Luận án: Hoàn thiện pháp luật về giao dịch bảo đảm bằng động sản tại NHTM Việt Nam

Luận án TS pháp luật: Giao dịch bảo đảm bằng động sản tại NHTM VN. Phân tích sâu, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi.

Chuyên ngành
Luật Kinh tế
Tác giả

Luan An

Thể loại

Luận án tiến sĩ

Số trang

170

Thời gian đọc

26 phút

Lượt xem

0

Lượt tải

0

Phí lưu trữ

50 Point

Tổng quan nhanh

Chủ đề:
Giao dịch bảo đảm động sản: Tầm quan trọng đối với tín dụng ngân hàng
Số trang:
170 trang
Chuyên ngành:
Luật Kinh tế
Tác giả:

Tóm tắt nội dung luận án

I.Giao dịch bảo đảm động sản Tầm quan trọng đối với tín dụng ngân hàng

Tín nhiệm là trụ cột của tín dụng ngân hàng. Bảo đảm khoản vay là cấu phần quan trọng của tín nhiệm. Biện pháp này không chỉ phòng ngừa rủi ro. Cơ chế này còn thúc đẩy tín dụng hệ thống NHTM. Động sản chiếm hơn 80% giá trị vốn của doanh nghiệp tại các nền kinh tế đang phát triển. Máy móc, thiết bị, khoản phải thu là các ví dụ điển hình. Tài liệu cho thấy tiềm năng lớn của động sản. Tuy nhiên, Việt Nam chưa khai thác hết tiềm năng này. Thực tiễn hoạt động cấp tín dụng ở NHTM Việt Nam cho thấy sự dè dặt. So với bất động sản, cấp tín dụng bảo đảm bằng động sản có tỷ lệ khiêm tốn. Điều này ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp. Nền kinh tế cần tận dụng tối đa giá trị tài sản này.

1.1. Vai trò của tài sản bảo đảm trong tín dụng ngân hàng

Bảo đảm khoản vay là yếu tố thiết yếu. Yếu tố này giúp giảm rủi ro cho ngân hàng. Tín dụng ngân hàng được duy trì ổn định. Ngân hàng có thể tự tin hơn khi cấp vốn. Hệ thống tín dụng được củng cố. Tính an toàn cho các khoản vay được nâng cao. Điều này thúc đẩy sự phát triển của hoạt động tín dụng.

1.2. Động sản Nguồn vốn tiềm năng cho doanh nghiệp

Động sản là tài sản có giá trị lớn. Các tài sản này bao gồm máy móc, thiết bị, hàng tồn kho. Chúng là tài sản chính của nhiều doanh nghiệp. Đặc biệt, doanh nghiệp nhỏ và vừa thường có nhiều động sản. Việc sử dụng động sản làm tài sản bảo đảm mở rộng khả năng vay vốn. Doanh nghiệp có thể tối đa hóa giá trị kinh tế của tài sản. Nguồn lực kinh tế được huy động hiệu quả hơn.

II.Thực trạng sử dụng động sản làm tài sản bảo đảm tại NHTM Việt Nam

Tại Việt Nam, cấp tín dụng bảo đảm bằng động sản còn hạn chế. So với bất động sản, tỷ lệ động sản rất khiêm tốn. Điều này diễn ra trong hơn ba thập kỷ qua. Ngược lại, cấp tín dụng trên cơ sở bất động sản vẫn chiếm ưu thế. Tuy nhiên, bất động sản không hoàn toàn đảm bảo an toàn. Hoạt động tín dụng ngân hàng đối mặt rủi ro. Khảo sát hệ thống NHTM Việt Nam xác nhận điều này. Một số nghiên cứu cũng kết luận tương tự. Ngành bất động sản-xây dựng gây rủi ro lớn. Dữ liệu của NHNN Việt Nam cung cấp bằng chứng. Tổng số nợ xấu giai đoạn 2016-2020 là khoảng 300 nghìn tỷ đồng. Khoảng 70% tài sản bảo đảm cho các khoản nợ xấu là bất động sản. Sự phụ thuộc quá mức vào bất động sản tạo ra điểm yếu. Nhu cầu hoàn thiện pháp luật về giao dịch bảo đảm bằng động sản là cấp thiết.

