Trường Đại học Đà Lạt: Phản ứng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975
Phản ứng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước Tổng tiến công Mậu Thân 1975 qua phân tích chiến lược và quyết định chính trị giai đoạn quan trọng.
Lý luận chính trị, Lịch sử
Luan An
Kỷ yếu hội thảo
Năm xuất bản
Số trang
228
Thời gian đọc
35 phút
Lượt xem
0
Lượt tải
0
Phí lưu trữ
50 Point
Tổng quan nhanh
- Chủ đề:
- 1. Chiến lược tái phối trí của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu
- Số trang:
- 228 trang
- Trường:
- Trường Đại học Đà Lạt
- Chuyên ngành:
- Lý luận chính trị, Lịch sử
- Tác giả:
- Luan An
- Năm:
- 2025
Tóm tắt nội dung luận án
I. Chiến lược tái phối trí của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu
Đầu năm 1975, cục diện chiến trường miền Nam thay đổi nhanh chóng. Quân Giải phóng mở các đợt tiến công quy mô lớn. Quân đội Sài Gòn rơi vào thế bị động chiến lược. Trong tình thế khó khăn, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đưa ra quyết định thay đổi bố phòng. Ông công bố chiến lược tái phối trí lực lượng. Mục tiêu chính là co cụm phòng ngự. Quân đội rút khỏi các vùng hiểm trở để giữ vùng đồng bằng màu mỡ và các đô thị lớn. Khái niệm "đầu bé đít to" ra đời từ kế hoạch này. Tuy nhiên, quyết định đưa ra quá muộn và thiếu chuẩn bị. Lực lượng phòng thủ hoang mang tột độ. Kế hoạch phòng ngự nhanh chóng biến thành thảm họa sụp đổ trên diện rộng.
1.1. Bối cảnh ban hành chiến lược tái phối trí lực lượng
Sau thất bại tại Phước Long vào tháng 1/1975, chính quyền Sài Gòn nhận thấy rõ thế yếu của mình. Tuyến phòng thủ kéo dài từ vĩ tuyến 17 đến mũi Cà Mau không còn khả thi. Quân số bị dàn mỏng trên khắp các mặt trận. Hỏa lực và nhiên liệu dự trữ cạn kiệt từng ngày. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu nhận thức rõ tình trạng thiếu hụt nguồn lực. Ông triệu tập các cuộc họp khẩn cấp tại Cam Ranh. Quyết định chiến lược mới được đưa ra nhằm co cụm lực lượng về vùng 3 và vùng 4 chiến thuật. Việc từ bỏ các vùng đất chiến lược ở phía Bắc trở thành điều bắt buộc. Chiến lược tái phối trí lực lượng xuất phát từ sự bế tắc và hoảng loạn quân sự. Bộ Tổng tham mưu quân đội Sài Gòn không có phương án chuẩn bị hậu cần chu đáo. Sai lầm chiến lược này mở đầu cho chuỗi sụp đổ không thể đảo ngược.
1.2. Mệnh lệnh rút lui khỏi Tây Nguyên và tác động cục diện
Ngày 14/3/1975, tại Cam Ranh, mệnh lệnh rút lui khỏi Tây Nguyên được ban hành trực tiếp cho Tướng Phạm Văn Phú. Mục tiêu ban đầu là bảo toàn lực lượng để tái chiếm Buôn Ma Thuột. Kế hoạch rút quân diễn ra trong bí mật tuyệt đối. Ngay cả các chỉ huy cấp dưới cũng không nhận được kế hoạch chi tiết. Mệnh lệnh đột ngột gây ra sự hoang mang cực độ cho toàn bộ sĩ quan và binh lính. Quyết định rút lui khỏi Tây Nguyên đã bẻ gãy toàn bộ cấu trúc phòng thủ miền Trung. Tuyến phòng thủ cao nguyên sụp đổ hoàn toàn chỉ sau vài ngày. Hành động này tạo ra cú sốc tâm lý dây chuyền trên toàn miền Nam. Quân Giải phóng nhanh chóng làm chủ các căn cứ chiến lược. Thế trận của quân đội Sài Gòn hoàn toàn tan rã.
