Luận án hoàn thiện pháp luật về bảo đảm bằng động sản tại Việt Nam

Phân tích & đề xuất hoàn thiện pháp luật bảo đảm bằng động sản. Nâng cao hiệu quả giao dịch, bảo vệ quyền lợi các bên liên quan.

Chuyên ngành
Pháp luật
Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận văn

Số trang

170

Thời gian đọc

26 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
1. Tính cấp thiết hoàn thiện pháp luật về bảo đảm động sản
Số trang:
170 trang
Chuyên ngành:
Pháp luật
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I. Tính cấp thiết hoàn thiện pháp luật về bảo đảm động sản

Tài liệu nhấn mạnh sự cần thiết của việc cải thiện pháp luật về bảo đảm bằng động sản. Bảo đảm cho khoản vay là thành phần cốt lõi của tín nhiệm tín dụng. Nó không chỉ ngăn ngừa rủi ro mà còn thúc đẩy tín dụng ngân hàng. Báo cáo của World Bank năm 2018 chỉ ra hơn 80% vốn doanh nghiệp đến từ động sản. Tuy nhiên, tại các nền kinh tế đang phát triển, pháp luật chưa hoàn thiện. Điều này khiến ngân hàng do dự khi nhận động sản làm tài sản bảo đảm. Thực tế Việt Nam cũng cho thấy điều tương tự. Cấp tín dụng bằng động sản có tăng trưởng nhưng tỷ lệ vẫn khiêm tốn. Trong khi đó, bảo đảm bằng bất động sản không hoàn toàn an toàn. Thống kê của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2016-2020) cho thấy khoảng 300 nghìn tỷ đồng nợ xấu. Khoảng 70% tài sản bảo đảm cho các khoản nợ xấu này là bất động sản. Hoàn thiện pháp luật về giao dịch bảo đảm bằng động sản là cơ sở quan trọng. Nó bảo vệ, thúc đẩy và dung hòa quyền lợi các chủ thể. Việc này duy trì một trật tự kinh doanh lành mạnh, hiệu quả. Việc này củng cố biện pháp bảo đảm và phát triển giao dịch bảo đảm tại Việt Nam.

1.1. Vai trò của bảo đảm tài sản trong tín dụng.

Tín nhiệm là trụ cột của tín dụng ngân hàng. Bảo đảm cho khoản vay là thành phần quan trọng của tín nhiệm. Bảo đảm tài sản không chỉ là biện pháp phòng ngừa rủi ro. Nó còn là cơ chế thúc đẩy tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại. Sự đầy đủ của tài sản bảo đảm giúp ngân hàng tự tin hơn. Điều này hỗ trợ quá trình cấp tín dụng.

1.2. Thực trạng hạn chế sử dụng động sản bảo đảm tại Việt Nam.

World Bank năm 2018 cho biết hơn 80% vốn doanh nghiệp đến từ động sản. Tại Việt Nam, cấp tín dụng bảo đảm bằng động sản tăng trưởng khiêm tốn. Tỷ lệ này vẫn thấp so với bảo đảm bằng bất động sản. Pháp luật chưa hoàn thiện là nguyên nhân chính. Ngân hàng còn dè dặt nhận thế chấp động sản hay cầm cố động sản.

1.3. Hệ quả tiêu cực từ sự thiếu hụt pháp luật.

Cấp tín dụng bằng bất động sản không hoàn toàn an toàn. Thống kê NHNN VN giai đoạn 2016-2020 cho thấy nợ xấu khoảng 300 nghìn tỷ. Khoảng 70% tài sản bảo đảm là bất động sản. Thiếu pháp luật về giao dịch bảo đảm bằng động sản gây ra nhiều vướng mắc. Nó ảnh hưởng đến hiệu lực thực thi, tăng rủi ro cho hệ thống ngân hàng.