2.1. Tỷ lệ thấp của động sản trong tài sản bảo đảm

Các ngân hàng Việt Nam ưu tiên bất động sản. Động sản ít được chấp nhận làm tài sản bảo đảm. Thống kê năm 2019 cho thấy điều này. Tỷ trọng bất động sản áp đảo so với động sản. Điều này hạn chế cơ hội vay vốn cho nhiều doanh nghiệp. Đặc biệt là các doanh nghiệp sở hữu nhiều động sản giá trị.

2.2. Nợ xấu và rủi ro tín dụng từ tài sản bảo đảm bất động sản

Bất động sản không phải là tài sản bảo đảm hoàn hảo. Nợ xấu liên quan đến bất động sản rất cao. Khoảng 70% nợ xấu ngân hàng được bảo đảm bằng bất động sản. Con số này từ giai đoạn 2016-2020. Nghiên cứu chỉ ra ngành bất động sản-xây dựng gây rủi ro tín dụng lớn nhất. Điều này cho thấy sự cần thiết của đa dạng hóa tài sản bảo đảm.

III.Rào cản pháp lý Rủi ro tín dụng khi thế chấp động sản

Khung pháp luật về giao dịch bảo đảm bằng động sản chưa hoàn thiện. Đây là nguyên nhân khiến các NHTM dè dặt. Ngân hàng không sẵn lòng nhận động sản làm bảo đảm. Nhu cầu giao dịch của các chủ thể chưa được đáp ứng. Đặc tính riêng của động sản chưa được ghi nhận phù hợp. Quy định pháp luật chưa phản ánh đúng thực tế. Điều này dẫn đến nhiều vướng mắc. Khó khăn phát sinh trong quá trình áp dụng pháp luật. Hiệu lực thực thi giao dịch bảo đảm bằng động sản bị ảnh hưởng. Sự thiếu minh bạch làm tăng chi phí giao dịch. Tranh chấp có thể xảy ra thường xuyên hơn. Ngân hàng đối mặt với rủi ro tín dụng cao hơn. Cần một hệ thống pháp luật rõ ràng, minh bạch. Hệ thống này sẽ làm cơ sở cho ngân hàng cấp tín dụng. Việc này giúp giảm chi phí, hạn chế tranh chấp. Đồng thời góp phần giảm nợ xấu của NHTM.

3.1. Hạn chế của khung pháp lý về thế chấp động sản

Pháp luật hiện hành còn nhiều khoảng trống. Các quy định về thế chấp động sản chưa đầy đủ. Đặc điểm riêng của từng loại động sản chưa được xem xét. Điều này gây khó khăn cho việc định giá. Việc đăng ký giao dịch bảo đảm cũng gặp vướng mắc. Ngân hàng không có đủ cơ sở pháp lý vững chắc. Ngân hàng ngại rủi ro khi nhận động sản làm tài sản bảo đảm.

3.2. Ảnh hưởng đến chi phí giao dịch và hiệu lực thực thi

Sự không rõ ràng của pháp luật làm tăng chi phí. Ngân hàng phải tốn nhiều nguồn lực để thẩm định. Chi phí quản lý tài sản bảo đảm cũng tăng. Quá trình xử lý tài sản bảo đảm khi có nợ xấu phức tạp. Hiệu lực thực thi giao dịch bảo đảm giảm sút. Các tranh chấp về quyền sở hữu dễ phát sinh. Điều này làm giảm hiệu quả hoạt động tín dụng. Ngân hàng phải đối mặt với rủi ro tín dụng cao hơn.

IV.Tối ưu hóa giá trị động sản Giảm nợ xấu ngân hàng

Doanh nghiệp sở hữu nhiều động sản giá trị nhưng khó vay vốn. Đây là một mâu thuẫn lớn. Doanh nghiệp không thể tối đa hóa giá trị kinh tế của tài sản. Nguồn lực bị bỏ phí hoặc sử dụng kém hiệu quả. Chi phí vốn của doanh nghiệp tăng cao hơn mức cần thiết. Điều này dẫn đến giá thành sản phẩm tăng. Người tiêu dùng phải trả giá cao hơn. Nhà sản xuất giảm khả năng cạnh tranh. Sức cạnh tranh tổng thể của nền kinh tế bị ảnh hưởng. Một hệ thống pháp luật rõ ràng về động sản sẽ giải quyết vấn đề này. Hệ thống này giúp doanh nghiệp tiếp cận vốn dễ dàng hơn. Ngân hàng có thể đa dạng hóa danh mục tài sản bảo đảm. Đồng thời giảm thiểu rủi ro tập trung vào một loại tài sản. Kết quả là giảm nợ xấu và tăng cường sức khỏe ngân hàng.

4.1. Hạn chế khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp

Nhiều doanh nghiệp phụ thuộc vào động sản. Các tài sản này là máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải. Nhưng ngân hàng ít chấp nhận chúng làm bảo đảm. Doanh nghiệp thiếu vốn để mở rộng sản xuất. Khả năng phát triển bị kìm hãm. Sự tăng trưởng của nền kinh tế cũng bị ảnh hưởng.

4.2. Tác động đến nền kinh tế và sức cạnh tranh

Chi phí vốn cao làm tăng giá thành sản phẩm. Sản phẩm Việt Nam khó cạnh tranh với hàng hóa nước ngoài. Doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc đổi mới công nghệ. Năng suất lao động khó cải thiện. Tổng thể nền kinh tế chậm phát triển. Cần có cơ chế khuyến khích sử dụng động sản. Điều này sẽ thúc đẩy tăng trưởng và nâng cao sức cạnh tranh.

V.Hoàn thiện pháp luật về giao dịch bảo đảm bằng động sản

Hoàn thiện pháp luật về giao dịch bảo đảm bằng động sản là cần thiết. Khung pháp lý cần minh bạch, rõ ràng. Điều này bảo vệ và thúc đẩy lợi ích các chủ thể. Ngân hàng sẽ giảm chi phí giao dịch. Rủi ro tín dụng được hạn chế. Bên vay có nhiều cơ hội tiếp cận vốn hơn. Các chủ thể liên quan cũng được bảo vệ. Một trật tự kinh doanh lành mạnh được thiết lập. Pháp luật cần dự liệu các xung đột lợi ích. Cơ chế giải quyết xung đột phải công bằng. Điều này đảm bảo tính ổn định và hiệu quả của hệ thống. Đây là yếu tố quan trọng cho nền kinh tế đang phát triển của Việt Nam. Hệ thống pháp luật đồng bộ sẽ tạo động lực mới. Nguồn lực động sản được khai thác tối đa.

5.1. Lợi ích cho ngân hàng và người vay vốn

Ngân hàng có cơ sở pháp lý vững chắc. Ngân hàng tự tin hơn khi nhận thế chấp động sản. Chi phí thẩm định và xử lý tài sản giảm. Khả năng thu hồi nợ được cải thiện, giảm nợ xấu. Người vay có thêm lựa chọn tài sản bảo đảm. Doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận nguồn vốn. Điều này thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh.

5.2. Đảm bảo công bằng và trật tự kinh doanh lành mạnh

Một hệ thống pháp luật rõ ràng tạo sự công bằng. Quyền và lợi ích của các bên được cân bằng. Ngăn ngừa các tranh chấp phát sinh. Giải quyết xung đột hiệu quả khi có. Thị trường tín dụng minh bạch hơn. Điều này thu hút đầu tư và tăng trưởng kinh tế.

Xem trước tài liệu
Tải đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Luận án tiến sĩ pháp luật về giao dịch bảo đảm bằng động sản tại các ngân hàng thương mại ở việt nam

Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung

Tải đầy đủ (170 trang)

Trích đoạn nội dung luận án

Tải xuống để đọc toàn bộ

Tính cấp thiết của đề tài Nếu như tín nhiệm là một trong những thành tố trụ cột của tín dụng ngân hàng, thì bảo đảm cho khoản vay là một trong những cấu phần quan trọng của tín nhiệm. Mức độ quan trọng này không chỉ dừng lại ở tính chất là một biện pháp phòng ngừa rủi ro, mà còn cơ chế thúc đẩy tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại trong nền kinh tế. Theo tổng kết của World Bank 2018, hơn 80% giá trị vốn của các doanh nghiệp tại các nền kinh tế đang phát triển là từ động sản như: máy móc, thiết bị, các khoản phải thu1. Tuy nhiên, trên thực tế (cũng theo báo cáo này), việc thiếu vắng hoặc sự chưa hoàn thiện của hệ thống pháp luật là một trong những nguyên nhân căn bản khiến các NH ở các quốc gia này còn lưỡng lự và chưa sẵn sàng nhận ĐS để BĐ cho khoản vay.

Thực tiễn hoạt động cấp tín dụng tại các NHTM ở VN, trong hơn 3 thập kỷ vừa qua, cho phép đưa ra một nhận định tương tự. So với BĐS, cấp tín dụng BĐ bằng ĐS, mặc dù có sự tăng trưởng nhất định, nhưng vẫn chiếm một tỷ lệ khiêm tốn trong hoạt động của các NHTM ở VN 2. Trong khi đó, cấp tín dụng trên cơ sở BĐ bằng BĐS, không hoàn toàn bảo đảm an toàn cho hoạt động tín dụng NH ở VN. Khi trực tiếp khảo sát hệ thống NHTM ở VN, một số nhà nghiên cứu kinh tế cũng đưa ra kết luận này3.

Thống kê của NHNN VN, cũng cho thấy, trong giai đoạn 2016-2020, tổng số nợ xấu của các NHTM vào khoảng 300. Khoảng 70% tài sản bảo đảm cho các khoản nợ xấu này là BĐS 4. Hoàn thiện PL về GDBĐ bằng ĐS là một trong những cơ sở để bảo vệ, thúc đẩy, dung hòa quyền và lợi ích của nhiều chủ thể trong nền kinh tế, duy trì một trật tự kinh doanh lành mạnh và hiệu quả. 1 World Bank (2018), Improving access to finance for small and medium enterprises, http://documents1.org/curated/en/316871533711048308/pdf/129283-WP-PUBLIC-improving-access-to-finance- for-SMEs.pdf 2 Theo thống kê từ báo cáo kiểm toán của 19 ngân hàng trong năm 2019 thì tỷ lệ tài sản bảo đảm bằng bất động sản vẫn chiếm tỷ trọng ưu thế hơn hẳn so với tài sản bảo đảm là động sản, xem tại https://vietnambiz.vn/khoi-bds-khong-lo-the-chap- tai-19-ngan-hang-co-gia-tri-hon-63-trieu-ti-dong- htm truy cập lúc 12: 30 ngày 29/11/2019 3 Nghiên cứu của nhóm tác giả do GS TS Nguyễn Thị Cành chủ biên, tiếp cận mô hình logistic trong đo lường rủi ro tín dụng của khách hàng doanh nghiệp tại NH thương mại ở VN cũng có kết luận tương tự khi xác định rằng, ngành bất động sản- xây dựng là ngành gây rủi ro tín dụng lớn nhất đối với hệ thống NHTM VN.

Xem thêm Nguyễn Thị Cành (chủ biên) (2015), sách chuyên khảo: Hiệu quả và rủi ro trong hoạt động ngân hàng. Nghiên cứu tình huống các ngân hàng thương mại Việt Nam, nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh. Lâm Chí Dũng và Phan Đình Anh (2009), “Sử dụng mô hình KMV- Merton lượng hóa mối quan hệ giữa bảo đảm tài sản, tỷ lệ phân bổ vốn vay với rủi ro tín dụng”, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng số 2(31). Công trình này đã sử dụng mô hình KMV để định lượng rủi ro tín dụng trong việc sử dụng tài sản bảo đảm gắn với hành vi sử dụng vốn của người vay thông qua khảo sát các biến: tỷ lệ vốn cho vay tối đa trên giá trị tài sản bảo đảm, mục đích sử dụng vốn vay, số lần vay vốn của người vay hay độ trễ của các phương án, số lần người vay sử dụng tài sản hình thành từ vốn vay làm tài sản BĐ.

Nghiên cứu cũng chỉ ra việc nhận BĐ bằng bất động sản là một trong những yếu tố có hệ số rủi ro tín dụng cao.vn/khoang-70-tai-san-bao-dam-cho-cac-khoan-no-xau-cua-ngan-hang-la-bat-dong-san- chn U LUAN MOI download : skknchat@gmail.com luan an tien si downlo 2 Thứ nhất, ở góc độ của NHTM, sự chưa hoàn thiện, của PL về GDBĐ đối với ĐS là một trong những nguyên nhân NH vẫn dè dặt cấp tín dụng nhận BĐ bằng ĐS. Nhu cầu của các chủ thể trong GD, đặc tính của ĐS và sự ảnh hưởng của những đặc tính đó trong GDBĐ, chưa được ghi nhận một cách phù hợp trong quy định PL về GDBĐ bằng ĐS. dẫn đến vướng mắc, khó khăn trong quá trình áp dụng và ảnh hưởng đến hiệu lực thực thi GDBĐ bằng ĐS tại các NHTM. Một hệ thống quy định PL về GDBĐ bằng ĐS rõ ràng, minh bạch, sẽ là cơ sở để NH cấp tín dụng nhận BĐ bằng ĐS, giảm chi phí GD, hạn chế tranh chấp, góp phần giảm nợ xấu của NHTM và hoạt động NH.

Thứ hai, ở góc độ bên vay, sẽ là một mâu thuẫn lớn nếu một doanh nghiệp với nhiều tài sản là ĐS có giá trị lại không thể vay được vốn của NH. Đồng nghĩa là, doanh nghiệp không thể tối đa hóa được giá trị kinh tế của tài sản mà họ sở hữu. Chi phí cho vốn cao hơn mức đáng lẽ có thể, dẫn đến giá thành của sản phẩm tăng. Điều này không có lợi cho người tiêu dùng, cho nhà sản xuất và cho sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Thứ ba, ở góc độ của các chủ thể không tham gia GDBĐ nhưng có lợi ích liên quan đến ĐS, cũng cần thiết xây dựng một hệ thống quy định PL về GDBĐ bằng ĐS minh bạch, dự liệu được những trường hợp phát sinh xung đột lợi ích giữa nhiều chủ thể cùng có lợi ích liên quan đến ĐS và một trật tự công bằng để giải quyết các xung đột đó. Thứ tư, ở góc độ tổng thể, với đặc thù là nền kinh tế đang phát triển, số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng lớn5, thì hiện tượng NH ưu tiên nhận BĐ bằng BĐS là một trở ngại trong việc tiếp cận tín dụng NH của các doanh nghiệp VN. Thống kê của Forbes VN 2020, cho thấy, dư nợ tăng trưởng tín dụng trong 6 tháng đầu năm 2020 của doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ ở mức 1%, trong so sánh với mức 6% đối của các doanh nghiệp lớn6. Vai trò khiêm tốn của ĐS BĐ trong hoạt động NH, thực sự, là một lực cản đối với một nền kinh tế bởi bất động sản không thể sản sinh những giá trị mới nhưng tài sản trí tuệ, khoản phải thu, quyền tài sản, máy móc, thiết bị, phương tiện, vật tư – những biểu hiện đa dạng của ĐS, là liều thuốc cần cho sự phát triển của kinh tế hiện đại.

Vì vậy, một trong những yêu cầu đặt ra đối với PL về GDBĐ là: phản ánh được những đặc trưng của ĐS cũng như nhu cầu nội tại của các chủ thể trong quan hệ PL GDBĐ, định hình các cơ chế pháp lý phù hợp để nâng cao hiệu quả thực thi của GDBĐ bằng ĐS trong 5 Theo sách trắng doanh nghiệp 2020, khu vực doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ và nhỏ có số lượng doanh nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất. Tại thời điểm 31/12/2018 có 382.444 doanh nghiệp quy mô siêu nhỏ, chiếm 62,6% số doanh nghiệp cả nước; có 189.879 doanh nghiệp quy mô nhỏ, chiếm 31,1%, có 21.306 doanh nghiệp quy mô vừa, chiếm 3,5%; có 17.008 doanh nghiệp quy mô lớn, chỉ chiếm 2,8%. Xem thêm https://gso.aspx?tabid=382&idmid=2&ItemID=19594 truy cập 29/9/2020 lúc 21:05’ Trong các năm 2018, 2019, 2020, do một số tiêu chí thay đổi nên các đối tượng nghiên cứu được phân chia thành ba khu vực: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài nhà nước và khu vực doanh nghiệp FDI. Theo Thống kê của tổng cục thống kê tại sách trắng doanh nghiệp Việt Nam 2020, tỷ lệ doanh nghiệp ngoài nhà nước 591.499 doanh nghiệp, chiếm 96,9% số doanh nghiệp cả nước.

Xem tại: http://trungtamwto.vn/an-pham/15319-sach-trang-doanh-nghiep-viet-nam-nam-2020 truy cập lúc 18: 14’ ngày 21/5/2020.vn/tin-cap-nhat/no-xau-nha-bang-sau-thang-to-dan-12669.html truy cập ngày 2/9/2020 lúc 18: 05’ U LUAN MOI download : skknchat@gmail.com luan an tien si downlo 3 hoạt động NH và tạo lập một văn hóa pháp lý về nội dung này. Không phải ngẫu nhiên, mà trong những năm gần đây, PL về GDBĐ của nhiều quốc gia (kể cả những quốc gia trong hệ thống Civil Law), đã có nhiều thay đổi, cải cách, để phù hợp với xu hướng lập pháp chung của thế giới và tiệm cận đến một số chuẩn mực chung của PL về GDBĐ bằng ĐS7. Các hội thảo, diễn đàn kinh tế và pháp lý từ Hoa Kỳ, Châu Âu, Châu Á, Châu Phi về GDBĐ là minh chứng rõ nhất của xu hướng này8. Ở góc độ khoa học pháp lý, các nghiên cứu về PL GDBĐ bằng ĐS áp dụng trong quan hệ tín dụng NH, đến nay, vẫn còn khiêm tốn so với các nghiên cứu về GDBĐ trong PL dân sự và nghiên cứu về GDBĐ bằng BĐS.

Mặc dù là một chế định xuất phát từ PL dân sự, song các quy định về GDBĐ bằng ĐS áp dụng trong hoạt động NH, có những đặc trưng và yêu cầu riêng. Vì vậy, việc xây dựng cơ sở lý luận và hệ thống tiêu chí đánh giá, từ đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện PL và giải pháp tổ chức thực hiện PL GDBĐ bằng ĐS trong hoạt động NH là một yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Từ những lý do như trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Pháp luật về giao dịch bảo đảm bằng động sản tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam” để thực hiện luận án tiến sĩ luật học. Tên đề tài “Pháp luật về GDBĐ bằng ĐS tại các NHTM ở VN” trong phạm vi nghiên cứu này, được hiểu là các GDBĐ bằng ĐS nhằm bảo đảm cho nghĩa vụ của bên vay với NH, phát sinh trong hoạt động cho vay của các NHTM.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 2.1 Mục đích nghiên cứu Mục đích nghiên cứu là nhằm làm rõ, đánh giá và bổ sung những luận cứ khoa học về GDBĐ bằng ĐS tại NHTM; đánh giá thực tiễn của pháp luật về GDBĐ bằng ĐS; trên cơ sở đó, tìm ra những vướng mắc, bất cập và các nguyên nhân của sự bất cập trong 7 Tajti Tibor (2013), Post-1990 Secured Transaction Law Reforms in Central and Eastern Europe, Szegedi Közjegyzői Közlöny Vol 2 the 3rd and 4th issue 8 Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra vai trò quyết định của tín dụng với tăng trưởng kinh tế. Các nghiên cứu của King and Levine (1993), Levine and Zervos (1998), La Porta et al (1997, 1998) và sau này là Wurgler (2000), Cetorelli and Gamberra (2001), Fisman and Love (2004), and Beck et al. Một số nghiên cứu đưa ra kết luận: tỷ lệ cho vay dựa trên giá trị với tài sản bảo đảm là động sản tỷ lệ thuận với mức độ bảo vệ quyền của chủ nợ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Trích dẫn luận án này

Giao dịch bảo đảm bằng động sản tại NHTM Việt Nam (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/luat-hoc/giao-dich-bao-dam-dong-san-ngan-hang-thuong-mai-viet-nam

Câu hỏi thường gặp

Luận án "Giao dịch bảo đảm bằng động sản tại NHTM Việt Nam" nghiên cứu về vấn đề gì?

Luận án TS pháp luật: Giao dịch bảo đảm bằng động sản tại NHTM VN. Phân tích sâu, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi.

Luận án "Giao dịch bảo đảm bằng động sản tại NHTM Việt Nam" thuộc chuyên ngành gì?

Luận án "Giao dịch bảo đảm bằng động sản tại NHTM Việt Nam" thuộc chuyên ngành Luật kinh tế. Danh mục: Luật Học.

Luận án "Giao dịch bảo đảm bằng động sản tại NHTM Việt Nam" có bao nhiêu trang?

Luận án "Giao dịch bảo đảm bằng động sản tại NHTM Việt Nam" có 170 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.

Cách tải luận án "Giao dịch bảo đảm bằng động sản tại NHTM Việt Nam" về máy như thế nào?

Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.

Luận án liên quan

Chia sẻ tài liệu: Facebook Twitter