác định giá tài sản kê biên:
- Hành động: Ban hành hướng dẫn chi tiết về phương pháp định giá tài sản kê biên, đặc biệt đối với các tài sản đặc thù hoặc có giá trị lớn. Thiết lập cơ chế đối chiếu, thẩm định lại kết quả định giá của các tổ chức thẩm định giá độc lập khi có dấu hiệu bất thường hoặc khi các bên đương sự có khiếu nại.
- Target Metric: Đảm bảo ít nhất 90% kết quả định giá tài sản phù hợp với giá thị trường tại thời điểm định giá, giảm thiểu các trường hợp phải định giá lại hoặc hạ giá do định giá ban đầu không hợp lý.
- Timeline: Triển khai trong vòng 1 năm.
- Chủ thể thực hiện: Bộ Tư pháp, Bộ Tài chính, các tổ chức thẩm định giá được cấp phép.
-
Kiên quyết thực hiện bàn giao tài sản cho người mua trúng đấu giá:
- Hành động: Cơ quan THADS cần áp dụng triệt để các quy định pháp luật để cưỡng chế bàn giao tài sản cho người mua trúng đấu giá khi họ đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính, kể cả trong trường hợp người phải thi hành án chống đối hoặc bản án bị kháng nghị (trừ khi có quyết định hủy kết quả đấu giá hợp pháp). Cần có cơ chế hỗ trợ pháp lý và hành chính cho chấp hành viên trong các trường hợp phức tạp.
- Target Metric: Giảm 80% thời gian chậm trễ bàn giao tài sản so với quy định pháp luật (30-60 ngày) trong vòng 2 năm.
- Timeline: Thực hiện ngay lập tức và duy trì thường xuyên.
- Chủ thể thực hiện: Cơ quan THADS các cấp, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Luận văn "Bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh" mang lại giá trị thiết thực và có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều đối tượng khác nhau:
- Cơ quan quản lý nhà nước và lập pháp: Bao gồm Bộ Tư pháp, Tổng cục Thi hành án dân sự, các Sở Tư pháp và Cục THADS tại các tỉnh/thành phố, cũng như các cơ quan có thẩm quyền trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Luận văn cung cấp cái nhìn sâu sắc về những bất cập trong quy định hiện hành và những vướng mắc thực tiễn, từ đó giúp các nhà hoạch định chính sách có cơ sở khoa học để rà soát, sửa đổi, bổ sung Luật Thi hành án dân sự và Luật Đấu giá tài sản, cũng như ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết hơn. Cụ thể, các nhà lập pháp có thể tham khảo để điều chỉnh các điều khoản gây mâu thuẫn như Điều 103 Luật THADS liên quan đến việc giao tài sản khi bản án bị hủy.
- Đấu giá viên và các tổ chức đấu giá tài sản: Những người trực tiếp thực hiện hoạt động đấu giá sẽ tìm thấy trong luận văn các phân tích về những sai sót thường gặp, các rủi ro pháp lý và thực tiễn trong quá trình tổ chức đấu giá tài sản THADS. Điều này giúp họ nâng cao nghiệp vụ, tuân thủ chặt chẽ hơn các quy định, tránh vi phạm pháp luật và giảm thiểu các khiếu nại, tố cáo. Ví dụ, việc phân tích về lỗi trong hợp đồng dịch vụ đấu giá sẽ là bài học kinh nghiệm quý giá.
- Luật sư, chuyên gia pháp lý và các nhà nghiên cứu luật: Luận văn là nguồn tài liệu quý giá để hiểu sâu về cơ chế bán đấu giá tài sản trong THADS, các tranh chấp phổ biến và cách thức xử lý. Các luật sư có thể sử dụng những phân tích và case study trong luận văn để tư vấn cho khách hàng (người phải thi hành án, người được thi hành án, người mua trúng đấu giá) hoặc hỗ trợ họ trong quá trình tranh tụng tại Tòa án khi phát sinh tranh chấp liên quan đến đấu giá tài sản. Các nhà nghiên cứu có thể tiếp tục phát triển đề tài này theo các hướng chuyên sâu hơn.