II. Thách thức pháp lý trong giao dịch bảo đảm bằng động sản

Pháp luật về giao dịch bảo đảm đối với động sản chưa hoàn thiện. Đây là nguyên nhân khiến ngân hàng dè dặt khi cấp tín dụng nhận bảo đảm bằng động sản. Nhu cầu của các chủ thể trong giao dịch chưa được ghi nhận phù hợp. Đặc tính của động sản và ảnh hưởng của chúng trong giao dịch bảo đảm cũng vậy. Điều này dẫn đến nhiều vướng mắc và khó khăn khi áp dụng. Hiệu lực thực thi giao dịch bảo đảm bằng động sản tại các ngân hàng thương mại bị ảnh hưởng. Một hệ thống pháp luật rõ ràng, minh bạch là cần thiết. Nó tạo cơ sở để ngân hàng cấp tín dụng bằng động sản. Một hệ thống như vậy giảm chi phí giao dịch, hạn chế tranh chấp. Nó cũng góp phần giảm nợ xấu của ngân hàng thương mại. Pháp luật cần xem xét kỹ lưỡng các điều khoản của Bộ luật Dân sự liên quan đến tài sản bảo đảm là động sản. Các quy định cần đồng bộ và dễ hiểu hơn.

2.1. Pháp luật hiện hành chưa phù hợp.

Nhu cầu của các bên trong giao dịch bảo đảm rất đa dạng. Đặc tính của động sản cũng khác biệt so với bất động sản. Các quy định pháp luật hiện hành chưa phản ánh đầy đủ những yếu tố này. Điều này tạo ra khoảng trống pháp lý. Nó gây ra sự thiếu chắc chắn cho các biện pháp bảo đảm bằng động sản.

2.2. Vướng mắc trong áp dụng các quy định.

Sự không rõ ràng trong pháp luật dẫn đến khó khăn. Ngân hàng và doanh nghiệp gặp rắc rối khi áp dụng các quy định về giao dịch bảo đảm. Việc giải thích và thực hiện các điều khoản gặp trở ngại. Điều này ảnh hưởng đến tính minh bạch của quy trình. Nó cũng làm tăng chi phí tuân thủ.

2.3. Thiếu cơ chế đăng ký giao dịch bảo đảm hiệu quả.

Một cơ chế đăng ký giao dịch bảo đảm bằng động sản chưa đủ hiệu quả. Điều này làm giảm tính đối kháng với người thứ ba. Nó gây khó khăn trong việc xác định thứ tự ưu tiên. Sự thiếu rõ ràng trong đăng ký khiến ngân hàng e ngại. Rủi ro pháp lý khi nhận thế chấp động sản hay cầm cố động sản tăng lên.

III. Hệ quả pháp luật chưa hoàn thiện đối với các chủ thể kinh tế

Pháp luật chưa hoàn thiện về giao dịch bảo đảm bằng động sản gây ra nhiều hệ quả. Ngân hàng thương mại là bên chịu ảnh hưởng trực tiếp. Họ dè dặt cấp tín dụng khi nhận biện pháp bảo đảm là động sản. Các quy định chưa phù hợp khiến quy trình vướng mắc. Hiệu lực thực thi của giao dịch bảo đảm bằng động sản bị ảnh hưởng. Một hệ thống pháp luật rõ ràng sẽ giảm chi phí giao dịch. Nó hạn chế tranh chấp và góp phần giảm nợ xấu.

Bên vay cũng chịu thiệt thòi lớn. Một doanh nghiệp sở hữu nhiều động sản giá trị không thể vay vốn. Điều này đồng nghĩa với việc không tối đa hóa được giá trị kinh tế của tài sản. Chi phí cho vốn cao hơn mức đáng lẽ có thể. Giá thành sản phẩm tăng lên. Đây là điều không có lợi cho người tiêu dùng, nhà sản xuất. Nó cũng ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Các chủ thể không tham gia giao dịch nhưng có lợi ích liên quan cũng bị ảnh hưởng. Cần xây dựng một hệ thống pháp luật minh bạch. Nó phải dự liệu được các trường hợp xung đột lợi ích. Một trật tự công bằng để giải quyết các xung đột đó là cần thiết. Đặc biệt là các quy định về xử lý tài sản bảo đảm, hiệu lực đối kháng người thứ ba, và thứ tự ưu tiên thanh toán.

3.1. Ngân hàng dè dặt trong cấp tín dụng.

Sự chưa hoàn thiện của pháp luật khiến ngân hàng e ngại. Rủi ro khi nhận thế chấp động sản hoặc cầm cố động sản tăng cao. Điều này làm giảm khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp. Chi phí giao dịch tăng lên. Ngân hàng phải đối mặt với nhiều tranh chấp hơn. Mục tiêu giảm nợ xấu trở nên khó khăn.

