Luận án tiến sĩ: Pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động tại Việt Nam

Luận án TS luật học: Phân tích sâu quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động tại Việt Nam. Đánh giá thực trạng & đề xuất giải pháp.

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án

Năm xuất bản

Số trang

179

Thời gian đọc

27 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tóm tắt nội dung

I. Tổng quan quyền quản lý lao động của NSDLĐ ở Việt Nam

Quản lý lao động là nhu cầu thiết yếu trong mọi nền sản xuất. Hoạt động này chỉ đạo các hoạt động chung của con người, hướng tới mục tiêu sản xuất. Xã hội càng phát triển, tổ chức lao động càng phức tạp, quản lý lao động càng quan trọng. Trong nền kinh tế thị trường, quyền quản lý lao động ở tầm vi mô thuộc về người sử dụng lao động (NSDLĐ). NSDLĐ có quyền trực tiếp tổ chức, điều khiển người lao động (NLD). Mục tiêu là tạo ra trật tự, kỷ cương, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả lao động. Pháp luật lao động Việt Nam đã quy định quyền này từ năm 1945. Bộ luật Lao động (BLLĐ) năm 2012 tiếp tục hoàn thiện, mở rộng phạm vi và nội dung quyền của NSDLĐ. Pháp luật chuyển dần từ tính chất hành chính hóa sang dân sự hóa quan hệ lao động. NSDLĐ có quyền tự định đoạt nhiều hơn trong quản lý lao động tại đơn vị.

1.1. Sự cần thiết của quản lý lao động trong doanh nghiệp

Mọi quá trình sản xuất đều đòi hỏi quản lý lao động hiệu quả. Chủ thể quản lý cần chỉ đạo các hoạt động chung. Điều này đảm bảo mục tiêu sản xuất được đạt tới. Quyền quản lý giúp tạo lập trật tự, kỷ luật lao động. Nó thúc đẩy tăng năng suất và chất lượng sản phẩm. Đối với doanh nghiệp, quản lý lao động là chìa khóa thành công. Nó đảm bảo nguồn nhân lực được sử dụng tối ưu. Quyền này cũng giúp NSDLĐ linh hoạt điều chỉnh chiến lược. Doanh nghiệp duy trì được sự ổn định và phát triển bền vững.

1.2. Quyền quản lý lao động theo Bộ luật Lao động 2012

BLLĐ năm 2012 mở rộng đáng kể quyền của NSDLĐ. NSDLĐ có toàn quyền tuyển dụng, bố trí công việc. Doanh nghiệp được ban hành văn bản tổ chức, điều hành lao động. Quyền kiểm tra, giám sát quá trình lao động được đảm bảo. NSDLĐ cũng có quyền khen thưởng, xử lý kỷ luật lao động. Pháp luật cho phép NSDLĐ quản lý khi thuê lại lao động. NSDLĐ được phép cho thôi việc vì lý do kinh tế. Sự mở rộng này nhằm phù hợp hơn với nền kinh tế thị trường. Nó giúp tăng cường quyền tự định đoạt của doanh nghiệp trong quản lý nguồn nhân lực.

II. Cơ sở lý luận và pháp lý quyền quản lý lao động NSDLĐ

Quyền quản lý lao động của NSDLĐ có nền tảng lý luận sâu sắc. Nó là một bộ phận không thể thiếu của quyền sở hữu và quyền điều hành doanh nghiệp. Quyền này phát sinh từ nhu cầu tổ chức sản xuất. Nó được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Về mặt pháp lý, quyền này được thể hiện rõ trong Bộ luật Lao động (BLLĐ) và các văn bản hướng dẫn. Các quy định này tạo hành lang pháp lý cho NSDLĐ. Mục đích là để họ thực hiện các hoạt động quản lý nhân sự. NSDLĐ có quyền đưa ra các quyết định liên quan đến người lao động (NLD). Điều này bao gồm từ tuyển dụng đến chấm dứt hợp đồng. Quyền quản lý này là công cụ để doanh nghiệp đạt được mục tiêu kinh doanh. Nó cũng đảm bảo tuân thủ các quy định của pháp luật lao động.