- Người dân và các nhà đầu tư quan tâm đến tài sản đấu giá: Luận văn cung cấp thông tin hữu ích về quy trình, quyền và nghĩa vụ khi tham gia mua tài sản đấu giá THADS. Nó giúp người mua tiềm năng nhận diện các rủi ro tiềm ẩn như tài sản bị kê biên không đúng hiện trạng, định giá không chính xác, hoặc khó khăn trong việc bàn giao tài sản. Từ đó, họ có thể đưa ra quyết định sáng suốt hơn, bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình và tránh những thiệt hại không mong muốn. Ví dụ, hiểu rõ về các tranh chấp kéo dài liên quan đến bàn giao tài sản sẽ giúp nhà đầu tư cân nhắc kỹ lưỡng hơn.
- Sinh viên và học viên ngành Luật: Luận văn cung cấp một góc nhìn thực tiễn và hệ thống về một mảng kiến thức pháp luật chuyên sâu. Đây là tài liệu tham khảo bổ ích cho các môn học như Luật Dân sự, Luật Tố tụng Dân sự, Luật Kinh tế và môn Thi hành án dân sự, giúp sinh viên có thêm kiến thức nền tảng và liên hệ giữa lý thuyết và thực tiễn.
Câu hỏi thường gặp
1. Bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự là gì?
Bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự là một hình thức mua bán đặc biệt, công khai, được thực hiện theo nguyên tắc và trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Đây là biện pháp cưỡng chế được cơ quan thi hành án dân sự áp dụng đối với tài sản đã bị kê biên của người phải thi hành án, nhằm thu tiền để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Mục đích của hoạt động này là đảm bảo quyền lợi của người được thi hành án và người phải thi hành án, đồng thời tăng tính minh bạch, công khai trong việc xử lý tài sản.
2. Ai có thể tham gia đấu giá tài sản thi hành án?
Hầu hết các cá nhân, tổ chức đều có thể tham gia đấu giá tài sản thi hành án nếu đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của Luật Đấu giá tài sản năm 2016. Các điều kiện này bao gồm việc nộp hồ sơ đăng ký tham gia đấu giá hợp lệ, nộp khoản tiền đặt trước theo quy định (thường từ 5% đến 20% giá khởi điểm). Tuy nhiên, có một số trường hợp không được tham gia đấu giá, ví dụ như người không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, người có tài sản đấu giá, chấp hành viên liên quan trực tiếp đến vụ việc, hoặc những người thông đồng, dìm giá.
3. Tại sao tài sản đấu giá thi hành án thường gặp khó khăn khi bàn giao?
Việc bàn giao tài sản đấu giá thành công thường gặp khó khăn do nhiều nguyên nhân. Thứ nhất, người phải thi hành án thường có tâm lý chống đối, chây ỳ, cố tình gây khó khăn vì tài sản bị cưỡng chế. Thứ hai, còn tồn tại sự chưa đồng bộ giữa các quy định pháp luật, ví dụ như trong trường hợp bản án bị hủy sau khi tài sản đã đấu giá thành, gây lúng túng cho cơ quan thi hành án trong việc ra quyết định bàn giao. Thứ ba, năng lực và sự kiên quyết của chấp hành viên trong việc cưỡng chế bàn giao tài sản còn hạn chế trong một số trường hợp, dẫn đến kéo dài vụ việc và gây bức xúc cho người mua trúng đấu giá.
4. Làm thế nào để đảm bảo tính minh bạch trong hoạt động đấu giá tài sản thi hành án?
Để đảm bảo tính minh bạch, pháp luật về đấu giá tài sản quy định chặt chẽ các nguyên tắc như công khai, trung thực, khách quan và công bằng. Các thông tin về tài sản đấu giá, giá khởi điểm, thời gian, địa điểm tổ chức đấu giá phải được niêm yết, thông báo công khai rộng rãi. Quá trình đấu giá phải do đấu giá viên điều hành theo đúng trình tự, thủ tục, công bố rõ ràng các mức giá trả và người trả giá. Ngoài ra, việc tăng cường kiểm tra, giám sát từ cơ quan nhà nước và sự tham gia của Viện kiểm sát nhân dân cũng góp phần ngăn chặn các hành vi tiêu cực như thông đồng, dìm giá.