3.2. Doanh nghiệp khó tiếp cận vốn.

Doanh nghiệp có nhiều động sản giá trị không thể dùng để vay vốn. Họ không tối đa hóa được giá trị kinh tế tài sản. Chi phí vốn tăng cao hơn bình thường. Điều này làm tăng giá thành sản phẩm. Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp giảm sút. Toàn bộ nền kinh tế bị ảnh hưởng.

3.3. Xung đột lợi ích giữa các bên liên quan.

Thiếu quy định pháp luật rõ ràng dẫn đến xung đột. Các chủ thể không tham gia trực tiếp giao dịch nhưng có lợi ích liên quan. Họ cần một cơ chế công bằng để giải quyết tranh chấp. Quy định về xử lý tài sản bảo đảmthứ tự ưu tiên thanh toán cần minh bạch. Nó phải đảm bảo hiệu lực đối kháng người thứ ba.

IV. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo đảm bằng động sản

Để giải quyết những thách thức hiện tại, cần có các giải pháp đồng bộ. Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm bằng động sản là một ưu tiên. Một hệ thống quy định pháp luật rõ ràng, minh bạch là nền tảng. Nó cần ghi nhận phù hợp nhu cầu giao dịch và đặc tính của động sản. Điều này sẽ tạo cơ sở vững chắc cho các ngân hàng. Họ sẽ tự tin hơn trong việc cấp tín dụng. Chi phí giao dịch sẽ giảm, tranh chấp được hạn chế. Nợ xấu của các ngân hàng thương mại cũng sẽ giảm.

Về tổng thể, với đặc thù nền kinh tế đang phát triển. Số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng lớn. Việc thiếu khả năng sử dụng động sản để bảo đảm khoản vay là rào cản lớn. Hoàn thiện pháp luật sẽ bảo vệ, thúc đẩy, dung hòa quyền và lợi ích. Nó duy trì một trật tự kinh doanh lành mạnh và hiệu quả. Việc rà soát và sửa đổi các quy định liên quan đến Bộ luật Dân sự là cần thiết. Các sửa đổi cần tập trung vào việc làm rõ các loại tài sản bảo đảm là động sản. Đồng thời, cải thiện quy trình xử lý tài sản bảo đảm để tăng tính hiệu quả và công bằng.

4.1. Xây dựng pháp luật rõ ràng minh bạch.

Pháp luật cần được xây dựng rõ ràng, dễ hiểu. Các quy định về giao dịch bảo đảm bằng động sản phải chi tiết. Đặc tính của từng loại động sản cần được xem xét. Điều này giúp ngân hàng và doanh nghiệp dễ dàng áp dụng. Nó cũng giảm thiểu các hiểu lầm và tranh chấp phát sinh. Các điều khoản liên quan đến thế chấp động sảncầm cố động sản phải cụ thể hơn.

4.2. Cải thiện cơ chế đăng ký và xử lý tài sản bảo đảm.

Một cơ chế đăng ký giao dịch bảo đảm hiệu quả là rất quan trọng. Nó đảm bảo hiệu lực đối kháng người thứ ba và xác định thứ tự ưu tiên thanh toán. Quy trình xử lý tài sản bảo đảm cần được tối ưu hóa. Điều này giúp thu hồi nợ nhanh chóng và minh bạch hơn. Cần tăng cường ứng dụng công nghệ trong hệ thống đăng ký.

4.3. Nâng cao nhận thức và áp dụng hiệu quả.

Cần có các chương trình đào tạo và hướng dẫn. Ngân hàng, doanh nghiệp và các cơ quan liên quan cần hiểu rõ pháp luật mới. Nâng cao nhận thức về lợi ích của biện pháp bảo đảm bằng động sản. Việc áp dụng đúng và hiệu quả các quy định sẽ thúc đẩy tín dụng. Nó góp phần vào sự phát triển kinh tế bền vững.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luan an truong tuyet minh

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (170 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

Tính cấp thiết của đề tài Nếu như tín nhiệm là một trong những thành tố trụ cột của tín dụng ngân hàng, thì bảo đảm cho khoản vay là một trong những cấu phần quan trọng của tín nhiệm. Mức độ quan trọng này không chỉ dừng lại ở tính chất là một biện pháp phòng ngừa rủi ro, mà còn cơ chế thúc đẩy tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại trong nền kinh tế. Theo tổng kết của World Bank 2018, hơn 80% giá trị vốn của các doanh nghiệp tại các nền kinh tế đang phát triển là từ động sản như: máy móc, thiết bị, các khoản phải thu 1. Tuy nhiên, trên thực tế (cũng theo báo cáo này), việc thiếu vắng hoặc sự chưa hoàn thiện của hệ thống pháp luật là một trong những nguyên nhân căn bản khiến các NH ở các quốc gia này còn lưỡng lự và chưa sẵn sàng nhận ĐS để BĐ cho khoản vay.

