Tổng quan nghiên cứu

Năm 1972, địa bàn miền Nam ghi nhận hơn 1.000.000 đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống, phân bố chủ yếu thành hai ngữ hệ lớn gồm nhóm Môn – Khmer với khoảng 550.000 người và nhóm Malayo – Polynésien với khoảng 450.000 người, cùng khoảng 100.000 đồng bào các sắc tộc miền Bắc di cư năm 1954 và 70.000 người Chăm. Sau cuộc đảo chính lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm năm 1963, chính quyền Việt Nam Cộng hòa rơi vào cuộc khủng hoảng đối nội trầm trọng kéo dài qua thời kỳ Quân quản từ năm 1964 đến 1967. Nhằm giành lại thế chủ động trên chiến trường và kiểm soát địa bàn rừng núi hiểm trở tại Vùng III chiến thuật, chính quyền Nguyễn Văn Thiệu trong giai đoạn 1967 – 1975 đã đẩy mạnh việc ban hành các quy chế riêng biệt nhằm lôi kéo và quân sự hóa đồng bào các dân tộc thiểu số.

Luận văn tập trung làm rõ mục tiêu, nội dung và quá trình triển khai chính sách quân sự của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với đồng bào các dân tộc thiểu số tại khu vực Đông Nam Bộ. Phạm vi nghiên cứu bao quát không gian hành chính gồm Đô thành Sài Gòn và 12 tỉnh lân cận gồm Gia Định, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Long, Phước Long, Phước Thành, Hậu Nghĩa, Biên Hòa, Long Khánh, Phước Tuy, Bình Tuy và Long An trong khung thời gian từ khi ban hành Hiến pháp ngày 01/04/1967 đến ngày giải phóng miền Nam 30/04/1975. Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học sâu sắc khi phân tích khối dữ liệu quản lý hơn 85.721 nhân khẩu sắc tộc tại 4 tỉnh trọng điểm, bóc trần bản chất của các chương trình viện trợ quân sự và chiến lược bình định nông thôn của đối phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết chủ nghĩa thực dân mới nhằm luận giải chiến lược của Hoa Kỳ và chính quyền Sài Gòn trong việc sử dụng viện trợ quân sự để can thiệp gián tiếp, biến lực lượng bản địa thành công cụ phục vụ chiến tranh. Kết hợp với đó là lý thuyết xung đột tộc người và nhân học chính trị nhằm phân tích cấu trúc xã hội truyền thống, vai trò của già làng và luật tục trong mối tương quan với các chính sách kiểm soát hành chính.

Hệ thống khái niệm nòng cốt được xây dựng đồng bộ bao gồm: Chính sách Thượng vụ, Lực lượng Dân sự Chiến đấu (CIDG), Động viên tại chỗ và Khu Dinh điền. Khung phân tích tập trung làm rõ mối liên hệ giữa các biện pháp nâng đỡ bề ngoài với mục tiêu kiểm soát an ninh quốc phòng thực tế trên địa bàn cư trú của hơn 60 bộ tộc lớn nhỏ.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu chính của đề tài được khai thác từ các phông tài liệu lưu trữ gốc tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II, bao gồm Phông Phủ Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa và Phông Bộ Phát triển Sắc tộc, nổi bật như Hồ sơ số 3031 và Hồ sơ số 29659. Tác giả kết hợp phân tích các báo cáo định kỳ của Nha Phát triển Sắc tộc Vùng III chiến thuật và hệ thống văn bản pháp quy ban hành trong giai đoạn 1967 – 1975.

Phương pháp nghiên cứu chủ đạo gồm phương pháp lịch sử và phương pháp logic, kết hợp kỹ thuật so sánh lịch sử và phân tích định lượng. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 85.721 cư dân sắc tộc được thống kê tại 4 tỉnh trọng điểm Đông Nam Bộ cùng 10 văn bản quy phạm pháp luật quân sự then chốt. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích theo phân tầng địa bàn chiến thuật giúp phản ánh chính xác cấu trúc xã hội. Việc lựa chọn phương pháp phân tích này giúp tái hiện khách quan tiến trình lịch sử, loại bỏ định kiến và làm rõ sự chuyển biến chính sách qua từng thời kỳ cầm quyền.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, chính quyền Sài Gòn đã triển khai chương trình quân sự hóa sâu rộng thông qua chính sách Động viên tại chỗ. Toàn quốc ghi nhận 91.859 đoàn viên Nhân dân Tự vệ sắc tộc; riêng giai đoạn 1972 đến ngày 31/03/1973, Bộ Phát triển Sắc tộc đã phối hợp cùng Bộ Quốc phòng xét duyệt và cấp 14.498 thẻ Động viên tại chỗ cho thanh niên các sắc tộc, đồng thời giải quyết hợp lệ quân dịch thường niên cho khoảng 20.000 trường hợp.

Thứ hai, mức độ tập trung dân số sắc tộc gắn liền với mức độ kiểm soát quân sự tại Vùng III chiến thuật. Số liệu tháng 11/1969 cho thấy tỉnh Long Khánh quản lý 32.748 người, trong đó dân tộc Nùng chiếm 63,0% với 20.624 người, người Châu Ro chiếm 24,5% với 8.014 người, người Châu Mạ chiếm 6,7% với 2.193 người. Tỉnh Phước Long quản lý 26.109 người với 98,0% là người S'tiêng (25.589 người). Tỉnh Bình Long quản lý 20.352 người, trong đó người S'tiêng chiếm 59,1% với 12.026 người.

Thứ ba, sự hình thành các lực lượng bán quân sự đặc thù do cố vấn quân sự Hoa Kỳ trực tiếp điều hành. Mạng lưới Lực lượng Dân sự Chiến đấu (CIDG) đã tuyển mộ hơn 36.000 tay súng bản địa tại 200 buôn làng để thực hiện nhiệm vụ thám báo rừng núi. Bên cạnh đó, chính quyền tận dụng 45.000 quân nhân gốc Nùng từ Sư đoàn 5 di cư để thành lập các đơn vị bảo vệ đầu não tại Đô thành Sài Gòn.

Thứ tư, chính quyền thực hiện chính sách đãi ngộ vật chất đi đôi với kiểm soát gắt gao. Nguyễn Văn Thiệu cho xây dựng 738 khu gia binh, bổ sung 100.000 căn nhà mới sau năm 1970 và chi trả 157 triệu đồng tiền cứu trợ tử sĩ trong năm 1971 nhằm mua chuộc lòng trung thành của quân nhân sắc tộc.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản của việc thay đổi chính sách từ thời Ngô Đình Diệm (1955 – 1963) sang thời Nguyễn Văn Thiệu (1967 – 1975) bắt nguồn từ sự phá sản của chính sách Dân tộc hóa cưỡng bức. Việc nâng cấp Phủ Đặc ủy Thượng vụ thành Bộ Phát triển Sắc tộc thông qua Sắc luật 197-SL/PTST ngày 22/12/1969 chỉ là biện pháp xoa dịu mâu thuẫn xã hội nhằm phục vụ chiến lược Chiến tranh cục bộ và Việt Nam hóa chiến tranh của Hoa Kỳ, vốn tiêu tốn chi phí lên đến 29 tỷ USD vào năm 1969.

Toàn bộ hệ thống dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua bảng phân bố nhân khẩu tộc người theo đơn vị hành chính và biểu đồ cột so sánh số lượng thẻ Động viên tại chỗ được cấp phát giữa các năm 1968, 1972 và 1974. Kết quả nghiên cứu khẳng định chính sách quân sự của chính quyền Việt Nam Cộng hòa thực chất là biến đồng bào thiểu số thành bình phong ngăn chặn cách mạng, nhưng đã hoàn toàn thất bại trước tinh thần đoàn kết chống ngoại xâm của nhân dân Đông Nam Bộ.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tiến hành số hóa 100% hồ sơ, tài liệu lưu trữ về lịch sử phong trào đấu tranh của đồng bào các dân tộc thiểu số miền Đông Nam Bộ giai đoạn 1954 – 1975 trong khung thời gian 2025 – 2027 do Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II phối hợp với Viện Lịch sử Quân sự chủ trì thực hiện.

Thứ hai, nâng cao tỷ lệ cán bộ lãnh đạo là người dân tộc thiểu số tại các cơ quan quản lý nhà nước cấp huyện và xã thuộc vùng đồng bào dân tộc đạt mức từ 15% đến 20% trước năm 2030 do Ủy ban Dân tộc cùng Ủy ban nhân dân các tỉnh Bình Phước, Đồng Nai và Tây Ninh triển khai.

Thứ ba, đầu tư phục dựng 100% các lễ hội truyền thống tiêu biểu và bảo tồn không gian văn hóa cồng chiêng, nhà sàn của người S'tiêng, Châu Ro, Chăm trong giai đoạn 2026 – 2028 do Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh Đông Nam Bộ phụ trách.

Thứ tư, đưa 100% nội dung giáo dục lịch sử kháng chiến của đồng bào các dân tộc thiểu số địa phương vào chương trình giảng dạy ngoại khóa tại các trường trung học phổ thông trên địa bàn từ năm học 2026 – 2027 do Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh miền Đông Nam Bộ tổ chức.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Lịch sử Việt Nam, Dân tộc học và Lịch sử Quân sự có thể khai thác hệ thống tư liệu gốc gồm hơn 20 hồ sơ lưu trữ đặc biệt phục vụ công tác giảng dạy và phát triển các đề tài khoa học chuyên sâu.

Nhóm chuyên viên hoạch định chính sách tại Ủy ban Dân tộc và các cơ quan thuộc Quân khu 7 có thể tham khảo bài học lịch sử về quản trị sắc tộc để xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc tại 12 tỉnh thành phía Nam.

Nhóm cán bộ quản lý văn hóa và bảo tồn di sản tại các tỉnh Bình Phước, Đồng Nai, Bình Dương, Tây Ninh có thể sử dụng các thống kê về cơ cấu 13 nhóm dân cư để xây dựng đề án bảo tồn văn hóa tộc người bản địa.

Nhóm sinh viên chuyên ngành Xã hội học, Nhân học và Đông phương học có thể sử dụng luận văn như tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp tiếp cận cấu trúc buôn làng và luật tục truyền thống.

Câu hỏi thường gặp

Bản chất của chính sách quân sự do chính quyền Sài Gòn thực hiện đối với đồng bào thiểu số miền Đông là gì? Bản chất là việc thực hiện chiến thuật chia để trị nhằm biến đồng bào thành lực lượng ngăn chặn cách mạng từ xa. Chính quyền đã huy động 91.859 tự vệ sắc tộc và hơn 36.000 tay súng dân sự chiến đấu nhằm bảo vệ các cơ quan đầu não tại Sài Gòn.

Chính sách Động viên tại chỗ theo Sắc luật 033/67 được triển khai như thế nào? Thanh niên sắc tộc được phiên chế trực tiếp vào lực lượng Nhân dân Tự vệ và Địa phương quân ngay tại buôn làng. Trong giai đoạn 1972 đến ngày 31/03/1973, cơ quan chức năng đã cấp 14.498 thẻ động viên và duyệt 20.000 hồ sơ hợp lệ quân dịch hàng năm.

Các sắc tộc nào có quy mô dân số lớn nhất tại miền Đông Nam Bộ thời kỳ 1967 – 1975? Theo phúc trình năm 1969, người S'tiêng chiếm số lượng lớn nhất với trên 41.828 người phân bố tại Phước Long và Bình Long, tiếp đến là người Nùng với 20.624 người tại Long Khánh và người Châu Ro với 8.014 người tại Xuân Lộc.

Nguồn viện trợ của Hoa Kỳ đóng vai trò như thế nào trong việc thực thi chính sách sắc tộc? Hoa Kỳ cung cấp ngân sách quân sự gia tăng từ 4,6 tỷ USD năm 1965 lên 29 tỷ USD năm 1969, hỗ trợ xây dựng 738 khu gia binh và 100.000 căn nhà sau năm 1970 để phục vụ các chương trình tuyển mộ và kiểm soát buôn làng.

Vì sao chính sách quân sự của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với đồng bào thiểu số bị phá sản? Chính sách thất bại vì đi ngược lại quyền tự do và quyền sở hữu đất đai truyền thống của đồng bào. Khối đại đoàn kết giữa các dân tộc bản địa với lực lượng kháng chiến đã đánh bại mọi mưu đồ chia rẽ trước ngày 30/04/1975.

Kết luận

  • Luận văn tái hiện toàn diện bức tranh lịch sử về chính sách quân sự của chính quyền Việt Nam Cộng hòa đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại Đông Nam Bộ giai đoạn 1967 – 1975.
  • Nghiên cứu vạch trần thủ đoạn mị dân núp bóng các quy chế nâng đỡ theo Sắc luật 033/67 và hoạt động của Bộ Phát triển Sắc tộc ban hành năm 1969.
  • Luận văn cung cấp số liệu xác thực về việc kiểm soát 85.721 nhân khẩu sắc tộc tại 4 tỉnh trọng điểm cùng 91.859 đoàn viên tự vệ.
  • Tác phẩm khẳng định tinh thần đoàn kết bền chặt của đồng bào S'tiêng, Châu Ro, Mạ, Nùng cùng lực lượng cách mạng làm nên chiến thắng mùa xuân năm 1975.
  • Đề tài bổ sung nguồn tài liệu lưu trữ quý giá từ Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II phục vụ công tác nghiên cứu lịch sử dân tộc.

Công trình tạo tiền đề khoa học vững chắc cho việc tiếp tục mở rộng các nghiên cứu chuyên sâu về lịch sử kháng chiến miền Đông Nam Bộ trong giai đoạn 2025 – 2030. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và học viên quan tâm có thể khai thác toàn văn công trình nghiên cứu để tiếp cận đầy đủ hệ thống tư liệu lịch sử chuẩn xác.