5. Quyền lợi của người mua trúng đấu giá tài sản thi hành án được pháp luật bảo vệ như thế nào?
Người mua trúng đấu giá tài sản thi hành án được pháp luật bảo vệ quyền lợi một cách tương đối chặt chẽ. Sau khi nộp đủ tiền, người mua được quyền nhận tài sản và được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản đó trong thời hạn quy định (thường là 30 ngày, hoặc 60 ngày đối với trường hợp phức tạp). Thậm chí, theo Điều 103 Luật Thi hành án dân sự năm 2014, ngay cả khi bản án, quyết định bị kháng nghị, sửa đổi hoặc bị hủy, cơ quan thi hành án vẫn phải tiếp tục giao tài sản cho người mua trúng đấu giá, trừ trường hợp kết quả đấu giá bị hủy theo quy định pháp luật. Nếu có lỗi từ các bên gây thiệt hại, người mua có quyền yêu cầu bồi thường theo quy định.
Kết luận
Luận văn đã thực hiện một phân tích toàn diện về pháp luật và thực tiễn bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự tại Việt Nam, đặc biệt tập trung vào Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2015-2019. Những đóng góp chính của nghiên cứu bao gồm:
- Phân tích sâu sắc các quy định pháp luật hiện hành và làm rõ những điểm chưa đồng bộ, mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật, như Điều 103 Luật THADS với các quy định về đình chỉ thi hành án.
- Chỉ ra các tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng pháp luật, từ sai sót trong khâu kê biên, định giá tài sản đến tình trạng chậm trễ bàn giao và các hành vi tiêu cực như thông đồng, dìm giá.
- Cung cấp các số liệu thống kê cụ thể từ Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy sự gia tăng khối lượng công việc nhưng hiệu quả đấu giá chưa cao, với nhiều vụ việc phải định giá lại hoặc không thành công.
- Đề xuất các giải pháp cụ thể, có tính khả thi nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao năng lực chấp hành viên, tăng cường kiểm soát hoạt động đấu giá và chấn chỉnh công tác định giá tài sản.
- Nhấn mạnh sự cần thiết của việc kiên quyết bàn giao tài sản để bảo vệ quyền lợi người mua trúng đấu giá và củng cố niềm tin vào hệ thống tư pháp.
Trong lộ trình tiếp theo, cần tiếp tục theo dõi, đánh giá hiệu quả của các giải pháp đề xuất, tiến hành rà soát chính sách định kỳ trong vòng 1-2 năm tới. Kêu gọi sự tham gia tích cực của các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức đấu giá, chấp hành viên và cộng đồng để cùng xây dựng một hệ thống bán đấu giá tài sản THADS minh bạch, hiệu quả và công bằng.
Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộVIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI Nguyễn Thị Lan BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ Hà Nội, năm 2020 luan an VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI Nguyễn Thị Lan BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Ngành: Luật kinh tế Mã số: 8.07 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS. NGUYỄN ĐỨC MINH Hà Nội, năm 2020 luan an LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào.
TÁC GIẢ Nguyễn Thị Lan luan an MỤC LỤC MỞ ĐẦU. Error! Bookmark not defined. Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ. Khái quát chung về bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự.
Khái quát lý luận về pháp luật bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự Error! Bookmar Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH………………………………………………………………. Thực trạng pháp luật về bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sựError! Bookmark not 2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự ở Thành phố Hồ Chí Minh. 36 Chương 3: QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢTHỰC HIỆN PHÁP LUẬT BÁN ĐẤU GIÁ TÀI SẢN ĐỂ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ…………………….
Quan điểm, phương hướng hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự. Giải pháp hoàn thiện pháp luật bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự………………………………………………………………………………. Giải pháp thực hiện pháp luật bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự. 64 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO luan an DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT THADS : Thi hành án dân sự BLDS : Bộ luật dân sự CHV : Chấp hành viên TA : Tòa án VKS : Viện kiểm sát THA : Thi hành án luan an DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng 2.
Kết quả thi hành án dân sự từ năm 2015 đến năm 2019. Kết quả bán đấu giá tài sản thi hành án từ năm 2015 đến 2019.46 luan an MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Bán đấu giá tài sản là một trong những hình thức mua bán tài sản phổ biến trong nền kinh tế thị trường và là một trong những hình thức bán tài sản công khai, minh bạch, hiệu quả và rất thông dụng ở các nước phát triển. Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự là một hình thức xử lý tài sản sau khi đã bị cưỡng chế kê biên để đảmbảo thi hành án.
Mục đích đặt ra khi cơ quan thi hành án thực hiện biện pháp cưỡng chế kê biên, bán đấu giá tài sản của người phải thi hành án để đảm bảo hiệu lực thực thi của bản án, quyết định của Tòa án trên thực tế, khôi phục lại quyền và lợi ích hợp pháp cho người được thi hành án. Bên cạnh đó, bán đấu giá tài sản nhằm bảo đảm việc bán tài sản của người phải thi hành án được công khai, minh bạch. Thông qua biện pháp bán đấu giá tài sản phải thi hành án thì quyền lợi của chính đáng người phải thi hành án, người đươc thi hành án cũng được đảm bảo, nhất là người có tài sản nhằm thu được số tiền lớn nhất từ tài sản được bán đấu giá. Ở Việt Nam, trước đây việc đấu giá tài sản thường rất ít được sử dụng và mục đích chủ yếu là bán đấu giá các loại tài sản để thu hồi tiền cho nhà nước.
Ở Việt Nam, bán đấu giá tài sản lần đầu tiên được quy định trong Pháp lệnh thi hành án dân sự ngày 28/8/1989; sau đóđược quy định bởi Nghị định số 86/1996/NĐ-CP ngày 19/12/1996 về việc ban hành quy chế bán đấu giá tài sản, Nghị định số 17/2010/NĐ-CP ngày 04/3/2010 của Chính phủ về bán đấu giá tài sản, Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); Luật Đấu giá tài sản năm 2016 và Nghị định 62/2017/NĐ-CP ngày 16/5/2017 của Chính phủ. Việc hoàn thiện pháp luật về đấu giá tài sản đã tạo cơ sở cho hoạt động bán đấu giá tài sản ngày càng đi vào nề nếp, chuyên nghiệp hơn và giảm thiểu tiêu cực phát sinh, nhất là đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự. Sau nhiều năm triển khai và thực hiện Luật đấu giá tài sản thì hoạt động bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự ở Việt Nam đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận, nhìn chung đã đạt được những mục đích đã đề ra. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu, kết quả đã đạt được trong thời gian qua, hoạt động bán đấu 1 luan an giá tài sản trong thi hành án dân sự vẫn còn những tồn tại, hạn chế nhất định.
Chất lượng nhiều phiên đấu giá nhìn chung còn chưa có hiệu quả; còn tồn tại tình trạng “quân xanh, quân đỏ”, thông đồng, dìm giá, cản trở việc mua hồ sơ đấu giá, không thông báo công khai việc bán đấu giá tài sản; chưa có tiêu chí để lựa chọn tổ chức bán đấu giá, cơ chế kiểm soát việc bán đấu giá; còn nhiều vụ việc đã kê biên, định giá lại và đấu giá nhiều lần nhưng không bán được tài sản mặc dù giá trị của nó lớn hơn nhiều so với giá khởi điểm. Có nhiều trường hợp tài sản đã bán đấu giá thành, người mua trúng đấu giá đã nộp đủ tiền nhưng chưa bàn giao được tài sản cho người mua trúng đấu giá hoặc việc bàn giao tài sản bị kéo dài nên đã gây bức xúc trong dư luận xã hội, quyền lợi của các bên trong quan hệ bán đấu giá tài sản thi hành án chưa được đảm bảo dẫn đến việc uy tín của các tổ chức đấu giá tài sản ít nhiều cũng bị ảnh hưởng theo ….Từ đó dẫn đến tình trạng khách hàng có tâm lý ngại mua tài sản bán đấu giá trong thi hành án dân sự. Một trong những nguyên nhân của hạn chế đó là do hành lang pháp lý cho hoạt động này vẫn chưa thực sự hoàn thiện, còn bộc lộ nhiều điểm bất cập như một số quy định về trình tự, thủ tục bán đấu giá còn thiếu cụ thể, không rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, chế tài đối với đội ngũ đấu giá viên vi phạm nguyên tắc nghề nghiệp còn chưa hợp lý; quy định về bán đấu giá tài sản chưa có sự tách bạch rõ ràng giữa hoạt động bán đấu giá với các hoạt động thi hành án khác dẫn tới tình trạng các tổ chức bán đấu giá tài sản can thiệp sâu vào hoạt động thi hành án dân sự , thao túng, vi phạm pháp luật trong hoạt động bán đấu giá tài sản để thi hành án; một số tổ chức bán đấu giá hoạt động không chuyên nghiệp.v Từ thực trạng và nguyên nhân nêu trên đòi hỏi phải có những phương hướng, giải pháp để khắc phục hạn chế của pháp luậtvà nâng cao hiệu quả đấu giá tài sản để thi hành án dân sự. Vì vậy, việc nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống các vấn đề về bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự là rất cần thiết.
Từ yêu cầu đó, học viên đã chọn “Bán đấu giá tài sản để thi hành án dân sự theo theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp cao học của mình. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Trong những năm gần đây, trước yêu cầu hội nhập kinh tế và cải cách tư pháp đã, cải cách hành chính đã có nhiều đề tài khoa học nghiên cứu vấn đề bán đấu giá tài sản ở Việt Nam nói chung và bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự nói riêng đã được công bố. Cụ thể về luận văn, luận án có đề tài luận văn thạc sĩ luật học “Quản lý nhà nước về hoạt động bán đấu giá tài sản từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Phạm Văn Sỹ bảo vệ tại Học viện Hành chính quốc gia năm 2006; đề tài luận án tiến sĩ luật học “Pháp luật về đấu giá tài sản trong thương mại ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Mạnh Cường bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội năm 2012; đề tài luận án thạc sĩ luật học “Bán đấu giá tài sản trong thi hành án các bản án giải quyết tranh chấp về hoạt động tín dụng ngân hàng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên” của tác giả Trịnh Thanh Tùng bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội năm 2017; đề tài luận án thạc sĩ luật học “Bán đấu giá tài sản là quyền sử dụng đất ở trong thi hành án dân sự từ thực tiễn quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng” của tác giả Trần Thị Mỹ Hằng bảo vệ tại Học viện Khoa học xã hội năm 2019. Về các bài tạp chí khoa học có bài “Một số vướng mắc về bán đấu giá tài sản để thi hành án” của Đinh Duy Bằng đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề tháng 02/2012; bài “Một số bất cập trong việc định giá, định giá lại tài sản kê biên” của tác giả Vũ Hòa đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề tháng 12/2012; bài “Bán đấu giá tài sản trong thi hành án dân sự vẫn còn là điểm nghẽn” của tác giả Nguyễn Quang Thái và Đào Thị Thúy Lan đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề 4/2016 ; bài “Trình tự, thủ tục đấu giá tài sản theo Luật đấu giá tài sản" của tác giả Nguyễn Đại Dân đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề 2017; bài “ Giải pháp nâng cao hiệu quả bán đấu giá tài sản trong thi hành án” tác giả Lê Thị Kim Dung và Văn Thị Tâm Hồng đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số chuyên đề 2017.
Các luận văn, luận án và các công trình nêu trên đã giải quyết được một số nội dung liên quan đến bán đấu giá tài sản thi hành án trong công tác thi hành án dân sự.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Nguyễn Thị Lan (2020). Bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự - Nghiên cứu TP. Hồ Chí Minh [Luận án tiến sĩ, Học viện Khoa học Xã hội]. LuanAn.net. https://luanan.net/luat-hoc/luat-hinh-su/luan-an-ban-dau-gia-tai-san-thi-hanh-an-dan-su-thuc-tien-tp-ho-chi-minh
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự - Nghiên cứu TP. Hồ Chí Minh" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án tiến sĩ phân tích bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự tại TP. Hồ Chí Minh. Đánh giá thực tiễn và đề xuất hoàn thiện pháp luật.
Luận án "Bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự - Nghiên cứu TP. Hồ Chí Minh" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội. Năm bảo vệ: 2020.
Luận án "Bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự - Nghiên cứu TP. Hồ Chí Minh" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự - Nghiên cứu TP. Hồ Chí Minh" thuộc chuyên ngành Luật kinh tế. Danh mục: Luật Hình Sự.
Luận án "Bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự - Nghiên cứu TP. Hồ Chí Minh" có bao nhiêu trang?
Luận án "Bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự - Nghiên cứu TP. Hồ Chí Minh" có 75 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Bán đấu giá tài sản thi hành án dân sự - Nghiên cứu TP. Hồ Chí Minh" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.