Thực tiễn hoạt động cấp tín dụng tại các NHTM ở VN, trong hơn 3 thập kỷ vừa qua, cho phép đưa ra một nhận định tương tự. So với BĐS, cấp tín dụng BĐ bằng ĐS, mặc dù có sự tăng trưởng nhất định, nhưng vẫn chiếm một tỷ lệ khiêm tốn trong hoạt động của các NHTM ở VN2. Trong khi đó, cấp tín dụng trên cơ sở BĐ bằng BĐS, không hoàn toàn bảo đảm an toàn cho hoạt động tín dụng NH ở VN. Khi trực tiếp khảo sát hệ thống NHTM ở VN, một 3 số nhà nghiên cứu kinh tế cũng đưa ra kết luận này.

Thống kê của NHNN VN, cũng cho thấy, trong giai đoạn 2016-2020, tổng số nợ xấu của các NHTM vào khoảng 300. Khoảng 70% tài sản bảo đảm cho các khoản nợ xấu này là BĐS. Hoàn thiện PL về GDBĐ bằng ĐS là một trong những cơ sở để bảo vệ, thúc đẩy, dung hòa quyền và lợi ích của nhiều chủ thể trong nền kinh tế, duy trì một trật tự kinh doanh lành mạnh và hiệu quả. 1 World Bank (2018), Improving access to finance for small and medium enterprises, http://documents1.org/curated/en/316871533711048308/pdf/129283-WP-PUBLIC-improving-access- to-finance-for-SMEs.pdf 2 Theo thống kê từ báo cáo kiểm toán của 19 ngân hàng trong năm 2019 thì tỷ lệ tài sản bảo đảm bằng bất động sản vẫn chiếm tỷ trọng ưu thế hơn hẳn so với tài sản bảo đảm là động sản, xem tại https://vietnambiz.vn/khoi-bds-khong-lo-the-chap-tai-19- ngan-hang-co-gia-tri-hon-63-trieu-ti-dong- htm truy cập lúc 12: 30 ngày 29/11/2019 3 Nghiên cứu của nhóm tác giả do GS TS Nguyễn Thị Cành chủ biên, tiếp cận mô hình logistic trong đo lường rủi ro tín dụng của khách hàng doanh nghiệp tại NH thương mại ở VN cũng có kết luận tương tự khi xác định rằng, ngành bất động sản- xây dựng là ngành gây rủi ro tín dụng lớn nhất đối với hệ thống NHTM VN.

Xem thêm Nguyễn Thị Cành (chủ biên) (2015), sách chuyên khảo: Hiệu quả và rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Nghiên cứu tình huống các ngân hàng thương mại Việt Nam, nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh. Lâm Chí Dũng và Phan Đình Anh (2009), “Sử dụng mô hình KMV- Merton lượng hóa mối quan hệ giữa bảo đảm tài sản, tỷ lệ phân bổ vốn vay với rủi ro tín dụng”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng số 2(31). Công trình này đã sử dụng mô hình KMV để định lượng rủi ro tín dụng trong việc sử dụng tài sản bảo đảm gắn với hành vi sử dụng vốn của người vay thông qua khảo sát các biến: tỷ lệ vốn cho vay tối đa trên giá trị tài sản bảo đảm, mục đích sử dụng vốn vay, số lần vay vốn của người vay hay độ trễ của các phương án, số lần người vay sử dụng tài sản hình thành từ vốn vay làm tài sản BĐ.

Nghiên cứu cũng chỉ ra việc nhận BĐ bằng bất động sản là một trong những yếu tố có hệ số rủi ro tín dụng cao.vn/khoang-70-tai-san-bao-dam-cho-cac-khoan-no-xau-cua-ngan-hang-la- bat-dong-san- chn 2 Thứ nhất, ở góc độ của NHTM, sự chưa hoàn thiện, của PL về GDBĐ đối với ĐS là một trong những nguyên nhân NH vẫn dè dặt cấp tín dụng nhận BĐ bằng ĐS. Nhu cầu của các chủ thể trong GD, đặc tính của ĐS và sự ảnh hưởng của những đặc tính đó trong GDBĐ, chưa được ghi nhận một cách phù hợp trong quy định PL về GDBĐ bằng ĐS. dẫn đến vướng mắc, khó khăn trong quá trình áp dụng và ảnh hưởng đến hiệu lực thực thi GDBĐ bằng ĐS tại các NHTM. Một hệ thống quy định PL về GDBĐ bằng ĐS rõ ràng, minh bạch, sẽ là cơ sở để NH cấp tín dụng nhận BĐ bằng ĐS, giảm chi phí GD, hạn chế tranh chấp, góp phần giảm nợ xấu của NHTM và hoạt động NH.

Thứ hai, ở góc độ bên vay, sẽ là một mâu thuẫn lớn nếu một doanh nghiệp với nhiều tài sản là ĐS có giá trị lại không thể vay được vốn của NH. Đồng nghĩa là, doanh nghiệp không thể tối đa hóa được giá trị kinh tế của tài sản mà họ sở hữu. Chi phí cho vốn cao hơn mức đáng lẽ có thể, dẫn đến giá thành của sản phẩm tăng. Điều này không có lợi cho người tiêu dùng, cho nhà sản xuất và cho sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Thứ ba, ở góc độ của các chủ thể không tham gia GDBĐ nhưng có lợi ích liên quan đến ĐS, cũng cần thiết xây dựng một hệ thống quy định PL về GDBĐ bằng ĐS minh bạch, dự liệu được những trường hợp phát sinh xung đột lợi ích giữa nhiều chủ thể cùng có lợi ích liên quan đến ĐS và một trật tự công bằng để giải quyết các xung đột đó. Thứ tư, ở góc độ tổng thể, với đặc thù là nền kinh tế đang phát triển, số lượng các doanh 5 nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng lớn , thì hiện tượng NH ưu tiên nhận BĐ bằng BĐS là một trở ngại trong việc tiếp cận tín dụng NH của các doanh nghiệp VN. Thống kê của Forbes VN 2020, cho thấy, dư nợ tăng trưởng tín dụng trong 6 tháng đầu năm 2020 của doanh nghiệp 6 vừa và nhỏ chỉ ở mức 1%, trong so sánh với mức 6% đối của các doanh nghiệp lớn. Vai trò khiêm tốn của ĐS BĐ trong hoạt động NH, thực sự, là một lực cản đối với một nền kinh tế bởi bất động sản không thể sản sinh những giá trị mới nhưng tài sản trí tuệ, khoản phải thu, quyền tài sản, máy móc, thiết bị, phương tiện, vật tư – những biểu hiện đa dạng của ĐS, là liều thuốc cần cho sự phát triển của kinh tế hiện đại.

Vì vậy, một trong những yêu cầu đặt ra đối với PL về GDBĐ là: phản ánh được những đặc trưng của ĐS cũng như nhu cầu nội tại của các chủ thể trong quan hệ PL GDBĐ, định hình các cơ chế pháp lý phù hợp để nâng cao hiệu quả thực thi của GDBĐ bằng ĐS trong 5 Theo sách trắng doanh nghiệp 2020, khu vực doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ và nhỏ có số lượng doanh nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất. Tại thời điểm 31/12/2018 có 382.444 doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ, chiếm 62,6% số doanh nghiệp cả nước; có 189.879 doanh nghiệp quy mô nhỏ, chiếm 31,1%, có 21.306 doanh nghiệp quy mô vừa, chiếm 3,5%; có 17.008 doanh nghiệp quy mô lớn, chỉ chiếm 2,8%. Xem thêm https://gso.aspx?tabid=382&idmid=2&ItemID=19594 truy cập 29/9/2020 lúc 21:05’ Trong các năm 2018, 2019, 2020, do một số tiêu chí thay đổi nên các đối tượng nghiên cứu được phân chia thành ba khu vực: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài nhà nước và khu vực doanh nghiệp FDI. Theo Thống kê của tổng cục thống kê tại sách trắng doanh nghiệp Việt Nam 2020, tỷ lệ doanh nghiệp ngoài nhà nước 591.499 doanh nghiệp, chiếm 96,9% số doanh nghiệp cả nước.

Xem tại: http://trungtamwto.vn/an-pham/15319-sach-trang-doanh-nghiep-viet-nam-nam-2020 truy cập lúc 18: 14’ ngày 21/5/2020.vn/tin-cap-nhat/no-xau-nha-bang-sau-thang-to-dan-12669.html truy cập ngày 2/9/2020 lúc 18: 05’ 3 hoạt động NH và tạo lập một văn hóa pháp lý về nội dung này. Không phải ngẫu nhiên, mà trong những năm gần đây, PL về GDBĐ của nhiều quốc gia (kể cả những quốc gia trong hệ thống Civil Law), đã có nhiều thay đổi, cải cách, để phù hợp với xu hướng lập pháp chung của thế giới và tiệm cận đến một số chuẩn mực chung của 7 PL về GDBĐ bằng ĐS. Các hội thảo, diễn đàn kinh tế và pháp lý từ Hoa Kỳ, Châu Âu, 8 Châu Á, Châu Phi về GDBĐ là minh chứng rõ nhất của xu hướng này. Ở góc độ khoa học pháp lý, các nghiên cứu về PL GDBĐ bằng ĐS áp dụng trong quan hệ tín dụng NH, đến nay, vẫn còn khiêm tốn so với các nghiên cứu về GDBĐ trong PL dân sự và nghiên cứu về GDBĐ bằng BĐS.

Mặc dù là một chế định xuất phát từ PL dân sự, song các quy định về GDBĐ bằng ĐS áp dụng trong hoạt động NH, có những đặc trưng và yêu cầu riêng. Vì vậy, việc xây dựng cơ sở lý luận và hệ thống tiêu chí đánh giá, từ đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện PL và giải pháp tổ chức thực hiện PL GDBĐ bằng ĐS trong hoạt động NH là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Từ những lý do như trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Pháp luật về giao dịch bảo đảm bằng động sản tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam” để thực hiện luận án tiến sĩ luật học. Tên đề tài “Pháp luật về GDBĐ bằng ĐS tại các NHTM ở VN” trong phạm vi nghiên cứu này, được hiểu là các GDBĐ bằng ĐS nhằm bảo đảm cho nghĩa 9 vụ của bên vay với NH, phát sinh trong hoạt động cho vay của các NHTM.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2.1 Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu là nhằm làm rõ, đánh giá và bổ sung những luận cứ khoa học về GDBĐ bằng ĐS tại NHTM; đánh giá thực tiễn của pháp luật về GDBĐ bằng ĐS; trên cơ sở đó, tìm ra những vướng mắc, bất cập và các nguyên nhân của sự bất cập trong 7 Tajti Tibor (2013), Post-1990 Secured Transaction Law Reforms in Central and Eastern Europe, Szegedi Közjegyzői Közlöny Vol 2 the 3rd and 4th issue 8 Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra vai trò quyết định của tín dụng với tăng trưởng kinh tế. Các nghiên cứu của King and Levine (1993), Levine and Zervos (1998), La Porta et al (1997, 1998) và sau này là Wurgler (2000), Cetorelli and Gamberra (2001), Fisman and Love (2004), and Beck et al. Một số nghiên cứu đưa ra kết luận: tỷ lệ cho vay dựa trên giá trị với tài sản bảo đảm là động sản tỷ lệ thuận với mức độ bảo vệ quyền của chủ nợ. Ở những quốc gia có hệ thống quy định PL bảo vệ chủ nợ mạnh thì tỷ lệ cho vay trên cơ sở bảo đảm bằng ĐS cao hơn những nước có hệ thống quy định yếu hơn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm bằng động sản (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/luat-hoc/hoan-thien-phap-luat-ve-bao-dam-bang-dong-san

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm bằng động sản" nghiên cứu về vấn đề gì?

Phân tích & đề xuất hoàn thiện pháp luật bảo đảm bằng động sản. Nâng cao hiệu quả giao dịch, bảo vệ quyền lợi các bên liên quan.

Luận án "Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm bằng động sản" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm bằng động sản" thuộc chuyên ngành Pháp luật. Danh mục: Luật Học.

Luận án "Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm bằng động sản" có bao nhiêu trang?

Luận án "Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm bằng động sản" có 170 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Hoàn thiện pháp luật về bảo đảm bằng động sản" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter