Tổng quan về luận án

Nghiên cứu phương pháp viết sử của các sử gia thời phong kiến là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm giải mã ý thức hệ, tiến trình tư tưởng văn hóa và nghệ thuật biên soạn quốc sử của dân tộc Đại Việt. Đỉnh cao của nền sử học cổ điển Việt Nam được kết tinh trọn vẹn trong bộ quốc sử thời Hậu Lê: Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT). Trải qua hơn 400 năm (1272 - 1697) với sự tham gia liên tục của nhiều thế hệ sử quan kiệt xuất từ Lê Văn Hưu, Phan Phu Tiên, Ngô Sĩ Liên đến Phạm Công Trứ và Lê Hi, bộ quốc sử này chứa đựng những lớp văn bản phức hợp phản ánh sự giao thoa sâu sắc giữa các hệ tư tưởng Nho giáo, Phật giáo và ý thức tự chủ dân tộc.

Khoảng trống học thuật (Research Gap) cốt lõi tồn tại suốt nhiều thập kỷ qua nằm ở sự thiếu vắng một công trình liên ngành kết hợp chặt chẽ giữa Văn bản học (Textual Criticism), Văn hiến học Hán Nôm và Triết học lịch sử nhằm phân giải cấu trúc mộc bản thực tế và hệ thống hóa thi pháp viết sử mang tính chỉnh thể của tập thể tác giả. Đặc biệt, kể từ khi văn bản Đại Việt sử ký toàn thư mang tiêu đề "Nội các quan bản" (NCQB - ký hiệu SA.PD 2310 thuộc Hội Á Châu - Société Asiatique tại Paris) được công bố, giới học thuật quốc tế và trong nước đã nảy sinh những tranh luận gay gắt chưa có hồi kết về niên đại khắc in thực sự, tính nguyên bản của bản khắc thời Lê - Trịnh, cũng như sự đồng nhất về mặt văn bản giữa các dị bản đang lưu trữ rải rác tại Pháp, Nhật Bản và Việt Nam.

Nghiên cứu tập trung giải quyết ba câu hỏi nghiên cứu trọng tâm (Research Questions):

  • RQ1: Cấu trúc vật lý của các lớp mộc bản in và truyền bản của bộ quốc sử ĐVSKTT bản NCQB thực chất được cấu thành như thế nào qua khảo sát bản tâm (版心), quy cách khắc chữ và phân bố thiên chương?
  • RQ2: Tiến trình diễn tiến văn bản và sự kế thừa - biến đổi phương pháp biên soạn lịch sử diễn ra ra sao từ bộ 15 quyển của Ngô Sĩ Liên (1479), bộ 23 quyển của Phạm Công Trứ (1665) đến bản in 24 quyển năm Chính Hòa thứ 18 (1697) của Lê Hi?
  • RQ3: Hệ thống tư tưởng sử học chi phối ngòi bút của các sử gia thời Lê được định hình cụ thể như thế nào qua các phạm trù Chính thống quan, Hoa Di quan, Thiên mệnh quan và tinh thần Thực lục?

Hai giả thuyết nghiên cứu (Hypotheses) được xác lập:

  • H1: Bản in Nội các quan bản (NCQB) hiện lưu giữ tại Paris và Nhật Bản không phải là một ấn bản đồng nhất được khắc in một lần trọn vẹn, mà là một bản ghép hỗn hợp (hybrid edition) tích hợp từ hai bộ mộc bản tiêu bản khác nhau trong thời Lê Trung hưng: bản "Đại Việt sử ký toàn thư" và bản "Việt sử".
  • H2: Thể tài biên soạn của ĐVSKTT thể hiện sự dung hợp độc đáo giữa thể Biên niên của Tư Mã Quang (Tư trị thông giám), thể Kỷ truyện của Tư Mã Thiên (Sử ký) và phép Cương mục phân chú của Chu Hy, tạo nên mô hình sử học chính thống mang đậm tính dân tộc.

Về quy mô và phạm vi, luận án tiến hành giám định trực tiếp trên hệ thống gồm 20 văn bản ĐVSKTT tiêu biểu trên thế giới (Việt Nam: 6 bản; Pháp: 7 bản; Nhật Bản: 7 bản), trong đó chọn bản Paris SA.PD 2310 làm bản nền đối sánh trực tiếp với 2 bản quý hiếm tại Văn khố Tư Đạo (Đại học Keio, Nhật Bản: ký hiệu 322/10 và 321/4), bản Thư viện Đại học Tenri và bản VHv.2330-2336 tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

Literature Review và Positioning

Lịch sử nghiên cứu về Đại Việt sử ký toàn thư có thể được tổng thuật qua ba dòng nghiên cứu (research streams) chủ đạo trong học giới quốc tế và Việt Nam:

Dòng nghiên cứu Mục lục học và Thư tịch học được khởi xướng sớm bởi các học giả Pháp như Léopold Cadière và Paul Pelliot (1904) trong công trình Première étude sur les sources annamites de l'histoire d'Annam, tiếp nối bởi Emile Gaspardone (1934) với Bibliographie Annamite. Tại Việt Nam, Trần Văn Giáp (1936, 1964, 1970) với công trình kinh điển Tìm hiểu kho sách Hán Nôm đã đặt nền móng thư tịch học vững chắc khi xác minh quá trình hình thành văn bản từ Lê Văn Hưu qua Ngô Sĩ Liên đến bản khắc in 24 quyển năm 1697. Tiếp đó, Trần Nghĩa và François Gros (1984) biên soạn Di sản Hán Nôm Thư mục đề yếu, cùng Lưu Xuân Ngân, Vương Tiểu Thuẫn và Trần Nghĩa (2002) xuất bản danh mục tại Đài Loan, và Lưu Ngọc Quân (2008) tại Trung Quốc đã hệ thống hóa nguồn lưu trữ cổ tịch Hán Nôm trên toàn cầu.

Dòng nghiên cứu Văn bản học và Niên đại học chứng kiến những cuộc tranh luận học thuật đỉnh cao về bản Nội các quan bản (NCQB). Năm 1983, Giáo sư Phan Huy Lê mang bản chụp NCQB từ Paris về nước và công bố khảo luận khẳng định đây là bản in thuộc hệ thống niên hiệu Chính Hòa 1697 dựa trên chữ "Nội các" và sự vắng mặt của các chữ húy triều Nguyễn. Ngược lại, học giả Trần Kinh Hòa (Chen Ching-ho, Đại học Tokyo, 1977, 1984 - 1986) khi thực hiện Hiệu hợp bản ĐVSKTT lại nhận định bản Démiville không phải bản Chính Hòa gốc vì chữ khắc không thống nhất và thiếu vắng chữ húy thời Lê - Trịnh. Năm 1988 và 1999, học giả Bùi Thiết cùng Lê Trọng Khánh đưa ra quan điểm đối lập rằng bản NCQB chỉ được khắc in vào năm Tự Đức thứ 9 (1856) tại Sử quán triều Nguyễn. Đáng chú ý, học giả Nga A. Fedorin (2008, bản dịch tiếng Việt 2011) trong Những cứ liệu mới về việc viết sử Việt Nam đã sử dụng phương pháp định lượng hình thức để chứng minh ván in đầu tiên xuất hiện từ thế kỷ XV, đồng thời đưa ra giả thuyết rằng bản NCQB do Ngô Thì Sĩ và Phạm Nguyễn Du san định vào thế kỷ XVIII làm sách giáo khoa và tự khắc chữ "Nội các quan bản" để gia tăng uy quyền.

Dòng nghiên cứu Phương pháp và Tư tưởng sử học tập trung giải mã hệ tư tưởng của từng sử gia. O.W. Wolters (1979) phân tích bối cảnh Nho giáo thời Trần ảnh hưởng đến Lê Văn Hưu; Yu In-sun (2006) so sánh nhận thức lịch sử giữa Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên; Phan Đại Doãn, Hà Văn Tấn, Hoàng Văn Lâu, Nguyễn Danh Phiệt (1998) trong cụm công trình kỷ niệm 300 năm bản in Chính Hòa đã phân tích sâu sắc khái niệm "Mã sử", thể kỷ truyện lồng ghép biên niên, cùng ý thức hệ chính thống và tinh thần "trực bút". Như cố Giáo sư Phan Huy Lê từng nhận xét xác đáng về các luồng quan điểm đối lập: "tất cả những chủ trương thuộc hai khuynh hướng trên đây đều là những giả thuyết khoa học đáng lưu ý, nhưng trong tình trạng sử liệu hiện nay, thì chưa thể coi đó là những kết luận khoa học có đủ sức thuyết phục".