II. Cuộc triệt thoái Quân đoàn II và sự vỡ trận ở miền Trung
Cuộc triệt thoái Quân đoàn II là một trong những thảm kịch quân sự lớn nhất của Việt Nam Cộng hòa trong năm 1975. Mệnh lệnh rút lui vội vã biến một cuộc hành quân chiến thuật thành cuộc tháo chạy hỗn loạn. Các đoàn xe quân sự nghẽn lại trên Quốc lộ 7. Hàng ngàn binh lính và thân nhân di chuyển trong hoảng loạn không có chỉ huy thống nhất. Cùng lúc đó, Vùng 1 Chiến thuật ở phía Bắc cũng rơi vào tình trạng vỡ trận tương tự. Các trung tâm quân sự kiên cố như Huế và Đà Nẵng lần lượt thất thủ nhanh chóng. Tinh thần chiến đấu của binh sĩ sụp đổ hoàn toàn. Cả miền Trung rơi vào tay đối phương trong thời gian ngắn kỷ lục.
2.1. Diễn biến thảm họa cuộc triệt thoái Quân đoàn II
Ngày 16/3/1975, cuộc triệt thoái Quân đoàn II bắt đầu trên tuyến Tỉnh lộ 7b gập ghềnh và xuống cấp. Đây là con đường rừng hiểm trở, nhiều cây cầu gãy nát chưa được tu sửa. Hàng vạn xe quân sự, pháo binh và xe tăng dồn ứ tạo thành hàng dài tắc nghẽn. Binh lính mất liên lạc hoàn toàn với ban chỉ huy chiến dịch. Tình trạng cướp bóc, hỗn loạn và đào ngũ diễn ra tràn lan dọc đường rút lui. Quân Giải phóng tổ chức truy kích và chặn đánh quyết liệt tại Cheo Reo và Phú Túc. Chỉ một phần rất nhỏ binh lực của Quân đoàn II đến được bờ biển Tuy Hòa. Hầu hết trang thiết bị nặng, pháo binh và xe bọc thép bị phá hủy hoặc bỏ lại nguyên vẹn. Cuộc rút lui kết thúc bằng sự tan biến của cả một quân đoàn chủ lực.
2.2. Sự tan rã nhanh chóng của Vùng 1 Chiến thuật và Huế Đà Nẵng
Hiệu ứng domino lan rộng nhanh chóng từ Tây Nguyên ra toàn bộ duyên hải miền Trung. Tại Vùng 1 Chiến thuật, Tướng Ngô Quang Trưởng nhận được các mệnh lệnh mâu thuẫn từ Sài Gòn. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lúc yêu cầu tử thủ, lúc lại ra lệnh rút quân về giữ bờ biển. Sự lúng túng này làm tê liệt hoàn toàn ý chí chiến đấu của các sư đoàn tinh nhuệ. Ngày 26/3/1975, thành phố Huế được giải phóng sau những cuộc tháo chạy tán loạn. Ba ngày sau, ngày 29/3/1975, căn cứ liên hợp quân sự khổng lồ tại Đà Nẵng sụp đổ. Hơn 100.000 binh lính Sài Gòn tan rã mà không kịp tổ chức bất kỳ cuộc phản công có ý nghĩa nào. Miền Trung hoàn toàn vuột khỏi tầm kiểm soát của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.
III. Cắt giảm viện trợ quân sự Mỹ và khủng hoảng di tản 1975
Sự suy giảm nguồn lực từ Mỹ là nguyên nhân cốt lõi đẩy chính quyền Sài Gòn đến bờ vực phá sản. Viện trợ quân sự Mỹ cho VNCH bị cắt giảm nghiêm trọng sau Hiệp định Paris 1973. Quốc hội Mỹ liên tục bác bỏ các đề xuất viện trợ khẩn cấp từ Nhà Trắng. Quân đội Sài Gòn phải thực hiện chính sách tiết kiệm từng viên đạn và giọt xăng. Khi các tuyến phòng thủ sụp đổ, làn sóng hoảng loạn bao trùm các đô thị. Chiến dịch di tản 1975 được kích hoạt trong tuyệt vọng. Người Mỹ và các viên chức cấp cao chuẩn bị rời khỏi miền Nam. Không khí u ám và bất an bao trùm toàn bộ Sài Gòn trong những ngày tháng Tư định mệnh.
3.1. Tác động từ việc cắt giảm viện trợ quân sự Mỹ cho VNCH
Từ năm 1974, việc cắt giảm viện trợ quân sự Mỹ cho VNCH gây ra những tổn thất nghiêm trọng về năng lực tác chiến. Ngân sách quân sự bị cắt giảm hơn một nửa khiến máy bay không thể cất cánh thường xuyên. Pháo binh bị giới hạn số lượng đạn bắn mỗi ngày. Trang thiết bị hư hỏng không có phụ tùng thay thế. Quân đội Sài Gòn vốn quen với chiến thuật hỏa lực ồ ạt kiểu Mỹ bỗng chốc mất đi ưu thế công nghệ. Sự phụ thuộc quá mức vào nguồn viện trợ nước ngoài khiến cấu trúc quân sự trở nên mong manh. Khi đối phương mở cuộc tổng tiến công quy mô lớn, quân đội VNCH không còn đủ nguồn lực hậu cần để chống đỡ. Giới cầm quyền Sài Gòn hoàn toàn vỡ mộng về cam kết can thiệp quân sự trở lại của Washington.
3.2. Hỗn loạn trong chiến dịch di tản 1975 tại các đô thị miền Nam
Giữa tháng 4/1975, Đại sứ quán Mỹ bắt đầu thực hiện các phương án sơ tán quy mô lớn. Chiến dịch di tản 1975 diễn ra dưới nhiều hình thức như Chiến dịch Babylift và Chiến dịch Frequent Wind. Các chuyến bay trực thăng liên tục cất cánh từ nóc nhà Tòa Đại sứ và sân bay Tân Sơn Nhất. Cảnh tượng chen lấn, xô đẩy và tuyệt vọng diễn ra tại khắp các điểm tập kết. Nhiều quan chức và tướng lĩnh quân đội tìm mọi cách để thoát thân ra nước ngoài. Tình trạng vô chính phủ và hoang mang tột độ lan rộng trong dân chúng và binh lính đồn trú. Cuộc tháo chạy của người Mỹ giáng đòn tâm lý chí mạng vào những nỗ lực cố thủ cuối cùng của chính quyền Sài Gòn.
IV. Biến động nhân sự từ Nguyễn Văn Thiệu đến Trần Văn Hương
Tháng 4/1975 đánh dấu sự khủng hoảng sâu sắc bên trong bộ máy lãnh đạo Việt Nam Cộng hòa. Áp lực từ chiến trường và sức ép chính trị khiến nội bộ chính quyền chia rẽ trầm trọng. Sự kiện Nguyễn Văn Thiệu từ chức vào ngày 21/4/1975 mở đầu cho chuỗi chuyển giao quyền lực vội vã. Phó Tổng thống Trần Văn Hương lên nắm quyền theo quy định hiến pháp. Tuy nhiên, nội các mới không thể xoay chuyển tình thế tuyệt vọng. Các nỗ lực tìm kiếm giải pháp ngừng bắn hay thương lượng chính trị đều đi vào ngõ cụt. Bộ máy quyền lực Sài Gòn hoàn toàn tê liệt trước bước tiến thần tốc của đối phương.
4.1. Sự kiện Nguyễn Văn Thiệu từ chức và phản ứng chính trị
Tối ngày 21/4/1975, sau khi phòng tuyến Xuân Lộc bị chọc thủng, Nguyễn Văn Thiệu từ chức thông qua bài phát biểu truyền hình trực tiếp kéo dài hơn hai giờ đồng hồ. Ông công khai chỉ trích chính phủ Mỹ thất hứa và bỏ rơi đồng minh trong giờ phút sinh tử. Sự ra đi của người đứng đầu chính quyền tạo nên khoảng trống quyền lực nguy hiểm. Tinh thần của quân đội và các tầng lớp dân chúng sụp đổ hoàn toàn sau bài phát biểu. Các phe phái đối lập tại Sài Gòn tranh giành ảnh hưởng và yêu cầu thay đổi đường lối ngoại giao. Sau khi từ nhiệm vài ngày, ông Thiệu bí mật rời khỏi Sài Gòn trên một chuyến bay quân sự Mỹ. Sự kiện này đặt dấu chấm hết cho chế độ Đệ nhị Cộng hòa kéo dài gần một thập kỷ.
4.2. Thời kỳ cầm quyền ngắn ngủi của Tổng thống Trần Văn Hương
Sau khi tiếp quản vị trí nguyên thủ, Tổng thống Trần Văn Hương đứng trước bài toán chiến tranh không có lời giải. Ông cố gắng kêu gọi tinh thần đoàn kết quốc gia và duy trì trật tự xã hội. Tuy nhiên, chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam kiên quyết từ chối thương lượng với chính quyền Trần Văn Hương. Mặt trận quân sự ngày càng áp sát cửa ngõ Sài Gòn từ năm hướng. Nhận thấy không thể kiểm soát tình hình và chịu áp lực từ các nhóm chính trị, Tổng thống Trần Văn Hương quyết định trao lại quyền lực cho Quốc hội. Thời gian cầm quyền kéo dài đúng một tuần lễ chỉ là bước đệm chuyển giao trong một cấu trúc chính quyền đang sụp đổ không thể cứu vãn.
V. Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện
Ngày 28/4/1975, quyền lực được trao cho Tướng Dương Văn Minh với hy vọng đạt được một thỏa hiệp chính trị. Tuy nhiên, thời cơ đàm phán đã hoàn toàn trôi qua khi thế trận chiến trường đã ngã ngũ. Quân Giải phóng siết chặt vòng vây xung quanh thủ đô Sài Gòn. Các cửa ngõ tiến vào trung tâm thành phố lần lượt bị đánh chiếm nhanh chóng. Tổng thống Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện vào trưa ngày 30/4/1975. Mệnh lệnh ngừng bắn được phát đi trên làn sóng phát thanh quốc gia. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, chấm dứt hoàn toàn cuộc chiến tranh kéo dài hơn 20 năm tại Việt Nam.
5.1. Nỗ lực thương lượng bất thành của Tổng thống Dương Văn Minh
Chiều ngày 28/4/1975, lễ nhậm chức diễn ra trong bầu không khí ảm đạm tại Dinh Độc Lập. Tổng thống Dương Văn Minh đưa ra thông điệp hòa giải và đề nghị đàm phán ngừng bắn ngay lập tức. Tuy nhiên, đây là ảo tưởng chính trị trong bối cảnh quân sự đã hoàn toàn nghiêng về đối phương. Cùng ngày hôm đó, phi đội máy bay A-37 của Quân Giải phóng ném bom sân bay Tân Sơn Nhất, phá hủy hoàn toàn đường băng. Vòng vây năm cánh quân khép chặt khiến mọi phương án ngoại giao trở nên vô nghĩa. Các cơ quan đầu não của chính quyền Sài Gòn tê liệt hoàn toàn. Toàn bộ nội các mới chỉ tồn tại trên danh nghĩa trong chưa đầy 48 giờ đồng hồ.
5.2. Tuyên bố đầu hàng vô điều kiện 30 4 và chấm dứt chiến tranh
Sáng ngày 30/4/1975, xe tăng của Quân Giải phóng tiến thẳng vào trung tâm thành phố Sài Gòn. Lúc 10 giờ 30 phút, Tổng thống Dương Văn Minh cùng các thành viên nội các có mặt tại Dinh Độc Lập. Ông được đưa sang Đài Phát thanh Sài Gòn để đọc thông điệp chính thức. Tuyên bố đầu hàng vô điều kiện 30/4 được phát sóng trực tiếp tới toàn thể quân đội và chính quyền Sài Gòn. Mệnh lệnh yêu cầu toàn bộ binh sĩ buông súng và bàn giao chính quyền cho Chính phủ Cách mạng lâm thời. Lời tuyên bố này chính thức khép lại trang sử của chế độ Việt Nam Cộng hòa, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước.
Mục lục chi tiết luận án
Tải xuống file đầy đủ để xem toàn bộ nội dung
Tải đầy đủ (228 trang)Trích đoạn nội dung luận án
Tải xuống để đọc toàn bộTRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ - KHOA NGỮ VĂN VÀ LỊCH SỬ KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG “GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC – GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VÀ SỰ TIẾP NỐI TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM” Lâm Đồng, tháng 4/2025 TUYÊN BỐ MIỄN TRỪ TRÁCH NHIỆM 1. Trường Đại học Đà Lạt (Khoa Lý luận Chính trị, Khoa Ngữ văn và Lịch sử), Ban tổ chức/biên tập Hội thảo không chịu trách nhiệm về bất kỳ chi phí hoặc thiệt hại nào cho dù trực tiếp hay gián tiếp, có liên quan tới hoặc là hậu quả của việc sử dụng hoặc không sử dụng được các nội dung xuất bản trong Kỷ yếu này, bởi bất cứ bên nào, hoặc liên quan đến các sai sót, vi phạm bản quyền, hay những vi phạm tương tự khác của tác giả các bài tham luận được xuất bản trong Kỷ yếu. Tác giả và đồng/nhóm tác giả bài tham luận có trách nhiệm tuân thủ đạo đức nghiên cứu và công bố công trình khoa học; chịu trách nhiệm cá nhân về nội dung của bài tham luận, sự chính xác và tính liêm chính học thuật của nội dung ấy (ví dụ, tất cả các trích dẫn trong bài tham luận đã được dẫn nguồn đầy đủ và đúng quy định; các dữ liệu, kết quả phân tích là trung thực và không bị ngụy tạo hoặc chỉnh sửa). Nội dung của các bài tham luận trong Kỷ yếu thể hiện quan điểm cá nhân (nếu có) của tác giả và đồng/nhóm tác giả (nếu có) và không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Đà Lạt (Khoa Lý luận Chính trị, Khoa Ngữ văn và Lịch sử), Ban tổ chức/biên tập Hội thảo.
BAN TỔ CHỨC STT Họ và tên Chức vụ/Đơn vị Nhiệm vụ 1 TS. Lê Minh Chiến Hiệu trưởng Trưởng ban 2 PGS. Nguyễn Tất Thắng Phó Hiệu trưởng P. Trưởng ban Trưởng Phòng, 3 TS.
Nguyễn Văn Ngọc Ủy viên TT Phòng QLKH – HTQT 4 TS. Đinh Thị Hoàng Phương Trưởng Khoa, Khoa LLCT Ủy viên Phó Trưởng Khoa, 5 TS. Trần Thị Bảo Giang Ủy viên Khoa NV và LS (PT) BAN NỘI DUNG STT Họ và tên Chức vụ/Đơn vị Nhiệm vụ 1 PGS. Nguyễn Tất Thắng Phó Hiệu trưởng Trưởng ban 2 TS.
Đinh Thị Hoàng Phương Trưởng Khoa, Khoa LLCT P. Trưởng ban Phó Trưởng Khoa, 3 TS. Lê Xuân Hưng P. Trưởng ban Khoa NV và LS Trưởng ngành LSVN, 4 PGS.
Bùi Văn Hùng Ủy viên Khoa NV và LS 5 PGS. Nguyễn Sỹ Họa GVCC, Học viện Lục quân Ủy viên Chủ nhiệm BM Triết học, 6 TS. Hoàng Ngọc Sơn Ủy viên Học viện Lục quân Trưởng BM Việt Nam học, 7 TS. Lê Thị Nhuấn Ủy viên Khoa Quốc tế học Trưởng BM Lịch sử, Khoa 8 TS.
Nguyễn Văn Bắc Ủy viên NV và LS P. Trưởng BM LSĐCSVN 9 ThS. Trần Thị Thúy Nga và TT Hồ Chí Minh, Ủy viên Khoa LLCT 10 ThS. Trần Thị Ái Vân GVC, Khoa LLCT Ủy viên TK BAN THƯ KÝ STT Họ và tên Chức vụ/Đơn vị Nhiệm vụ 1 TS.
Phạm Hữu Doanh GV, Khoa LLCT Trưởng ban 2 ThS. Nguyễn Thị Ngọc Thảo GV, Khoa NV và LS Ủy viên 3 ThS. Nguyễn Hoàng Mai CV, Khoa LLCT Ủy viên TK BAN HẬU CẦN STT Họ và tên Chức vụ/Đơn vị Nhiệm vụ 1 ThS. Nguyễn Hoàng Mai CV, Khoa LLCT Trưởng ban 2 ThS.
Hồ Ngọc Châu GV, Khoa LLCT Ủy viên 3 ThS. Đinh Quang Trung GV, Khoa LLCT Ủy viên 4 Bà Hoàng Thị Huyền CV, Thư viện Ủy viên 5 ThS. Nguyễn Vũ Kỳ Phong CV, Phòng TC&TT Ủy viên CV, Phòng QLKH – 6 Ông Đoàn Trọng Thanh Sơn Ủy viên HTQT LỜI GIỚI THIỆU Công cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là biểu hiện chân lý thiêng liêng, cao cả của dân tộc Việt Nam đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, ý chí thống nhất Tổ quốc của nhân dân cả nước không bao giờ lay chuyển”, “Đồng bào Nam Bộ là dân nước Việt Nam. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi”; là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam thời đại mới; là thắng lợi của ý chí thống nhất non sông và khát vọng hòa bình của nhân dân Việt Nam; là thắng lợi của bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam và thể hiện tinh thần, sức mạnh đại đoàn kết vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc.
Nhằm tạo điều kiện, môi trường để đội ngũ cán bộ, giảng viên và các nhà khoa học giao lưu, trao đổi học thuật, nâng cao nhận thức về giá trị lịch sử, ý nghĩa, tầm vóc thời đại của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà của dân tộc Việt Nam và sự tiếp nối trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; Đồng thời nâng cao khả năng nhận diện, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch xuyên tạc cuộc đấu chính nghĩa và truyền thống anh hùng cách mạng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam. Qua đó, góp phần rèn luyện, giáo dục lý tưởng cách mạng cho cán bộ, đảng viên, giảng viên, sinh viên. Trường Đại học Đà Lạt (Khoa Lý luận Chính trị, Khoa Ngữ văn và Lịch sử phối hợp) tổ chức Hội thảo khoa học “Giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước - giá trị lịch sử và sự tiếp nối trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Nội dung Hội thảo tập trung vào 02 nhóm chủ đề chính sau: 1.
Giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước – sự kiện, giá trị, khát vọng; 2. Sự tiếp nối trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay. Ban Tổ chức đã nhận, phản biện và chọn đăng kỷ yếu 21 tham luận đến từ các cơ quan nghiên cứu, cơ sở đào tạo, các đơn vị trong và ngoài Trường. Từ những nghiên cứu này, các vấn đề liên quan đến công cuộc kháng chiến chống Mỹ, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước - giá trị lịch sử và sự tiếp nối trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam đã được khai thác, phân tích, đánh giá và nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau, thể hiện được sự quan tâm, nghiên cứu công phu và tâm huyết của Quý tác giả/nhóm tác giả.
Trong điều kiện có hạn, Ban Tổ chức/biên tập và các tác giả/nhóm tác giả đã có nhiều cố gắng nhưng các tham luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế về nội dung lẫn hình thức. Kính mong nhận được sự góp ý chân thành từ các nhà khoa học để các tác giả/nhóm tác giả hoàn thiện vấn đề nghiên cứu. Ban Tổ chức trân trọng giới thiệu đến các Quý nhà khoa học và những người quan tâm. BAN TỔ CHỨC HỘI THẢO MỤC LỤC LỜI GIỚI THIỆU MỤC LỤC GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC - SỰ KIỆN, GIÁ TRỊ, KHÁT VỌNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG - NHÂN TỐ HÀNG ĐẦU QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (1954 - 1975) 10 Đại tá, PGS.
Nguyễn Sỹ Họa 10 ĐƯỜNG LỐI TIẾN HÀNH ĐỒNG THỜI HAI CHIẾN LƯỢC CÁCH MẠNG Ở HAI MIỀN CỦA ĐẢNG - GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VÀ THỜI ĐẠI 23 ThS. Phạm Thanh Thủy 23 NHỮNG QUYẾT SÁCH CHIẾN LƯỢC CỦA ĐẢNG SAU HIỆP ĐỊNH GIƠNEVƠ ĐẾN ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN NĂM 1975 35 ThS. Nguyễn Thái Hòa 35 TINH THẦN ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN NĂM 1975 47 ThS. Nguyễn Thị Xuân Quỳnh 47 VAI TRÒ CỦA CÁC QUÂN ĐOÀN CHỦ LỰC TRONG CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MÙA XUÂN 1975 - Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ GIÁ TRỊ HIỆN THỰC 59 ThS.
Lê Thị Thu Hằng 59 BUÔN MA THUỘT - TRẬN ĐÁNH THEN CHỐT GÓP PHẦN LÀM NÊN THẮNG LỢI CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG 1975 71 ThS. Nguyễn Thị Hồng 71 NHỮNG NHÂN TỐ QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI CHIẾN DỊCH TÂY NGUYÊN - CHIẾN DỊCH MỞ MÀN CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY XUÂN 1975 80 TS. Đinh Thị Hoàng Phương 80 PHẢN ỨNG CỦA CHÍNH QUYỀN VIỆT NAM CỘNG HÒA TRƯỚC CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY MÙA XUÂN 1975 QUA TÀI LIỆU LƯU TRỮ 87 TS. Nguyễn Thị Hà Giang 87 VAI TRÒ CỦA HẬU PHƯƠNG MIỀN BẮC TRONG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ VÀ Ý NGHĨA CỦA NÓ ĐỐI VỚI SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY 100 Đại tá, PGS.
Phạm Hồng Phi 100 VAI TRÒ CỦA CHIẾN SĨ TÌNH BÁO TRONG ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN NĂM 1975 111 TS. Phạm Hữu Doanh 111 NHÂN DÂN VĨNH LINH TỈNH QUẢNG TRỊ TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC 122 ThS. Đinh Quang Trung 122 SỰ TIẾP NỐI TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM Ý NGHĨA CHIẾN THẮNG 30/4/1975 - THẮNG LỢI VĨ ĐẠI CỦA DÂN TỘC 135 ThS. Hồ Ngọc Châu 135 TẦM VÓC, Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN NĂM 1975 141 TS.
Ngô Thành Vinh 141 BÁO CHÍ QUỐC TẾ NÓI VỀ ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN NĂM 1975 151 ThS. Thái Ngọc Như Quỳnh 151 TÁC ĐỘNG CỦA ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975 ĐẾN KHU VỰC ĐÔNG NAM Á 159 ThS. Trần Thị Thúy Nga 159 CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC LỊCH SỬ NGÀY CHIẾN THẮNG 30/4/1975 167 ThS. Dương Thị Hậu 167 ĐẤU TRANH PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CÔNG CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC, GIÁ TRỊ VÀ Ý NGHĨA SỰ KIỆN 30-4-1975 178 ThS.
Nguyễn Cao Siêng* - ThS. Nguyễn Thị Thùy Oanh 178 LÂM ĐỒNG TRONG SỰ NGHIỆP CHỐNG MỸ VÀ CÔNG CUỘC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN TỈNH NHÀ HIỆN NAY 191 ThS. Trần Thị Ái Vân 191 THANH NIÊN VIỆT NAM TIẾP NỐI, PHÁT HUY GIÁ TRỊ ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN 1975 TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY 199 Trung tá, TS. Hoàng Ngọc Sơn 199 GIÁO DỤC VAI TRÒ, Ý NGHĨA LỊCH SỬ VÀ TẦM VÓC THỜI ĐẠI CỦA ĐẠI THẮNG MÙA XUÂN NĂM 1975 CHO SINH VIÊN HIỆN NAY 211 ThS.
Trương Minh Hoài 211 VAI TRÒ SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT TRONG LAN TỎA GIÁ TRỊ LỊCH SỬ SỰ KIỆN GIẢI PHÓNG LÂM ĐỒNG MÙA XUÂN NĂM 1975 219 ThS. Nguyễn Thị Ngọc Thảo 219 GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC - SỰ KIỆN, GIÁ TRỊ, KHÁT VỌNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG - NHÂN TỐ HÀNG ĐẦU QUYẾT ĐỊNH THẮNG LỢI CỦA CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (1954 - 1975) Đại tá, PGS. Nguyễn Sỹ Họa Khoa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh - Học viện Lục quân nguyen.
Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ
Trích dẫn luận án này
Phản ứng chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước cuộc tổng tiến công 1975 (2025) [Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Đà Lạt]. LuanAn.net. https://luanan.net/lich-su/lich-su-viet-nam/phuong-an-cua-chinh-quyen-viet-nam-cong-hoa-truoc-cuoc-tong-tien-cong-1975
Câu hỏi thường gặp
Luận án "Phản ứng chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước cuộc tổng tiến công 1975" nghiên cứu về vấn đề gì?
Phản ứng của chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước Tổng tiến công Mậu Thân 1975 qua phân tích chiến lược và quyết định chính trị giai đoạn quan trọng.
Luận án "Phản ứng chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước cuộc tổng tiến công 1975" được bảo vệ tại trường nào?
Luận án này được bảo vệ tại Trường Đại học Đà Lạt. Năm bảo vệ: 2025.
Luận án "Phản ứng chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước cuộc tổng tiến công 1975" thuộc chuyên ngành gì?
Luận án "Phản ứng chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước cuộc tổng tiến công 1975" thuộc chuyên ngành Lý luận chính trị, Lịch sử. Danh mục: Lịch Sử Việt Nam.
Luận án "Phản ứng chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước cuộc tổng tiến công 1975" có bao nhiêu trang?
Luận án "Phản ứng chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước cuộc tổng tiến công 1975" có 228 trang. Bạn có thể xem trước một phần tài liệu ngay trên trang web trước khi tải về.
Cách tải luận án "Phản ứng chính quyền Việt Nam Cộng hòa trước cuộc tổng tiến công 1975" về máy như thế nào?
Để tải luận án về máy, bạn nhấn nút "Tải xuống ngay" trên trang này, sau đó hoàn tất thanh toán phí lưu trữ. File sẽ được tải xuống ngay sau khi thanh toán thành công. Hỗ trợ qua Zalo: 0559 297 239.