Luận án Tiến sĩ Luật học: Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay
Luận án TS luật học: chính sách hình sự cho người chưa thành niên phạm tội tại VN hiện nay. Phân tích, đánh giá và đề xuất.
Số trang
164
Thời gian đọc
25 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Lý luận về chính sách hình sự người chưa thành niên
- Số trang:
- 164 trang
- Chuyên ngành:
- Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
- Tác giả:
- Luan An
Tóm tắt nội dung luận án
I. Lý luận về chính sách hình sự người chưa thành niên
Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên giữ vị trí then chốt trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Đây là định hướng chiến lược nhằm đấu tranh và phòng ngừa tội phạm lứa tuổi thanh thiếu niên. Chính sách này phản ánh sâu sắc bản chất nhân đạo của Nhà nước. Mục tiêu cơ bản là bảo vệ quyền lợi hợp pháp của trẻ em. Hệ thống pháp luật coi người dưới 18 tuổi là đối tượng cần sự quan tâm đặc biệt. Khi tham gia quan hệ hình sự, các đối tượng này cần sự chăm sóc và giáo dục riêng biệt. Cơ quan chức năng luôn kết hợp hài hòa giữa xử lý nghiêm minh và khoan hồng. Trọng tâm chính sách hướng vào việc tái hòa nhập cộng đồng và phòng ngừa tái phạm bền vững.
1.1. Khái niệm và mục tiêu của chính sách hình sự
Chính sách hình sự đối với đối tượng vị thành niên xác định hệ thống quan điểm, mục tiêu và giải pháp xử lý hành vi phạm tội. Nhà nước xây dựng chính sách dựa trên nền tảng bảo vệ quyền con người và phát triển thế hệ trẻ. Mục tiêu tối thượng không nhằm trừng phạt hà khắc. Mục tiêu cốt lõi là cải tạo, giáo dục và hỗ trợ người lầm lỗi sửa chữa sai lầm. Nhà nước chủ động phân hóa trách nhiệm hình sự theo từng mức độ vi phạm. Giải pháp hình sự luôn hướng đến việc hàn gắn tổn thương xã hội. Việc thực thi pháp luật phải bảo đảm tương lai phát triển bình thường của người phạm tội dưới 18 tuổi.
1.2. Đặc điểm tâm lý và nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm
Người chưa thành niên có sự phát triển chưa toàn diện về thể chất và tâm lý. Nhận thức xã hội của lứa tuổi này còn hạn chế. Hành vi phạm tội thường mang tính bộc phát, ngẫu hứng và thiếu suy nghĩ chín chắn. Áp lực bạn bè tiêu cực và môi trường gia đình thiếu hoàn thiện dễ đẩy các em vào con đường sai trái. Tình hình tội phạm trẻ hóa đang diễn biến phức tạp với thủ đoạn ngày càng tinh vi. Nhiều băng nhóm vị thành niên hình thành do thiếu sự quản lý từ nhà trường và gia đình. Nhận diện đúng đặc điểm tâm lý lứa tuổi giúp cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng biện pháp giáo dục phù hợp và hiệu quả.
II. Nguyên tắc xử lý người chưa thành niên theo pháp luật
Hệ thống tư pháp hình sự Việt Nam xây dựng hệ thống nguyên tắc đặc thù cho người dưới 18 tuổi. Các nguyên tắc này thể chế hóa đường lối của Đảng và Công ước quốc tế về quyền trẻ em. Mục đích xử lý nhằm giáo dục và giúp đỡ người phạm tội nhận thức lỗi lầm. Việc áp dụng chế tài nghiêm khắc chỉ đóng vai trò thứ yếu. Cơ quan tố tụng phải tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc bảo đảm quyền phát triển của người chưa thành niên. Mọi quyết định tư pháp đều cân nhắc kỹ lưỡng hoàn cảnh gia đình và nhân thân người phạm tội. Tinh thần nhân đạo luôn xuyên suốt trong toàn bộ quá trình điều tra, truy tố và xét xử.
2.1. Bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên
Nguyên tắc xử lý người chưa thành niên phạm tội đặt lợi ích tốt nhất của trẻ em lên hàng đầu. Cơ quan có thẩm quyền phải tôn trọng nhân phẩm và quyền tiếp cận giáo dục của người vị thành niên. Quá trình giải quyết vụ án cần giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực đến tâm lý người phạm tội. Thủ tục tố tụng phải diễn ra nhanh chóng, thân thiện và bảo mật thông tin cá nhân. Cơ quan tiến hành tố tụng luôn ưu tiên các giải pháp ngoài tư pháp thay vì xử lý hình sự truyền thống. Lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi là thước đo quan trọng để đánh giá hiệu quả của chính sách tư pháp.
2.2. Ưu tiên biện pháp giáo dục và phục hồi chức năng xã hội
Hệ thống tư pháp ưu tiên áp dụng biện pháp phòng ngừa và giáo dục tại gia đình, cộng đồng. Việc áp dụng hình phạt tù chỉ là biện pháp cưỡng chế cuối cùng khi không còn phương án thay thế. Nhà nước khuyến khích áp dụng mô hình tư pháp phục hồi đối với thanh thiếu niên vi phạm pháp luật. Mô hình này thúc đẩy người phạm tội nhận lỗi, sửa chữa hậu quả và bồi thường thiệt hại cho nạn nhân. Sự tham gia tích cực của cộng đồng giúp người lầm lỗi nhanh chóng tái hòa nhập đời sống. Giáo dục nhân cách giữ vai trò then chốt giúp loại bỏ hoàn toàn nguy cơ tái phạm trong tương lai.
III. Quy định trách nhiệm hình sự người dưới 18 tuổi hiện nay
Pháp luật thực định quy định cụ thể phạm vi xử lý hành vi phạm tội của người chưa thành niên. Cơ quan tư pháp áp dụng các điều khoản chuyên biệt nhằm phân hóa mức độ trừng phạt. Chế tài đối với thanh thiếu niên luôn nhẹ hơn so với người đã thành niên có cùng hành vi phạm tội. Hệ thống pháp luật không áp dụng hình phạt tử hình hoặc tù chung thân đối với người dưới 18 tuổi. Việc miễn giảm trách nhiệm hình sự người dưới 18 tuổi được quy định rộng rãi và linh hoạt. Nhà nước luôn tạo cơ hội tối đa để người trẻ vi phạm pháp luật sửa đổi hành vi và xây dựng lại cuộc đời.
3.1. Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và mức độ xử lý
Quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự được phân chia rõ ràng theo hai nhóm tuổi chính. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm về mọi tội phạm theo luật định, trừ trường hợp có quy định khác. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do cố ý. Quy định này thể hiện sự cân nhắc thận trọng giữa mức độ nhận thức và tính chất nguy hiểm của hành vi. Việc xác định chính xác độ tuổi là căn cứ pháp lý bắt buộc trước khi khởi tố bị can hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự.
3.2. Khung pháp lý theo Bộ luật Hình sự Chương XII
Toàn bộ chế định xử lý người vị thành niên được quy định tập trung tại Bộ luật Hình sự Chương XII. Chương này tập hợp đầy đủ các nguyên tắc xử lý, hệ thống hình phạt và biện pháp tư pháp thay thế. Pháp luật quy định nhiều căn cứ để áp dụng biện pháp miễn trách nhiệm hình sự cho người dưới 18 tuổi khi có đủ điều kiện luật định. Người được miễn trách nhiệm hình sự sẽ được chuyển hướng sang các biện pháp giáo dục thích hợp. Quy định tại Chương XII khẳng định tính nhân văn vượt trội của hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam hiện đại đối với thế hệ tương lai.
IV. Các biện pháp xử lý và giáo dục người chưa thành niên
Hệ thống chế tài đối với người chưa thành niên được thiết kế đa dạng và linh hoạt. Mục đích cơ bản là hạn chế tối đa việc cách ly người phạm tội ra khỏi đời sống xã hội. Cơ quan tiến hành tố tụng ưu tiên các giải pháp giáo dục tại địa phương. Các biện pháp ngoài tư pháp tạo điều kiện cho thanh thiếu niên tiếp tục học tập và rèn luyện. Tòa án chỉ áp dụng hình phạt tù giam đối với các hành vi nguy hiểm đặc biệt nghiêm trọng. Sự phối hợp chặt chẽ giữa tư pháp và cộng đồng giúp tối ưu hóa hiệu quả phòng ngừa tội phạm tuổi vị thành niên.
4.1. Biện pháp xử lý chuyển hướng và giám sát tại cộng đồng
Pháp luật hình sự đẩy mạnh áp dụng biện pháp xử lý chuyển hướng đối với hành vi phạm tội ít nghiêm trọng. Cơ quan chức năng tiến hành các biện pháp giám sát giáo dục thông qua chính quyền địa phương, tổ chức xã hội và gia đình. Người vi phạm được tạo điều kiện tham gia các chương trình học tập, lao động công ích và tư vấn tâm lý. Quá trình này giúp đối tượng nhận thức rõ sai lầm mà không phải chịu định kiến của bản án hình sự. Việc giám sát chặt chẽ tại nơi cư trú giúp ngăn chặn nguy cơ tái diễn hành vi vi phạm một cách thiết thực và hiệu quả.
4.2. Hình phạt cải tạo không giam giữ và trường giáo dưỡng
Tòa án ưu tiên áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ người chưa thành niên khi xét thấy không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội. Trường hợp hành vi có tính chất nguy hiểm cao, cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng nhằm phục hồi nhân cách toàn diện. Tại trường giáo dưỡng, học sinh được học văn hóa, học nghề và rèn luyện kỷ luật nghiêm ngặt. Khi bắt buộc phải tuyên án phạt tù có thời hạn, mức án áp dụng cho người dưới 18 tuổi luôn có giới hạn tối đa thấp hơn nhiều so với người trưởng thành.
V. Hoàn thiện Luật Tư pháp người chưa thành niên ở nước ta
Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm vị thành niên đang đặt ra nhiều yêu cầu cải cách cấp thiết. Các quy định pháp luật hiện hành vẫn còn phân tán trong nhiều văn bản khác nhau. Điều này gây khó khăn nhất định cho các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình áp dụng đồng bộ. Xu hướng hội nhập quốc tế đòi hỏi Việt Nam phải xây dựng khung pháp lý chuyên biệt, thống nhất và tiến bộ hơn. Việc hoàn thiện hệ thống tư pháp người chưa thành niên là nhiệm vụ chiến lược trong tiến trình cải cách tư pháp quốc gia. Mục tiêu là xây dựng nền tư pháp thân thiện, văn minh và bảo vệ toàn diện thế hệ trẻ.
5.1. Thực trạng thực hiện chính sách và những khó khăn tồn tại
Quá trình triển khai chính sách hình sự hiện nay còn bộc lộ một số hạn chế nhất định. Nguồn lực phục vụ công tác giám sát, giáo dục tại cộng đồng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu thực tế. Đội ngũ cán bộ làm công tác xã hội và tư vấn tâm lý tư pháp cho thanh thiếu niên còn thiếu về số lượng và kỹ năng chuyên sâu. Cơ sở vật chất của các cơ sở giáo dưỡng chưa thật sự đồng bộ. Sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và các cơ quan thực thi pháp luật đôi khi còn lỏng lẻo. Những tồn tại này làm giảm hiệu quả giáo dục và phòng ngừa tái phạm đối với người chưa thành niên.
5.2. Định hướng xây dựng Luật Tư pháp người chưa thành niên
Việt Nam đang tích cực hoàn thiện dự thảo Luật Tư pháp người chưa thành niên nhằm tạo bước đột phá trong lập pháp. Đạo luật chuyên biệt này sẽ tích hợp đồng bộ các quy định về hình sự, tố tụng hình sự và thi hành án. Luật mở rộng phạm vi áp dụng các biện pháp xử lý chuyển hướng thân thiện và nhân văn. Mô hình Tòa Gia đình và Người chưa thành niên sẽ được hoàn thiện với thủ tục tố tụng đặc thù. Đạo luật mới bảo đảm quyền trẻ em theo tiêu chuẩn quốc tế, góp phần xây dựng môi trường lành mạnh cho sự phát triển toàn diện của người chưa thành niên.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (164 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộMỤC LỤC Trang MỞ ĐẦU 1 Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN CHÍNH SÁCH HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 9 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 9 1. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 15 1.
Những vấn đề đặt ra cần tiếp tục nghiên cứu 27 Chƣơng 2. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 31 2. Khái niệm, đặc điểm, mục tiêu và các nguyên tắc của chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội 31 2. Yêu cầu và các yếu tố bảo đảm xây dựng, thực hiện chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội 52 2.
Nội dung, các nhân tố tác động và các biện pháp thực hiện chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội 61 Chƣơng 3. CHÍNH SÁCH HÌNH SỰ HIỆN HÀNH ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI Ở VIỆT NAM 75 3. Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội thể hiện trong 75 pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay 3. Nhận xét, đánh giá về chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội thể hiện trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay 105 Chƣơng 4.
TRIỂN KHAI THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 111 4. Tình hình thực hiện chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay 111 4. Giải pháp hoàn thiện chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay 134 KẾT LUẬN 148 DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN ĐÃ ĐƢỢC CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 150 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 151 DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT TẮT CHỮ NGUYÊN NGHĨA BLHS Bộ luật hình sự CSHS Chính sách hình sự NCTN Người chưa thành niên MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, con người và vấn đề bảo đảm quyền con người là trung tâm của mọi hoạt động xã hội.
Quan điểm xuyên suốt thể hiện trong đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam là luôn coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước, trong đó trẻ em, người chưa thành niên (NCTN) được ví như măng non, là nguồn hạnh phúc của gia đình, tương lai của dân tộc, chủ nhân kế tục sự nghiệp phát triển đất nước. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã nhấn mạnh: “…Chú trọng cải thiện điều kiện sống, lao động và học tập của thanh niên, thiếu niên, giáo dục và bảo vệ trẻ em…”[39, tr. Đối với NCTN nói chung, trẻ em nói riêng, quan điểm của Nhà nước ta là bảo vệ, chăm sóc và giáo dục nhằm giúp họ phát triển về thể chất lẫn tinh thần một cách tốt nhất. Điều 37 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (sửa đổi, bổ sung năm 2013) xác định: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em”.
Điều 5 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 cũng quy định rõ: “Việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em là trách nhiệm của gia đình, nhà trường, Nhà nước, xã hội và công dân”. Trên bình diện chính sách hình sự (CSHS) của Đảng và Nhà nước ta thì Hiến pháp và pháp luật luôn coi trẻ em, NCTN là đối tượng cần bảo vệ, chăm sóc và quan tâm đặc biệt đối với cả hai trường hợp, khi họ là chủ thể của tội phạm cũng như khi họ là đối tượng tác động của tội phạm. Trong những năm gần đây, tình hình tội phạm do NCTN thực hiện ở nước ta có xu hướng gia tăng và diễn biến phức tạp. Theo thống kê của Ban chủ nhiệm Đề án 4 Chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm, từ năm 2006 đến năm 2015 cả nước xảy ra 95.474 vụ phạm pháp hình sự về trật tự xã hội do NCTN thực hiện, với tổng số 147.
Số vụ, số đối tượng là NCTN phạm tội hàng năm có xu hướng tăng lên; thành phần đối tượng, lĩnh vực phạm tội ngày càng đa dạng hơn; tính chất hành vi phạm tội, phương thức thủ đoạn và hậu quả gây ra ngày càng nghiêm trọng, nguy hiểm hơn. Các tội phạm giết người, cướp tài sản, trộm cắp tài sản, gây rối trật tự công cộng và tội phạm về ma túy do NCTN gây ra đang ngày 1 càng phổ biến. Hành vi phạm tội của NCTN không còn đơn giản do bồng bột, thiếu suy nghĩ mà đã có sự tính toán, chuẩn bị kỹ càng và khá tinh vi, thậm chí đã hình thành các băng nhóm tội phạm có tổ chức. Đứng trước thực trạng đó, gia đình, nhà trường và xã hội đã có nhiều biện pháp nhằm giảm thiểu nguy cơ nêu trên.
Tuy nhiên, để đưa ra được một giải pháp đồng bộ, hiệu quả cho vấn đề này, trước hết phải xác định một cách khoa học, khách quan và đúng đắn về nguyên nhân cũng như đặc điểm tâm lý lứa tuổi của NCTN nói chung và NCTN phạm tội nói riêng. Xuất phát từ đặc điểm đặc trưng về tâm lý, giới tính, lứa tuổi của NCTN phạm tội đó là những người chưa thật sự trưởng thành, họ đang ở độ tuổi bẻ gãy sừng trâu, có những hạn chế nhất định về thể chất và tâm lý, suy nghĩ của NCTN thường thiếu chín chắn, mang tính bộc phát, ngẫu hứng cho nên CSHS đối với những đối tượng này cũng có nhiều điểm khác biệt so với đối tượng là người đã thành niên phạm tội. Điều 40 Công ước Liên hợp quốc về Quyền trẻ em có ghi: “Các quốc gia thừa nhận quyền của mọi trẻ em bị cho là tố cáo hay bị công nhận là đã vi phạm luật hình sự được đối xử phù hợp với việc cổ vũ ý thức của trẻ em… Cách đối xử cũng phải tính đến lứa tuổi của trẻ em và đến điều mong muốn làm sao thúc đẩy sự tái hòa nhập vào việc đảm đương một vai trò xây dựng trong xã hội trẻ em…”[34]. Nhận thức này đã được nhà làm luật thể chế hóa trong các quy định của pháp luật hình sự và tố tụng hình sự Việt Nam, từ quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nguyên tắc xử lý đối với NCTN phạm tội, các loại hình phạt và biện pháp tư pháp áp dụng đối với NCTN phạm tội, vấn đề quyết định hình phạt và các biện pháp tha miễn đối với NCTN phạm tội đến các quy định về trình tự, thủ tục tố tụng đối với NCTN phạm tội.
Đây chính là cơ sở pháp lý cho việc tiến hành các hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với NCTN phạm tội, đảm bảo phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Có thể khẳng định, đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội phạm do NCTN thực hiện nói riêng không phải là nhiệm vụ của riêng ai mà là trách nhiệm của mỗi công dân, từng gia đình, các cơ quan nhà nước và của toàn thể xã hội. Cuộc đấu tranh này chỉ có thể thu được kết quả tốt khi có sự tham gia đông đảo của các giai tầng trong xã hội với một hệ thống các biện pháp đa dạng, đặc biệt, 2 phải có một hệ thống các quan điểm, đường lối, chủ trương, định hướng chỉ đạo phù hợp và kịp thời nhằm đảm bảo từng bước đi thích hợp, vừa mang tính sách lược, vừa thể hiện tính chiến lược trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định. Hệ thống các quan điểm, đường lối, chủ trương, định hướng chỉ đạo trong đấu tranh phòng, chống tội phạm do NCTN thực hiện được gọi là CSHS.
CSHS do đó trở thành hạt nhân của cuộc đấu tranh này, góp phần phối hợp hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân vào mục đích khắc phục, hạn chế và loại trừ tội phạm ra khỏi xã hội. CSHS đối với NCTN phạm tội bảo đảm sự thống nhất giữa ý chí của giai cấp cầm quyền với pháp luật của Nhà nước, giữa pháp luật với việc áp dụng pháp luật đó trong đấu tranh phòng, chống tội phạm. Việc hiểu không đúng, hoạch định không đúng hoặc thực hiện không đúng CSHS đối với NCTN phạm tội sẽ làm giảm hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Khẳng định này đã được chứng minh trong thực tiễn, nhận thức không đúng CSHS đối với NCTN phạm tội có khả năng dẫn đến những hạn chế, thiếu sót, sai lầm trong công tác xây dựng pháp luật, trong thực tiễn áp dụng và thi hành pháp luật.
Không nắm vững CSHS đối với NCTN phạm tội sẽ làm cho việc thực hiện chủ trương, đường lối trở nên gò bó, cứng nhắc hoặc tùy tiện, thái quá, không đạt được hiệu quả như mong muốn [104]. Xuất phát từ thực tiễn cho thấy, những năm qua việc nắm bắt và thực hiện CSHS đối với NCTN phạm tội còn tồn tại nhiều bất cập. Pháp luật hình sự quy định về tội phạm và hình phạt đối với NCTN phạm tội còn nhiều bất cập, việc tổ chức thực thi pháp luật hình sự trong đấu tranh phòng, chống tội phạm còn nhiều hạn chế, trong khi đó, công tác tổng kết thực tiễn lại rất ít được quan tâm. Vì thế, những vấn đề lý luận và thực tiễn về CSHS đối với NCTN phạm tội cũng như việc triển khai thực hiện CSHS đối với NCTN phạm tội còn tản mạn, thiếu thống nhất.
Để góp phần hệ thống hóa, kiến giải, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận và thực tiễn triển khai thực hiện CSHS đối với NCTN phạm tội. Trên cơ sở đó, đưa ra một số giải pháp hoàn thiện CSHS đối với NCTN phạm tội ở Việt Nam, tác giả chọn nghiên cứu đề tài: “Chính sách hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam hiện nay”. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận án - Mục đích của luận án: Nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn triển khai thực hiện CSHS đối với NCTN phạm tội ở Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp cụ thể cho việc hoạch định và triển khai thực hiện CSHS đối với NCTN phạm tội trong thực tiễn công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Chính sách hình sự với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam (n.d.) [Luận án tiến sĩ]. LuanAn.net. https://luanan.net/luat-hoc/chinh-sach-hinh-su-doi-voi-nguoi-chua-thanh-nien-pham-toi-viet-nam
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Chính sách hình sự với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam" nghiên cứu về vấn đề gì?
Luận án TS luật học: chính sách hình sự cho người chưa thành niên phạm tội tại VN hiện nay. Phân tích, đánh giá và đề xuất.
Luận án "Chính sách hình sự với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Chính sách hình sự với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam" thuộc chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự. Danh mục: Luật Học.
Luận án "Chính sách hình sự với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam" có bao nhiêu trang?
Luận án "Chính sách hình sự với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam" có 164 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Chính sách hình sự với người chưa thành niên phạm tội ở Việt Nam" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.