Luận án định vị mình tại điểm giao thoa giữa Văn bản học thực chứng và Triết học sử học, vượt qua lối mòn nghiên cứu phân mảnh từng tác giả đơn lẻ để cung cấp một bức tranh toàn cảnh, đa chiều và có bằng chứng vật lý rõ ràng về cả hình thức mộc bản lẫn bản thể tư tưởng của bộ quốc sử.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án kế thừa và phát triển lý luận Sử học cổ điển Á Đông, đặc biệt là lý thuyết "Tam tài" (Sử tài - Sử học - Sử thực) của Lưu Tri Cơ thời Đường trong Sử thông, áp dụng vào việc lý giải năng lực biên khảo và nhân cách sử quan Đại Việt. Nghiên cứu mở rộng lý thuyết biên soạn lịch sử chính thống (Official Historiography Theory) trong môi trường quân chủ chuyên chế Nho giáo Đông Á, chứng minh rằng sự chuyển đổi qua các triều đại (Trần sang Hậu Lê và Lê Trung hưng) luôn kéo theo sự tái cấu trúc khung tri thức lịch sử nhằm hợp thức hóa tính chính danh quyền lực.

Khung lý thuyết phân tích tư tưởng sử học được thiết lập trên mô hình kiềng ba chân:

  1. Chính thống quan (Orthodoxy Paradigm): Xác lập ranh giới quyền lực tối cao, phân định rạch ròi giữa vương triều chính thống và thế lực tiếm ngụy.
  2. Thiên mệnh quan (Mandate of Heaven Paradigm): Biện minh cho sự chuyển giao triều đại thông qua điềm lành, sấm vĩ và đức trị Nho giáo.
  3. Hoa Di quan (Sino-Centric vs. Independent Worldview): Tuyên ngôn thế ứng đối bình đẳng về mặt văn minh và chủ quyền lãnh thổ với các triều đại phương Bắc ("Nam Bắc phân tranh kỷ").

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp ba trụ cột phương pháp luận:

  • Văn hiến học Hán Nôm (Hán Nôm Philology): Giải mã tự nguyên, cấu trúc văn pháp ngữ pháp cổ, khảo cứu tục tự (folk characters) và hiện tượng kỵ húy (như chữ "Trừ" 除 được Trần Nghĩa phát hiện năm 1989).
  • Văn bản học cấu trúc mộc bản (Woodblock Textual Criticism): Phân tích vi mô các dấu hiệu trên ván khắc gồm: Quyển thủ (卷首), Bản tâm thượng bộ (版心上部), Bản tâm trung bộ (版心中部), Quyển vĩ (卷尾) và quy cách canh lề của năm can chi.
  • Phân tích địa tầng văn bản (Stratigraphical Textual Analysis): Bóc tách từng lớp thời gian biên soạn qua các chỉ dấu thực chứng từ lời tựa và phàm lệ, thiết lập ma trận so sánh giữa bản 15 quyển của Ngô Sĩ Liên, bản 23 quyển của Phạm Công Trứ và bản 24 quyển của Lê Hi.
       ┌─────────────────────────────────────────────────────────────┐
       │   KHUNG PHÂN TÍCH PHƯƠNG PHÁP VIẾT SỬ TRONG ĐVSKTT          │
       └──────────────────────────────┬──────────────────────────────┘
                                      │
        ┌─────────────────────────────┼─────────────────────────────┐
        ▼                             ▼                             ▼
┌──────────────────┐        ┌──────────────────┐        ┌──────────────────┐
│  VĂN BẢN HỌC     │        │  VĂN HIẾN HỌC    │        │ TRIẾT HỌC SỬ HỌC │
│  MỘC BẢN         │        │  HÁN NÔM         │        │  ĐÔNG Á          │
├──────────────────┤        ├──────────────────┤        ├──────────────────┤
│- Bản tâm, ván in │        │- Khảo cứu tục tự │        │- Tam tài (Lưu Tri│
│- Dị bản Paris /  │        │- Thích nghĩa tự  │        │  Cơ)             │
│  Keio / Tenri    │        │  nguyên          │        │- Chính thống quan│
│- Ghép bản tiêu   │        │- Giải mã húy tự  │        │- Thiên mệnh quan │
└─────────┬────────┘        └─────────┬────────┘        └─────────┬────────┘
          │                           │                           │
          └───────────────────────────┼───────────────────────────┘
                                      ▼
             ┌─────────────────────────────────────────────────┐
             │ KẾT QUẢ ĐỘT PHÁ: GIẢI MÃ BẢN LAI GHÉP NCQB      │
             │ & MÔ HÌNH HỆ TƯ TƯỞNG QUỐC SỬ ĐẠI VIỆT          │
             └─────────────────────────────────────────────────┘

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án vận dụng lập trường Hiện thực Phê phán (Critical Realism) kết hợp với Phương pháp luận Sử học thực chứng của Hà Văn Tấn. Thiết kế nghiên cứu đa tầng (Multi-level Research Design) được triển khai qua ba cấp độ liên kết hữu cơ:

  • Cấp độ vật thể (Physical level): Khảo sát hình thái học mộc bản, kích thước ván in, dòng kẻ biên khung, nét khắc chữ và chất liệu giấy in.
  • Cấp độ cấu trúc văn bản (Structural textual level): Đối chiếu bố cục phân quyển, cách phân chia Thượng/Hạ và quy cách phân chú hai hàng.
  • Cấp độ tư tưởng (Ideological level): Phân tích diễn ngôn sử luận qua các đoạn lời bàn "Lê Văn Hưu viết" (黎文休曰), "Phan Phu Tiên viết" (潘孚先曰) và "Ngô Sĩ Liên viết" (吳士連曰).

Quy trình nghiên cứu rigorous

Quy trình giám định và thu thập dữ liệu được thực hiện nghiêm ngặt qua 4 bước chuẩn hóa:

  1. Sưu tập và phục dựng phả hệ văn bản: Lập thư mục chi tiết 20 bản in và bản chép tay ĐVSKTT trên toàn cầu; chụp ảnh độ phân giải cao và lập bảng đối chiếu song song từng trang của bản Paris.2310 với 2 bản Keio (322/10 và 321/4) cùng bản VHv.2330-2336 tại Hà Nội.
  2. Khảo sát điền dã thực địa (Fieldwork Investigation): Thu thập văn bia, gia phả tại làng Phủ Lý (xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa) - quê hương Lê Văn Hưu; và huyện Chương Mỹ (Hà Tây cũ) - quê hương Ngô Sĩ Liên để kiểm chứng năm sinh, năm mất và hành trạng sử quan.
  3. Tam giác hóa nguồn tư liệu (Data Triangulation): Đối chiếu chéo nội dung ĐVSKTT với các nguồn sử liệu độc lập đương thời và ngoại tịch gồm: Việt sử lược, An Nam chí lược, Nam ông mộng lục, Đại Việt thông sử, Tống đại chiếu lệnh tậpMinh thực lục.
  4. Phân tích biến thể văn tự và ngữ pháp cổ: Đánh giá độ tin cậy của văn bản thông qua khảo dị các văn bản chiếu biểu, tiêu biểu như chứng minh văn bản Chiếu thư thảo Giao Châu trong ĐVSKTT thực chất bắt nguồn từ bài Dụ Giao Chỉ văn (諭交阯文) của Nho sinh Vương Vũ Xứng đời Tống.

Data và phân tích

Khảo sát định lượng trên mẫu gồm 24 quyển của bản Paris SA.PD 2310 và các bản đối sánh tại Văn khố Tư Đạo (Đại học Keio) cho thấy sự phân bố dữ liệu rõ rệt:

Nhóm văn bản mộc bản Phạm vi phân bổ quyển Đặc điểm Bản tâm (版心) Quy cách khắc Can Chi & Chính văn
Bản "Đại Việt sử ký toàn thư" Ngoại kỷ (Q1 - Q5), Bản kỷ toàn thư (Q1 - Q7), Bản kỷ thực lục (Q12) Khắc rõ dòng chữ: Đại Việt sử ký toàn thư (大越史記全書) Năm Can Chi và chính văn khắc cùng hàng đầu, mật độ chữ dày, có dấu khắc bổ sung (Đinh Hợi 丁亥).
Bản "Việt sử" Bản kỷ toàn thư (Q8 - Q9), Bản kỷ thực lục (Q10 - Q11, Q13 - Q15), Bản kỷ tục biên (Q16 - Q19) Khắc các dòng chữ: Việt sử bản kỷ (越史本紀), Việt sử thực lục (越史實錄), Việt sử tục biên (越史續編) Năm Can Chi khắc nâng cao hẳn lên phía trên, chính văn khắc lùi xuống dưới một ô.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Nghiên cứu mang lại 4 phát hiện đột phá đóng góp trực tiếp cho chuyên ngành Hán Nôm và Sử học cổ trung đại:

Thứ nhất, giải mã cấu trúc mộc bản "hai trong một" của bản Nội các quan bản (NCQB): Bằng việc phân tích chi tiết bản tâm, nét chữ và quy cách canh hàng, luận án chứng minh bản NCQB Démiville (Paris.2310) cùng hai bản in tại Văn khố Tư Đạo (Keio 322/10 và 321/4) được in ra từ việc lắp ghép hai bộ mộc bản tiêu bản khác nhau: bộ ván in "Đại Việt sử ký toàn thư" và bộ ván in "Việt sử". Điều này bác bỏ quan điểm cho rằng bản Démiville là một bản in đơn nhất, đồng thời khẳng định ba bộ sách hiện lưu giữ tại Pháp và Nhật Bản cùng bắt nguồn từ một bộ tiêu bản ván khắc chắp ghép trong lịch sử.

Thứ hai, làm sáng tỏ tiến trình ván in dở dang thời Cảnh Trị và sự hoàn thiện thời Chính Hòa: Nghiên cứu đối chiếu lời tựa của Phạm Công Trứ (1665) tuyên bố "述為成書,鋟梓頒行" (thuật vi thành thư, tiêm tử ban hành - soạn thành sách sử và khắc in ban hành) với lời tựa của Lê Hi (1697) ghi rõ: "付諸刊刻十纔五六,第事未告竣,猶藏於秘閣" (phó chư san khắc thập tài ngũ lục, đệ sự vị cáo tuấn, do tàng ư Bí các - giao cho khắc in, mười phần mới được chừng năm, sáu; công việc chưa xong, sách còn cất giữ ở Bí các). Phát hiện này lý giải tại sao có sự tồn tại của hai hệ thống chữ khắc khác nhau: Lê Hi đã tận dụng 50% - 60% số ván in đã khắc thời Phạm Công Trứ (bản "Việt sử") và cho khắc bù các quyển còn lại (bản "ĐVSKTT") để hoàn tất 24 quyển năm 1697.

Thứ ba, tái lập chuẩn xác mô hình bố cục thiên chương và phàm lệ: Luận án chỉ ra bài Phàm lệ tục biên với nguyên tắc: "茲以其刪繁,每一集分為上下二集,以便觀覽" (Tư dĩ kỳ san phồn, mỗi nhất tập phân vi thượng hạ nhị tập, dĩ tiện quan lãm - Nay vì sách phức tạp, nên mỗi tập chia làm Thượng, Hạ hai tập để tiện xem) thực chất do Lê Hi biên soạn để san định lại bố cục 23 quyển của Phạm Công Trứ, nhằm dung hòa giữa thể biên niên triều đại và thể truyện ký đế vương.

Thứ tư, nhận diện quy chuẩn phân chú hai hàng để thực thi "Chính thống quan": Luận án chứng minh thủ pháp chia hai dòng nhỏ (phân chú) dưới mục ghi năm đối với các triều đại tiếm ngụy (như thời nhà Mạc 6 năm 1527 - 1532) hoặc niên hiệu Bắc triều là phát kiến phương pháp luận quan trọng nhằm thực thi chức năng "xuân thu đại nghĩa", vừa đảm bảo tính chân thực của dòng thời gian biên niên, vừa giữ vững tính chính thống của vương triều Lê.

Implications đa chiều

  • Về mặt lý thuyết và phương pháp luận: Cung cấp mô hình chuẩn hóa cho công tác giám định cổ tịch Hán Nôm có cấu trúc mộc bản phức hợp, mở ra hướng tiếp cận liên ngành giữa thư tịch học và phân tích ý thức hệ chính trị.
  • Về mặt thực tiễn biên khảo: Cung cấp căn cứ khoa học xác thực để các nhà xuất bản và viện nghiên cứu lựa chọn văn bản nền tảng chuẩn xác khi dịch thuật, tái bản và chú giải các bộ quốc sử cổ đại.
  • Về mặt chính sách văn hóa và bảo tồn: Làm sáng tỏ giá trị chủ quyền văn hóa dân tộc thông qua các văn bản quốc sử, tạo cơ sở tư liệu vững chắc để bảo tồn mộc bản và thư tịch cổ trong hệ thống di sản tư liệu quốc gia và khu vực.

Limitations và Future Research

Nghiên cứu thẳng thắn thừa nhận một số giới hạn học thuật:

  1. Luận án chưa thể tiếp cận trực tiếp hiện vật mộc bản gốc bằng gỗ (hiện đã thất lạc gần như toàn bộ qua các biến cố chiến tranh), mà chủ yếu dựa trên các bản dập cổ và ấn bản in giấy truyền lại.
  2. Việc giám định niên đại giấy in và thành phần hóa học của mực in cổ chưa được tiến hành bằng phương pháp phổ học carbon phóng xạ hoặc phân tích quang phổ do tính chất bảo tồn nghiêm ngặt của các thư viện quốc tế.
  3. Số lượng dị bản khảo sát tuy bao quát các trung tâm lưu trữ lớn (Việt Nam, Pháp, Nhật Bản) nhưng chưa thể khảo sát toàn diện các bản chép tay còn rải rác trong các bộ sưu tập dòng họ tư nhân.

Các hướng nghiên cứu tiếp nối trong 5 - 10 năm tới:

  • Ứng dụng kỹ thuật số hóa 3D và thuật toán phân tích hình ảnh AI để nhận diện, đo đạc độ mòn của nét khắc chữ trên từng trang in nhằm xác định chính xác thứ tự thời gian dập in của các bản Démiville, Keio 322/10 và Keio 321/4.
  • Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh đối chiếu phương pháp viết sử giữa ĐVSKTT với Khâm định Việt sử thông giám cương mục triều Nguyễn và Minh sử triều Thanh.
  • Khảo sát sâu hơn sự tương tác giữa văn hóa Phật giáo thời Lý - Trần và Nho giáo thời Lê sơ trong việc kiến tạo biểu tượng quyền lực đế vương qua các văn bản thần tích được tích hợp vào quốc sử.

Tác động và ảnh hưởng

  • Tác động học thuật (Academic Impact): Luận án tạo lập một chuẩn mực mới trong nghiên cứu văn bản học ĐVSKTT, ước tính sẽ trở thành tài liệu tham khảo bắt buộc với hàng trăm trích dẫn trong các công trình nghiên cứu Hán Nôm, Lịch sử Việt Nam và Đông Á học.
  • Ảnh hưởng quốc tế (International Relevance): Kết quả nghiên cứu giải quyết triệt để mối nghi ngờ kéo dài nhiều thập kỷ giữa các học giả Pháp (EFEO), Nhật Bản (Đại học Keio, Tokyo), Nga và Trung Quốc về nguồn gốc và giá trị của bản NCQB.
  • Bảo tồn di sản tư liệu (Cultural Heritage Protection): Cung cấp hồ sơ khoa học giá trị phục vụ công tác giám định, phục dựng và số hóa di sản Hán Nôm cấp quốc gia tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và Thư viện Quốc gia Việt Nam.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Giảng viên Hán Nôm - Lịch sử: Tiếp cận phương pháp luận giám định mộc bản tiên tiến và nguồn dữ liệu đối chiếu dị bản chuẩn xác.
  • Học giả quốc tế nghiên cứu Đông Á (Sinologists & Asian Studies Scholars): Có được tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về sự tiếp biến và sáng tạo mô hình viết sử cổ điển Đông Á tại Việt Nam.
  • Các cơ quan quản lý văn hóa và xuất bản: Ứng dụng kết quả nghiên cứu để hiệu đính, xuất bản các ấn phẩm quốc sử có độ chính xác khoa học cao nhất.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Đó là việc chứng minh sự tích hợp và bản địa hóa sáng tạo ba mô hình sử học lớn của Đông Á: thể Biên niên (Tư trị thông giám của Tư Mã Quang), thể Kỷ truyện (Sử ký của Tư Mã Thiên) và phép Cương mục phân chú (Tư trị thông giám cương mục của Chu Hy) vào một chỉnh thể thống nhất, phục vụ trực tiếp cho hệ hình "Chính thống quan" và ý thức độc lập văn hiến của Đại Việt.

2. Điểm đổi mới phương pháp luận so với các nghiên cứu tiền tiêu là gì? Khác với phương pháp định lượng hình thức thuần túy của A. Fedorin (2008) hay phương pháp khảo đính truyền bản dựa trên chữ húy của Trần Kinh Hòa (1984 - 1986), luận án đã kết hợp giám định vi mô cấu trúc bản tâm, ván khắc với việc phân tích địa tầng lời tựa và phàm lệ thực chứng trên 3 bộ bản in tại Paris và Đại học Keio (Nhật Bản).

3. Phát hiện bất ngờ nhất có dữ liệu thực chứng ủng hộ là gì? Bản in Nội các quan bản (NCQB) quý giá không phải là một bộ ván in đồng nhất duy nhất, mà là sự kết hợp cơ học giữa 2 bộ ván in khác nhau: bộ ván in mang tên "Đại Việt sử ký toàn thư" (chiếm nửa đầu và quyển 12) và bộ ván in mang tên "Việt sử" (chiếm phần lớn Bản kỷ thực lục và Bản kỷ tục biên), phản ánh trung thực quá trình tận dụng 50% - 60% ván in dở dang từ thời Phạm Công Trứ (1665) sang thời Lê Hi (1697).

4. Nghiên cứu có cung cấp giao thức tái lặp (Replication Protocol) không? Có. Toàn bộ bảng ma trận đối chiếu 24 quyển với các chỉ số vi mô (tiêu đề bản tâm thượng/trung, quy cách can chi, dấu khắc bổ sung, số dòng/chữ trên trang) được lượng hóa chi tiết, cho phép bất kỳ nhà nghiên cứu nào cũng có thể kiểm chứng độc lập trên các bản dập lưu trữ tại Paris, Tokyo và Hà Nội.

5. Lộ trình nghiên cứu 10 năm được hoạch định như thế nào? Tập trung xây dựng cơ sở dữ liệu số hóa so sánh toàn bộ dị bản mộc bản Hán Nôm thời Lê - Nguyễn, áp dụng phương pháp học sâu (Deep Learning) nhận diện chữ Nôm và chữ Hán khắc gỗ để tự động hóa quy trình phát hiện dị bản và các vết nứt mộc bản theo thời gian.

Kết luận

Luận án đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu với 5 đóng góp cốt lõi:

  1. Xác lập bằng chứng vật lý vững chắc chứng minh bản ĐVSKTT Nội các quan bản (NCQB) là ấn bản lai ghép từ hai bộ mộc bản tiêu bản ("Đại Việt sử ký toàn thư" và "Việt sử") được khắc in hoàn thiện vào thời Lê Trung hưng (niên hiệu Chính Hòa 1697).
  2. Phục dựng chuẩn xác diễn tiến phân quyển và bố cục thiên chương qua ba mốc lịch sử then chốt: Ngô Sĩ Liên (15 quyển, 1479), Phạm Công Trứ (23 quyển, 1665) và Lê Hi (24 quyển, 1697).
  3. Hệ thống hóa toàn diện phương pháp viết sử thời Lê, chỉ rõ sự kết hợp tài tình giữa thể Biên niên và thể Kỷ truyện nhằm đáp ứng yêu cầu răn dạy đạo đức và khẳng định chính thống vương quyền.
  4. Làm sáng tỏ mạng lưới tư tưởng bao gồm Chính thống quan, Thiên mệnh quan và Hoa Di quan được thể hiện nhất quán qua ngòi bút của các sử gia nhiều thế hệ.
  5. Định hình một phương pháp luận liên ngành kiểu mẫu kết hợp Văn bản học, Văn hiến học Hán Nôm và Triết học lịch sử, đóng góp di sản học thuật lâu dài cho nền nghiên cứu văn hiến cổ điển Việt Nam và quốc tế.