2.1. Khái niệm và vai trò của quyền quản lý lao động

Quyền quản lý lao động là tổng thể các thẩm quyền của NSDLĐ. NSDLĐ được nhà nước trao để tổ chức, điều hành, kiểm tra và giám sát NLD. Quyền này bao gồm việc thiết lập kỷ luật lao động, khen thưởng, xử lý vi phạm. Vai trò của quyền này rất quan trọng. Nó giúp doanh nghiệp duy trì trật tự nội bộ. Quyền này đảm bảo hiệu quả hoạt động sản xuất. Nó tạo ra môi trường làm việc chuyên nghiệp. Quyền quản lý cũng góp phần bảo vệ lợi ích hợp pháp của NSDLĐ. Đồng thời, nó tuân thủ các quy định về quyền và nghĩa vụ của NLD.

2.2. Các quy định pháp luật về quyền quản lý lao động

Pháp luật lao động Việt Nam quy định chi tiết quyền quản lý lao động. Bộ luật Lao động là văn bản pháp lý cao nhất. Các nghị định, thông tư của Chính phủ hướng dẫn cụ thể. NSDLĐ có quyền xây dựng nội quy lao động, quy chế. Doanh nghiệp quyết định hình thức tuyển dụng, thời gian làm việc. Quyền bố trí, điều chuyển công việc được pháp luật cho phép. NSDLĐ có quyền áp dụng các biện pháp kỷ luật lao động. Việc chấm dứt hợp đồng lao động cũng nằm trong khuôn khổ pháp luật. Các quy định này đảm bảo NSDLĐ có đủ công cụ quản lý nguồn nhân lực hiệu quả. Đồng thời, nó cân bằng quyền lợi giữa NSDLĐ và NLD.

III. Thực trạng pháp luật về quyền quản lý lao động NSDLĐ

Thực trạng pháp luật về quyền quản lý lao động của NSDLĐ ở Việt Nam đã có nhiều tiến bộ. Tuy nhiên, vẫn còn những thách thức nhất định. BLLĐ và các văn bản dưới luật đã tạo cơ sở vững chắc. NSDLĐ có quyền thiết lập các công cụ quản lý nội bộ. Doanh nghiệp tổ chức, thực hiện quản lý lao động. Tuy nhiên, việc áp dụng trên thực tế đôi khi gặp khó khăn. Một số quy định còn chung chung. Chúng dẫn đến cách hiểu và áp dụng khác nhau. Điều này ảnh hưởng đến tính nhất quán và hiệu quả quản lý. Cần đánh giá kỹ lưỡng các điểm mạnh, điểm yếu hiện có. Mục tiêu là để có giải pháp hoàn thiện phù hợp. Pháp luật cần rõ ràng hơn để hỗ trợ doanh nghiệp hiệu quả trong quản lý nguồn nhân lực.

3.1. Quy định về thiết lập công cụ quản lý lao động

Pháp luật hiện hành cho phép NSDLĐ xây dựng nhiều công cụ quản lý. Đó là nội quy lao động, quy chế thưởng, kỷ luật lao động. Doanh nghiệp cũng có thể xây dựng thỏa ước lao động tập thể. Các công cụ này giúp chuẩn hóa quy trình làm việc. Chúng thiết lập các tiêu chuẩn về hành vi, hiệu suất. Tuy nhiên, quá trình xây dựng và đăng ký các công cụ này đôi khi phức tạp. Một số quy định yêu cầu sự tham gia của tổ chức công đoàn. Điều này cần thời gian và đàm phán. Việc đảm bảo tính hợp pháp và khả thi của các công cụ này là rất quan trọng. Pháp luật cần rõ ràng hơn về quyền tự chủ của NSDLĐ trong việc thiết lập các quy định nội bộ.

3.2. Quy định về tổ chức thực hiện quản lý lao động

Các quy định pháp luật về tổ chức và thực hiện quản lý lao động khá toàn diện. NSDLĐ có quyền tuyển dụng, bố trí, điều chuyển NLD. Doanh nghiệp được quyền đào tạo, huấn luyện. Việc giám sát, đánh giá hiệu suất lao động được pháp luật bảo vệ. NSDLĐ có quyền áp dụng các biện pháp khen thưởng, kỷ luật. Các quy định về chấm dứt hợp đồng lao động được nêu rõ. Tuy nhiên, việc thực hiện các quyền này đôi khi bị hạn chế bởi thủ tục. Một số quy định bảo vệ NLD có thể gây khó khăn cho NSDLĐ. Cần có sự cân bằng hợp lý để NSDLĐ có thể linh hoạt quản lý. Mục tiêu là vẫn đảm bảo quyền lợi chính đáng của NLD và duy trì quan hệ lao động hài hòa.

IV. Hoàn thiện pháp luật quyền quản lý lao động NSDLĐ Việt Nam

Hoàn thiện pháp luật về quyền quản lý lao động của NSDLĐ tại Việt Nam là cần thiết. Mục tiêu là tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi. Pháp luật cần đảm bảo quyền tự chủ của doanh nghiệp. Đồng thời, nó bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người lao động. Các quy định cần được sửa đổi, bổ sung theo hướng minh bạch. Điều này giúp dễ hiểu và dễ áp dụng hơn. Hướng tới một hệ thống pháp luật linh hoạt, phù hợp với nền kinh tế thị trường. Cần tham khảo kinh nghiệm quốc tế. Tuy nhiên, phải giữ vững đặc thù của Việt Nam. Việc này sẽ thúc đẩy năng suất lao động. Nó cũng góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất. Quan hệ lao động sẽ hài hòa hơn.

4.1. Phương hướng phát triển pháp luật quản lý lao động

Pháp luật quản lý lao động cần phát triển theo hướng hiện đại. Cần giảm thiểu sự can thiệp hành chính không cần thiết. Pháp luật cần tăng cường quyền tự định đoạt của các bên. Đặc biệt là quyền quản lý nguồn nhân lực của NSDLĐ. Hướng tới đơn giản hóa thủ tục hành chính. Cần tăng cường cơ chế giải quyết tranh chấp lao động hiệu quả. Pháp luật nên khuyến khích đối thoại xã hội. Việc này giúp xây dựng quan hệ lao động ổn định, bền vững. Ngoài ra, cần quan tâm đến các hình thức lao động mới. Đó là lao động tự do, lao động bán thời gian. Pháp luật cần thích ứng với sự thay đổi của thị trường lao động toàn cầu.

4.2. Đề xuất sửa đổi bổ sung quy định về quản lý lao động

Cần xem xét sửa đổi một số điều khoản trong Bộ luật Lao động. Quy định về nội quy lao động nên được tinh giản. Cần làm rõ hơn thẩm quyền của NSDLĐ trong việc ban hành. Các quy định về xử lý kỷ luật lao động cần cụ thể hơn. Điều này giúp giảm thiểu tranh chấp. Cần bổ sung các quy định về quản lý lao động linh hoạt. Ví dụ: làm việc từ xa, chia sẻ lao động. Pháp luật cần làm rõ quyền và nghĩa vụ khi NSDLĐ thuê lại lao động. Cần tăng cường chế tài đối với hành vi vi phạm kỷ luật. Đồng thời, đảm bảo quy trình công bằng, minh bạch. Những thay đổi này sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho doanh nghiệp. Chúng giúp doanh nghiệp quản lý lao động hiệu quả và đúng pháp luật.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sĩ luật học pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động ở việt nam

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (179 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI ĐÓ THỊ DUNG Chuyên ngành — : Luật Kinh tế Mã số : 62 38 01 07 LUẬN ÁN TIEN SĨ LUẬT HOC Người hướng dẫn khoa học: 1.TS NGUYEN HỮU CHÍ 2. TS TRAN THỊ THUY LAM HÀ NỘI - 2014 LỜI CAM ĐOAN lôi xin cam đoan day là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các tài liệu, số liệu tham khảo, trích dan trình bày trong luận án là trung thực. Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố trong bat kỳ công trình nghiên cứu nào khác.

Tác giả luận án D6 Thị Dung DANH MỤC CÁC CHỮ VIET TAT. BLLD Bộ luật lao động. ILO Tổ chức lao động quốc tế. NLD Người lao động.

NSDLD Người sử dụng lao động Nxb Nhà xuất bản .QLLĐ Quản lý lao động. VCCI Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam. XHCN Xã hội chủ nghĩa MỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU Chương 1: TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐÈ TÀI 1. Tình hình nghiên cứu trong nước và nước ngoài 1.

Những vấn đề đã nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án và một số nhận xét, đánh giá 21 1. Những vẫn đề cơ bản cần giải quyết trong luận án 26 Chương 2: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE QUYEN QUAN LY LAO DONG VA PHAP LUAT VE QUYEN QUAN LY LAO DONG CUA NGUOI SU DUNG LAO DONG 30 2. Quyền quan lý lao động của người sử dung lao động 30 2. Pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động 45 Chương 3: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HANH VE QUYEN QUAN LÝ LAO ĐỘNG CUA NGƯỜI SỬ DUNG LAO DONG Ở VIỆT NAM 73 3.

Thực trạng pháp luật về quyên thiết lập công cụ quản lý lao động của người sử dụng lao động 73 3. Thực trạng pháp luật về quyên tô chức, thực hiện quản lý lao động của người sử dụng lao động 91 Chương 4: HOÀN THIỆN PHAP LUẬT VE QUYEN QUAN LÝ LAO DONG CUA NGƯỜI SỬ DUNG LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM 128 4. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động 128 4. Dé xuất sửa đổi, bố sung một số quy định về quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động 135 KẾT LUẬN 150 DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ ĐƯỢC CÔNG BO LIÊN QUAN DEN LUẬN AN 154 DANH MUC TAI LIEU THAM KHAO LS PHU LUC MỞ ĐẦU 1.

Tính cấp thiết của đề tài Quản lý lao động là nhu cau tất yếu khách quan của bat cứ nền sản xuất nào trong xã hội có giai cấp. Bởi vì, để đạt được mục đích cuối cùng của quá trình sản xuất, nhất thiết phải có chủ thé đứng ra chỉ đạo các hoạt động chung của con người và hướng những hoạt động chung đó theo mục đích nhất định nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra. Xã hội càng phát triển, trình độ phân công, tổ chức lao động càng cao thì QLLD càng quan trong. Đối với quan hệ lao động trong nên kinh tế thị trường, ở tầm vĩ mô, QLLD là quyền của nhà nước, chủ sở hữu lớn nhất trong xã hội.

Nhà nước có quyên ban hành pháp luật, tô chức thực hiện và xử lý các hành vi vi phạm của các đơn vi, tô chức, cá nhân khi tham gia quan hệ lao động. Ở tầm vi mô, trong các đơn vị sử dụng lao động, quyền QLLĐ thuộc về NSDLĐ trong khuôn khổ quy định của pháp luật. Theo đó, NSDLD có quyền thực hiện những hoạt động trực tiếp trong việc tô chức, điều khiến NLD nhăm tao ra trật tự, kỷ cương chung trong don vị, từ đó góp phan tăng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả lao động. Trên thế giới, quyền QLLĐ của NSDLD ra đời từ rất sớm và luôn được pháp luật lao động của hau hết các quốc gia chú trọng.

Bởi đó là cơ sở pháp lý cần thiết được thiết lập dành cho chủ sử dụng lao động. Với quy định của pháp luật ngày càng hợp lý cộng với trình độ QLLĐ ngày càng cao của chủ sử dụng lao động, đã tạo điều kiện quan trọng đề thúc đây mạnh mẽ sự phát triển của nhiều tập đoàn kinh tế lớn cũng như sự phát triên nhanh chóng, vượt bậc về kinh tế - xã hội của nhiều nước. Ở Việt Nam, quyền QLLĐ của NSDLĐ được quy định trong pháp luật lao động từ khi giành được chính quyền Thang Tám năm 1945 đến nay. Qua nhiều lần sửa đổi, bố sung, pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLD ngày càng hoàn thiện va thé hiện rõ nét trong BLLĐ được Quốc hội khóa XIII kỳ hop thứ 3 thông qua ngày 18/6/2012, có hiệu lực từ ngày 1/5/2013.

Trên cơ sở kế thừa va phát triển BLLĐ năm 1994 (sửa đổi, b6 sung năm 2002, 2006, 2007), BLLĐ năm 2012 tiếp tục thể chế đường lối đổi mới của Đảng và cụ thé hóa các quy định của Hiến pháp về lao động, sử dụng lao động và QLLD theo hướng ngày càng phù hợp hơn với nền kinh tế thị trường. Tinh chất hành chính hóa quan hệ lao động thông qua sự tham gia trực tiếp của nhà nước được chuyên dần sang tính chất dân sự hóa thông qua việc bảo đảm quyền tự định đoạt của các bên, nhất là quyền tự định đoạt của NSDLD trong QLLD ở đơn vi. So với trước, quyền QLLĐ của NSDLD được mở rộng hon, cả về phạm vi (chiều rộng) và nội dung (chiều sâu). Theo đó, NSDLĐ không chỉ có toàn quyền trong việc tuyên lao động, bồ trí công việc cho NLD, quyên ban hành các văn ban để t6 chức và điều hành lao động, quyền kiểm tra, giám sát quá trình lao động của NLD, quyên khen thưởng, xử ly kỷ luật lao động đôi với NLD như trước đây, mà họ còn được quyền QLLĐ khi thuê lại lao động của đơn vi khác hoặc cho đơn vi khác thuê lại lao động của mình, quyền cho NLD thôi việc vì lý do kinh tế.

Ngoài ra, trong hầu hết các nội dung quyền QLLĐ của NSDLĐ, pháp luật chỉ quy định chung mang tính nguyên tắc, từ đó trao toàn quyền cho NSDLD được làm những gi pháp luật không cấm. Quy định này có ý nghĩa rat lớn, quyết định sự thành công trong hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị. Thực hiện tốt quyền QLLD là điều kiện quan trọng dé NSDLD sử dụng hiệu quả sức lao động, duy trì trật tự, nên nếp trong đơn vi, từ đó nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng sức canh tranh và tạo được vi trí, uy tín vững mạnh trên thi trường. Tuy nhiên, hoạt động sản xuất kinh doanh của các đơn vị sử dụng lao động ở Việt Nam trong những năm gần đây đang phải đôi mặt với thực tế rất khắc nghiệt, đó là năng suất, hiệu quả lao động rất thấp, phát triển không vững mạnh, khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và thế giới không cao.

Điều đó có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Song phải thừa nhận một cách khách quan rang, trong mối tương quan với pháp luật khác, một số quy định của pháp luật về quyền QLLD của NSDLD chưa thực sự phù hợp và thiếu tính khả thi. Ý chí của Nhà nước trong việc thiên về bảo vệ NLD đã làm hạn chế phần nào quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của NSDLĐ trong quan hệ lao động của nền kinh tế thị trường. Bởi vậy, với tư cách là một bên của quan hệ lao động, có vai trò quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội cũng như giải quyết việc làm cho NLD, nhưng so với NLD, các quyền của NSDLĐ liên quan đến QLLD, vẫn chưa được pháp luật lao động bảo đảm trên cơ sở công bằng, hai bên cùng có lợi.

Trong khi đó, một số quy định về quyền QLLĐ của NSDLĐ được đánh giá là khá mở rộng và bảo đảm quyên tự quyết của NSDLĐ trong quá trình tuyển chọn, sử dụng, chấm dứt việc sử dụng lao động thì thực tế NSDLĐ lại có xu hướng lạm quyên. Tình trạng NSDLD phân biệt NLD về vùng miền, loại hình dao tao. đã xâm phạm đến quyên và lợi ích của NLD, gây bức xúc trong dư luận xã hội. Tinh trang NSDLĐ điều chuyên NLD làm công việc khác, chấm dứt hợp đồng lao động, sa thai NLD, trừ lương NLD một cách tùy tiện, không tuân theo quy định của pháp luật xảy ra khá pho biến, làm ảnh hưởng đến thu nhập, việc làm của NLĐ và trật tự xã hội chung.

Hơn nữa, trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, để thực hiện phương châm đặt ra của Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI là "mở rộng quan hệ hợp tác với các nước, day mạnh đầu tư nước ngoài", chính sách về lao động nói chung, chính sách đối với các đơn vị sử dụng lao động nói riêng của nhà nước không ngừng đổi mới theo xu hướng chung của thế giới. Đối với các đơn vị sử dụng lao động, nhà nước không chỉ nhằm bảo đảm quyên và lợi ich hợp pháp của NSDLĐ mà còn bảo đảm cho NSDLD thực hiện quyền "QLLD đúng pháp luật, dân chủ, công băng, văn minh" (khoản 2 Điều 4 BLLĐ). Từ những lý do đó, nên mặc dù BLLD mới được sửa đôi và có hiệu lực chưa lâu, song việc nghiên cứu các van dé lý luận, đánh giá thực trạng pháp luật về quyền QLLD của NSDLĐ va đưa ra các dé xuất sửa đôi, bổ sung quy định của pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLĐ không bao giờ là sớm và luôn cần thiết trong khoa học pháp lý. Vì thế, tôi chọn vẫn đề: "Pháp luật về quyên quản lý lao động của người sử dụng lao động ở Việt Nam" đề làm đề tài nghiên cứu luận án tiến sĩ luật học của mình.

Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Mục đích của luận án là nhằm nghiên cứu toàn diện, sâu sắc, có hệ thống một số van dé lý luận về quyền QLLĐ của NSDLD. Trên cơ sở quan điểm về lý luận được nghiên cứu, luận án tập trung phân tích thực trạng pháp luật về quyền QLLĐ của NSDLD theo quy định của BLLD năm 2012 và các văn bản hướng dan thi hành. Thông qua việc đánh giá những điểm bất cập của pháp luật hiện hành, luận án dé xuất sửa đối, bổ sung một số quy định về quyền QLLĐ của NSDLD ở Việt Nam theo hướng phù hợp với sự phát triển của thị trường lao động trong bối cảnh hội nhập sâu rộng với quốc tế và khu vực hiện nay. Từ mục đích đặt ra như trên, luận án tập trung vào các nhiệm vụ chính sau đây: Tư nhất, tông quan về tình hình nghiên cứu liên quan đến dé tài luận án.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động ở Việt Nam" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án TS luật học: Phân tích sâu quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động tại Việt Nam. Đánh giá thực trạng & đề xuất giải pháp.

Luận án "Quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động ở Việt Nam" được bảo vệ tại trường nào?

Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Luật Hà Nội. Năm bảo vệ: 2014.

Luận án "Quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động ở Việt Nam" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động ở Việt Nam" thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế. Danh mục: Luật Học.

Luận án "Quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động ở Việt Nam" có bao nhiêu trang?

Luận án "Quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động ở Việt Nam" có 179 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Quyền quản lý lao động của người sử dụng lao động ở Việt Nam" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter